Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Về chiều dài cung răng là khoảng cách từ điểm giữa của hai răng cửa giữa vuông góc với đường nối đỉnh múi ngoài gần răng 6. Ông đưa ra một số kết luận:

* Về chiều dài cung răng là khoảng cách từ điểm giữa của hai răng cửa giữa vuông góc với đường nối đỉnh múi ngoài gần răng 6. Ông đưa ra một số kết luận:

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



- Từ 6 tới 12 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng 1,0 mm, nhưng

chiều dài cung răng hàm dưới giảm 1,12 mm.

- Từ 12 đến 13,5 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng nhẹ khoảng

0,2mm sau đó chiều dài giảm đến 17-18 tuổi.

Ơng cho rằng có 3 ngun nhân chính làm giảm chiều dài cung răng:

Việc đóng kín các khe hở tiếp cận của các răng sau, khuynh hướng nghiêng

sau của các răng(đặc biệt ở hàm trên) và sự mòn sinh lý theo tuổi ở mặt nhai

của tất cả các răng.

Carter [7] nghiên cứu dọc về sự thay đổi về sự thay đổi chiều dài và

chiều rộng cung răng ở người trưởng thành. Trong nhóm chuẩn (khơng điều

trị chỉnh hình) gồm 27 nam và 26 nữ lứa tuổi 14 - 16 và 47 ở Michigan.

Nhóm 14 tuổi gồm có 22 nữ, 24 nam; Nhóm 16 tuổi và nhóm 47 tuổi có cùng

số đối tượng, gồm có 26 nữ, 27 nam cho mỗi nhóm. Những đối tượng này

đều chưa được can thiệp về điều trị chỉnh hình. Mục tiêu của nghiên cứu là

xác định tính ổn định của kích thước cung răng ở bệnh nhân có điều trị chỉnh

hình, ơng đã kết luận việc chỉnh nha phải được điều trị duy trì sau tuổi thanh

niên (18 tuổi) vì sau thời gian này kích thước cung răng ổn định trong suốt

thời gian trưởng thành (kết luận này rút ra từ so sánh kết quả với nghiên cứu

trên mẫu không chỉnh hình). Sự bất thường của răng và cung răng xảy ra ở

hàm dưới nhiều hơn hàm trên, có sự thay đổi kích thước sau tuổi trưởng

thành của hàm dưới nhiều hơn hàm trên, khác nhau giữa nam và nữ. Ông đã

thống kê những nhận xét của các bác sỹ chỉnh hình răng mặt: Đa số bệnh

nhân than phiền các răng không đều ở hàm dưới nhiều hơn hàm trên, nhưng

tác giả khơng nêu ngun nhân gây ra tình trạng đó mà chỉ giải thích là bất kỳ

sự giảm kích thước nào của hàm cũng nhỏ hơn 3 mm, và đó là một trong

những ngun nhân làm gia tăng tình trạng khơng đều của cung răng. Qua

phân tích so sánh bằng phép thống kê “T-test” và “Anova”, ông đã kết luận

kích thước chiều rộng, chiều dài và chu vi cung răng đều giảm ít hơn 3 mm từ



19



14 đến 47 tuổi. Giai đoạn từ 18 đến 50 tuổi các kích thước cung răng giảm

nhiều hơn và giảm có ý nghĩa thống kê so với giai đoạn từ 14 đến 18 tuổi.

Tác giả đưa ra lý do giảm kích thước cung răng là do răng xoay, răng di gần

và mòn răng.

Như vậy, nhiều nghiên cứu dọc và cắt ngang của các tác giảLewis,

Barrow, Carter… đều có chung nhận xét:

Kích thước chiều rộng cung răng đo trên mốc răng nanh, răng hàm nhỏ

thứ hai, răng hàm lớn thứ nhất có sự tăng trưởng nhiều trước tuổi dậy thì;

tăng trưởng chậm ở tuổi dậy thì và ổn định ở 16 - 18 tuổi đối với nữ, 18 - 20

tuổi đối với nam.

Kích thước chiều dài cung răng theo chiều trước sau được đo theo mốc

các răng trên cho thấy có sự giảm dần từ khi xuất hiện răng vĩnh viễn trên cung

hàm và ổn định ở 17 - 18 tuổi đối với nữ và 19 - 20 tuổi đối với nam. Giảm chiều

dài cung răng chủ yếu là do răng có xu hướng di gần, xoay răng, răng bị mòn…

hàm trên giảm khoảng 1,3 mm và hàm dưới khoảng 1,6 mm.

1.4. Phân tích khoảng

Việc định lượng mức độ chen chúc răng trên cung hàm là rất quan

trọng vì việc lập kế hoạch điều trị thay đổi tùy theo mức độ trầm trọng của

tình trạng chen chúc răng. Việc định lượng mức độ chen chúc hay thưa răng

bằng cách sử dụng mẫu hàm thạch cao gọi là phân tích khoảng.

Tình trạng chen chúc răng thường là hậu quả của việc thiếu chỗ cho

răng mọc, nên phương pháp phân tích khoảng chủ yếu phân tích khoảng trong

nội bộ cung răng. Phân tích khoảng đòi hỏi ta phải so sánh khoảng hiện có

của cung hàm, hay chính là chu vi của cung hàm, với khoảng cần thiết để có

thể sắp xếp các răng đều và ngay ngắn trên cung răng. Để việc phân tích

khoảng phù hợp thì cần đảm bảo các yêu cầu sau:



20



- Các răng cửa phải ở đúng vị trí theo chiều trước sau. Điều này có

nghĩa là các răng cửa phải ở đúng vị trí tối ưu của nó, khơng cần kéo lui hay

nới rộng ra trước. Trên thực tế tình trạng hơ hay lùi răng là khá phổ biến trên

những bệnh nhân có nhu cầu điều trị chỉnh nha. Để đánh giá khoảng trong

những trường hợp hô hay lùi răng cửa, các nghiên cứu cho thấy kéo lùi răng

cửa 1mm sẽ tương đương với chen chúc 1mm và ngược lại khi nới răng cửa

ra trước 1mm sẽ tương đương với tạo khoảng trống 1mm. Như vậy có thể

xem hơ hay lùi răng cửa là một trạng thái khác của chen chúc răng. Do vậy

nếu muốn đánh giá chính xác khoảng cần thiết cho sự sắp xếp răng thì cần

phải đánh giá mức độ hô răng cửa cần phải cải thiện hoặc mức độ nới rộng

răng cửa ra trước để giảm khoảng cần thiết cho việc sắp xếp các răng.

- Khoảng hiện có không bị thay đổi bởi sự tăng trưởng. Khi xương hàm

tăng trưởng khoảng sẽ gia tăng, trong khi kích thước răngkhơng gia tăng sẽ

ảnh hưởng tới phân tích khoảng. Ở trẻ đang tăng trưởng, nếu khuôn mặt cân

xứng bộ răng rất ít hoặc khơng có khuynh hướng di lệch so với xương hàm

trong quá trình tăng trưởng. Nhưng ở những trẻ bất hài hòa về xương hàm,

các răng có thể di gần hay di xa. Vì thế phân tích khoảng kém chính xác ở

những trẻ có bất thường về xương (hạng II, hạng III, mặt dài, mặt ngắn…) so

với những trẻ có khn mặt cân đối. Ngay cả ở những trẻ có gương mặt cân

đối, vị trí các răng cối vĩnh viễn cũng thay đổi khi các răng hàm sữa được

thay thế bởi các răng hàm nhỏ vĩnh viễn. Vì thế nếu phân tích khoảng ở bộ

răng hỗn hợp thì ta cần điều chỉnh các thông số đo khoảng hiện có để có thể

phản ánh được sự di lệch mà ta có thể tiên lượng được của các răng hàm lớn.

Do vậy kết quả phân tích khoảng sẽ khơng đảm bảo chính xác ở những trẻ

còn sự tăng trưởng.

- Tất cả các răng hiện có phải có kích thước bình thường. Thực tế lâm

sàng kích thước răng thay đổi so với bình thường là khá phổ biến, nhất là các



21



răng cửa bên hàm trên. Vấn đề này cần phải được lưu ý khi thực hiện việc

phân tích khoảng.

Phân tích khoảng có thể tiến hành thủ cơng bằng cách đo đạc trực tiếp

trên mẫu hàm hoặc sử dụng phần mềm phân tích mẫu hàm 3D sau khi quét

ảnh 3D của mẫu hàm vào trong phần mềm. Nguyên tắc của phân tích khoảng

dù là đo đạc thủ công hay sử dụng phần mềm đều là đo đạc kích thước từng

răng, rồi so sánh với kích thước tồn bộ cung răng tính từ mặt gần của răng

hàm lớn thứ nhất bên này đến mặt gần răng hàm lớn thứ nhất bên đối diện,

ngang qua bờ cắn các răng cửa để đánh giá thiếu khoảng hay dư khoảng.

Với kĩ thuật phân tích khoảng thủ cơng, đầu tiên là đo kích thước cung

răng có thể đo bằng 2 cách như sau:

- Chia cung răng thành từng đoạn, xem những cung tròn này gần đúng

là các đoạn thẳng và đo kích thước các đoạn thẳng đó.



Hình 1.9. Cách đo chu vi cung hàm bằng phương pháp chia đoạn

- Uốn một sợi dây theo đường cắn rồi uốn thẳng nó ra để đo.

Trong 2 cách trên thì cách thứ nhất được tin cậy hơn khi làm thủ cơng

vì có độ tin cậy cao.

Bước thứ 2 là đo kích thước thực của các răng để sắp xếp các răng ngay

ngắn. Việc này được thực hiện bằng cách đo kích thước gần xa của các răng,

rồi cộng các kích thước của các răng riêng lẻ lại với nhau. Nếu tổng kích

thước các răng trên cung hàm lớn hơn kích thước (chu vi) cung răng hiện hữu



22



thì đây là tình trạng thiếu khoảng (chen chúc răng) và nếu nhỏ hơn thì là tình

trạng dư khoảng.

Carey (1958) [24], Huckaba (1964) [25] sử dụng phương pháp đo bằng

dây cung với đường kính 0,5 mm để xác định chu vi cung hàm trong phân

tích khoảng. Sợi dây cung được uốn cong đi qua rìa cắn các răng cửa và trũng

giữa của các răng phía sau. Chu vi cung hàm được xác định từ mặt gần RHL

thứ nhất bên này tới mặt gần RHL đối diện. Kích thước gần xa của từng răng

được đo từ các điểm tiếp xúc gần và xa. Sau đó cộng các kích thước của từng

răng lại với nhau. Từ tổng kích thước các răng và chu vi cung răng sẽ tính

được chênh lệch khoảng hay mức độ chen chúc răng.

Johal (1995) [26], Battagel (1996) [27] sử dụng kính hiển vi điện tử

trong phân tích khoảng. Kích thước gần xa của các răng được xác định trực

tiếp bằng cách sử dụng kính hiển vi phức hợp. Kích thước của cung răng lại

được xác định một cách gián tiếp là lấy tổng kích thước gần xa của các răng

trừ đi các khoảng răng trùng lặp nhau giữa 2 răng kế cận. Như vậy với

phương pháp này thì mức độ chen chúc răng đã được đo trực tiếp từ những

khoảng răng trùng lặp nhau giữa các răng kế cận nhau.

1.5. Các phương pháp đo đạc và phân tích cung răng và khớp cắn

Mẫu hàm thạch cao được xem là một công cụ quan trọng trong điều trị

chỉnh nha cũng như trong nghiên cứu; chúng giúp cho việc phân tích kích

thước và hình dạng răng, mức độ thẳng hàng và xoay của răng, chiều rộng,

chiều dài, hình dạng và mức độ đối xứng của cung răng cũng như quan hệ

khớp. Cócác loại phương tiện chủ yếu sau để nghiên cứu trên mẫu hàm:

1.5.1. Đo trên mẫu hàm số hóa

Từ năm 1970, đã có nhiều phát triển về mặt kỹ thuật trong việc phân tích

mẫu hàm như việc áp dụng các kỹ thuật tái tạo hình ảnh bằng vi tính và thu

thập trực tiếp dữ liệu hai chiều. Van Der Linden (1972), một bác sĩ chỉnh hình

răng mặt thuộc Đại học Nymegen - Hà Lan, đã xây dựng một phương pháp



23



cho phép thu thập các dữ liệu trong không gian ba chiều và khảo sát mẫu hàm

trên và dưới như một khối thống nhất [28].

Vào khoảng đầu những năm 2000 phần mềm OrthoCad ra đời. Phầnmềm

này có thể thu và trình bày mẫu hàm nghiên cứu trên máy tính dưới dạng ảnh

khơng gian ba chiều. Về mặt lâm sàng, mẫu hàm kỹ thuậtsố là một giải pháp

hấp dẫn vì thuận lợi trong việc lưu trữ, do vậy giúp cho bác sỹ chỉnh nha cả ở

góc độ quản lý hồ sơ lẫn góc độ tiếp thị dịch vụ. Độ chính xác của mẫu

hàmkỹ thuật số là chấp nhận được về mặt lâm sàng và nếu tính tới các ưu

điểmcũng như khả năng cải tiến của công cụ OrthoCad cũng như các công cụ

tương tự trong tương lai (ví dụ như khả năng tự động xác định điểm đo, tự

động xác định các kích thước hay đánh giá hiệu quả điều trị) thì mẫu

hàmkỹthuật số có thể trở thành cơng cụ sử dụng hàng ngày.



Hình 1.10. Mẫu hàm số hóa OrthoCAD



1.5.2. Đo bằng máy chụp cắt lớp điện toán

Yan B. và cộng sự [29] đã sử dụng máy chụp cắt lớp điện tốn (CT

Scanner)số hóa 20 mẫu răng thành ảnh ba chiều và dùng phần mềm máy tính



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Về chiều dài cung răng là khoảng cách từ điểm giữa của hai răng cửa giữa vuông góc với đường nối đỉnh múi ngoài gần răng 6. Ông đưa ra một số kết luận:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×