Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.30: Mô hìn0h hồi quy các yếu tố liên quan đến kết cục xấu của bệnh nhân sau 3 tháng

Bảng 3.30: Mô hìn0h hồi quy các yếu tố liên quan đến kết cục xấu của bệnh nhân sau 3 tháng

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



Cơng trình nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá giá trị của

thang điểm DRAGON trong dự đoán kết quả điều trị nhồi máu não cấp bằng

thuốc tiêu huyết khối alteplase đường tĩnh mạch. Dựa trên nhũng kết quả thu

được từ 187 bệnh nhân nhồi máu não cấp được điều trị thuốc tiêu huyết khối

alteplase đường tĩnh mạch tại Khoa Cấp cứu bệnh viện Bạch Mai từ tháng

1/2015 đến tháng 6/2017, chúng tơi có những bàn luận sau đây.

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG.

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu.

4.1.1.1.Tuổi và giới.

Tuổi

Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 64.9 ± 11.2, trong đó

tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân có kết cục tốt là 62.2 ± 11, tuổi trung

bình của nhóm bệnh nhân co kết cục xấu là 68.4 ± 12, sự khác biệt về tuổi

giũa nhóm bệnh nhân có kết cục tốt và nhóm có kết cục xấu là khác nhau có ý

nghĩa thống kê (p< 0.05). Kết quả nghiên cứu của chúng tối tương tự kết quả

nghiên cứu của Hacke W [2], Zhang X [6]: bệnh nhân trẻ tuổi nhất là 32, bệnh

nhân cao tuổi nhất là 88 tuổi. Nhóm bệnh nhân trẻ tuổi bị đột quỵ não thường

liên quan đến rung nhĩ hoặc các bệnh lý van tim.

Tuổi là một yếu tố dự đoán kết cục lâm sàng của bệnh nhân đột quỵ thiếu

máu cục bộ sau điều trị thuốc tiêu huyết khối. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng

tuổi càng cao làm tăng nguy cơ chảy máu nội sọ và làm giảm khả năng hồi

phục chức năng sau điều trị thuốc tiêu huyết khối. Theo Whiteley [24] tuổi

cao làm tăng nguy cơ chảy máu nội sọ, nghiên cứu của Sylaja [25] ở nhóm

bệnh nhân ≥80 tuổi và nhóm bệnh nhân nhỏ hơn 80 tuổi cho thấy tỷ lệ chảy

máu nội sọ ở 2 nhóm là như nhau, tỷ lệ bệnh nhân có kết cục tốt về mặt chức

năng ở nhóm bệnh nhân < 80 tuổi là cao hơn so với nhóm bệnh nhân ≥ 80 tuổi

(p< 0.01). Nghiên cứu của Mishra [27] và Ford [61] cho thấy những bệnh



56



nhân nhồi máu não cấp ≥ 80 tuổi vẫn được hưởng lợi từ điều tri thuốc

alteplase đường tĩnh mach.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 14 bệnh nhân trên 80 tuổi được điều

trị thuốc tiêu huyết khối, trong đó có 4 bệnh nhân có kết quả tốt về hồi phục

chức năng (mRS:0-2) chiếm tỷ lệ 24.5%, có 1 bệnh nhân có biến chứng chảy

máu nội sọ chiếm 7.14%. Như vậy bệnh nhân tuổi cao vẫn được hưởng lợi từ

điều trị thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch.

Giới

Tỷ lệ nam trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nữ giới, gấp

1.5 lần. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Toni [62] 39.8% và Nakagawara

[63]. Tỷ lệ nam cao hơn nữ gặp ở trong hầu hết các nghiên cứu.

4.1.1.2.Tiền sử bệnh tật và các yếu tố nguy cơ

Tiền sử bệnh tật của bệnh nhân rất quan trọng, nó liên quan đến chỉ định

dùng thuốc tiêu huyết khối và có thể là yếu tố tiên lượng kết cục của bệnh nhân.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 57.5% bệnh nhân có tiền

sử tăng huyết áp, kết quả này tương tự nghiên cứu của Strbian [3], phù hợp

với kết quả của các nghiên cứu khác nhau tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử tăng

huyết áp dao động từ 36.4% trong nghiên cứu của Mai Duy Tôn [20] đến

64.9% trong nghiên cứu của Eva [64].

Tiền sử đái tháo đường, chiếm tỷ lệ 15.1% tương tự kết quả của Strbian

[3], rối loạn lipid máu , rung nhĩ, tiền sử đột quỵ gặp với tỷ lệ tương ứng

29.2%, 15.1%, 4.3% tỷ lệ này khác với kết quả của Zhang [6] tương ứng là

39.1%, 27.7% 12.7%. Rung nhĩ là một trong những nguyên nhân thường gặp

ở những bệnh nhân nhồi máu não điều trị thuốc tiêu huyết khối alteplase

đường tĩnh mạch. Trong nghiên cứu của Kimura tỷ lệ bệnh nhân rung nhĩ

chiếm 59.8%, trong nghiên cứu của Eva [64] là 53.2%. Trong nghiên cứu của

chúng tơi bệnh nhân rung nhĩ có kết cục tốt chiếm tỷ lệ cao 57.1% kết quả này



57



tương tự như nghiên cứu của Sharma [65] cho thấy những bệnh nhân rung nhĩ

thường có kết cục tốt hơn ở thời điểm sau 3 tháng.

4.1.1.3.Thời gian khỏi phát- điều trị thuốc tiêu huyết khối.

Thời gian là yếu tố rất quan trọng để quyết định việc điều trị thuốc tiêu

huyết khối, thời gian lý tưởng nhất để điều trị là trong vòng 180,6 phút.Sau

nghiên cứu của Hacke [2] chỉ định điều trị thuốc tiêu huyết khối đã được mở

rộng lên 4,5 giờ. Trong nghiên cứu của chúng tối chỉ định dùng thuốc tiêu

huyết khối được thực hiện trong vòng 4,5 giờ từ khi khỏi phát đột quỵ. Kết

quả cho thấy thời gian điều trị trung bình là 180,6 ± 49.5 phút, tương tự

nghiên cứu của Zhang [6] là 179 phút, cao hơn so với nghiên cứu của Strabian

là 118 phút [3] và Eva [64] là 141 phút . Thời gian khởi phát đột quỵ- điều trị

thuốc tiêu huyết khối trong nghiên cứu của chúng tôi cao là do thời gian khởi

phát – nhập viện muộn, nguyên nhân có thể là do người dân chưa hiểu biết

nhiều về đột quỵ do vậy thường nhập viện muộn.

Nhiều nghiên cứu cho thấyhiệu quả điều trị tăng lên khi thời gian khởi

phát đột quỵ- đến khi điều trị thuốc tiêu huyết khối alteplase đường tĩnh mạch

ngắn. Kimura và cộng sự 66 cho thấy sự tái thông mạch máu sớm phụ thuộc

vào thời gian này. Những bệnh nhân được dùng thuốc tiêu sợi huyết trước 130

phút kể từ khi khởi phát đột quỵ não sẽ có kết quả tái thơng mạch máu tốt hơn

so với dùng sau 130 phút. Kết quả tái thông mạch máu cũng tương quan với

kết cục tốt sau 3 tháng.

4.1.1.4.Các dấu hiệu sinh tồn khi nhập viện.

Huyết áp là một trong những dấu hiệu sinh tồn quan trọng để cân nhắc

dùng thuốc tiêu huyết khối, huyết áp tâm thu phải được kiểm soát < 185,

huyết áp tâm thu < 110 trước khi dùng thuốc để giảm nguy cơ chảy máu nội

sọ. Trong nghiên cứu của chúng tôi huyết áp tâm thu trung bình lúc nhập viện



58



là 151.9 ± 23.9 mmHg, chỉ số huyết áp tâm trương trung bình lúc nhập viện

là83.6 ± 12.1 mmHg. Những bệnh nhân có huyết áp tâm trương ≥ 185

hoặc/và huyết áp tâm thu ≥ 110 mmHg đều được kiểm soát về mục tiêu điều

trị trước và trong quá trình điều trị.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với kết quả của Hacke [2] và

Anderson [67] có trị số huyết huyết tâm thu áp trung bình 150 ± 20 mmHg, trị

số huyết áp tâm trương trung bình 85 ± 13 mmHg. Tuy nhiên kết quả của

chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Nguyên T.H [68] có trị số huyết áp

tâm thu trung bình 139 ± 23 mmHg, trị số huyết áp tâm trương trung bình là

83 ± 12 mmHg.

Nhiều nghiên cứu cho thấy tăng huyết áp là một yếu tố độc lập liên quan

đến kết quả điều trị, tăng huyết áp làm tăng nguy cơ chảy máu nội sọ sau

dùng thuốc tiêu huyết khối alteplase đường tĩnh mạch [69], [70].

4.1.1.5. Điểm NIHSS trung bình khi nhập viện.

Điểm NIHSS đánh giá mức độ lâm sàng của đột quỵ, là yếu tố độc lập

liên quan đến kết cục của bệnh nhân. Trong nghiên cứu của chúng tơi điểm

NIHSS trung bình lúc nhập viện là 11.7 ± 5.1, NIHSS trung bình ở nhóm kết

cục xấu là 16.7 ± 6.7 cao hơn NIHSS trung bình ở nhóm kết cục tốt có NIHSS

trung bình 9.6 ± 3.7 với p <0.01. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Toni

[62] là 12 ± 4.1 và của Mai Duy Tôn [20] là 12.3 ± 4.2, cao hơn kết quả của

Strbian [3] có NIHSS trung bình 9 ± 3.5, của Anderson có NIHSS trung bình

là 8 ± 2.6.

Theo Wahlgren [44] điểm NIHSS cao lúc nhập viện thường liên quan

đến tắc mạch lớn, liên quan đến kết cục không tốt và tăng nguy cơ chảy máu

nội sọ sau điều trị thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch. Trong nghiên cứu

của Mirjam [43] với NIHSS ≥ 9 điểm trong vòng 3 giờ đầu từ khi khởi phát



59



đột quỵ thì nguy cơ tắc mạch lớn là 80.7%, trong thời gian từ 3- 6h nguy cơ

tắc mạch lớn là 77%.

4.1.1.6. Mức độ tàn phế của bệnh nhân trước khi bị đột quỵ

Chỉ những bệnh nhân nhồi máu não cấp có điểm mRS trước khi bị đột

quỵ ≤ 2 mới cân nhắc điều trị thuốc tiêu huyết khối, mục tiêu của điều trị là

giúp bệnh nhân có thể hồi phục chức năng vận động như trước khi bị đột quỵ,

trong nghiên cứu của chúng tơi có 5 bệnh nhân có điểm mRS:1-2 trước khi bị

đột quỵ được điều trị thuốc tiêu huyết khối chiếm tỷ lệ 2.67% thấp hơn so với

nghiên cứu của Strbian [3] là 6.2% và Zhang [6] là 4.3%, tỷ lệ bệnh nhân có

điểm mRS 1-2 trước khi bị đột quỵ trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn

trong các nghiên cứu của Strbian và Zhang có thể là do cỡ mẫu của chúng tôi

nhỏ hơn nhiều.

4.1.1.7. Điểm DRAGON trước điều trị thuốc tiêu huyết khối

Điểm DRAGON trung bình trước điều trị thuốc tiêu huyết khối là 4.3 ±

1.7, ở nhóm có kết cục tốt là 3.4 ± 1.2, nhóm có kết cục xấu là 6.3 ± 1.5, điểm

DRAGON ở nhóm có kết cục xấu cao hơn nhóm có kết cục tốt (p< 0.01).

4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng và hình ảnh học

4.1.2.1. Chỉ số xét nghiệm đường máu tĩnh mạch và HbA1C.

Đường máu tĩnh mạch là một chỉ số phải làm trước khi điều trị thuốc tiêu

huyết khối vì liên quan đến chỉ định dùng thuốc. Trong nghiên cứu của chúng

tôi chỉ số đường máu tĩnh mạch trung bình là 7.89 ± 2.7 mmol/l, chỉ số

HbA1C trung bình 5.78 ± 1.1. Kết quả này tương tự kết quả của Ygamuchi

[73] có chỉ số đường máu trung bình là 7.85 ± 2.68 mmol/l, kết quả của chúng

tôi cao hơn của Mai Duy Tôn [20] có đường máu tĩnh mạch trung bình là 7.57

± 1.61 mmol/l.



60



Khi phân tích chỉ số HbA1C ở những bệnh nhân nghiên cứu thì thấy chỉ

số HbA1C tăng > 6.5% thường gặp ở những bệnh nhân chưa được chẩn đoán

đai tháo đường trước đó, nguyên nhân có thể là do bệnh nhân chưa được chẩn

đốn đái tháo đường nên khơng được kiểm sốt đường máu trước đó, điều này

cũng phản ánh tình trạng nhiều bệnh nhân bị đái tháo đường trong cộng đồng

nhưng chưa được chẩn đoán và điều trị.

Trong các nghiên cứu khác nhau cho thấy tình trạng tăng đường máu lúc

nhập viện là yếu tố độc lập liên quan đến kết cục hồi phục chức năng của

bệnh nhân. Theo Kimura và công sự [68] tăng đường máu lúc nhập viện ở

bệnh nhân nhồi máu não cấp được điều trị thuốc alteplase đường tĩnh mạch

thường liên quan đến tiến triển thể tích ổ nhồi máu não và thường có kết cục

không tốt về sau. Theo Poppey [36] tăng đường máu lúc nhập viện > 8

mmol/l làm tăng nguy chảy máu nội sọ giảm tỷ lệ bệnh nhân có kết cục tốt

sau 90 ngày điều trị thuốc tiêu huyết khối.

4.1.2.2. Đặc điểm hình ảnh học

Trong nghiên cứu của chúng tối có 65 bệnh nhân có dấu hiệu nhồi máu

não sớm trên phim CLVT chiếm 34.7% , 50 bệnh nhân có dấu hiệu tăng tỷ

trọng động mạch não chiếm 26.7% tổng số bệnh nhân. Kết quả của chúng tôi

tương tự với kết quả của Strbian [3] có 32.3% bệnh nhân có dấu hiệu nhồi

máu não sớm, 26.6% bệnh nhân có dấu hiệu tăng tỷ trọng động mạch não. Kết

quả của chúng tôi cao hơn so với kết quả của Zhang [6] và Eva [64].

Trong đó dấu hiệu xóa rãnh vỏ não gặp 5.3%, dấu hiệu giảm đậm độ

dưới vỏ gặp 18.7 %, dấu hiệu xóa dải băng thùy đảo và xóa vùng chất xám

chất trắng gặp 16%, kết quả của chúng tối khác với kết quả của Mai Duy Tôn

[20] dấu hiệu xóa rãnh vỏ não gặp 13.9%, dấu hiệu giảm đậm dưới vỏ gặp

8.33%, dấuhiệu xóa dải băng thùy đảo và dấu hiệu xáo vùng chất xám và chất

trắng gặp 5.56%, sự khác biệt này có thể là do thời gian khởi phát đột quỵ-



61



nhập viện của chúng tôi dài hơn, của chúng tơi trung bình là 120 ± 43.5 phút,

của Mai Duy Tơn trung bình là 82.11 ± 32.3 phút.

Đây là những dấu hiệu nhồi máu não sớm, trong nghiên cứu của chúng

tối các dấu hiệu này thấy ở nhũng bệnh nhân có tắc mạch lớn: động mạch não

giữa hoặc động mạch cảnh trong. Khi có các dấu hiệu này thì tăng nguy cơ

chảy máu chuyển dạng, giảm khả năng có một kết cục tốt sau dùng thuốc tiêu

huyết khối đường tĩnh mạch, tuy nhiên đây không phải là chống chỉ định của

việc dung thuốc tiêu huyết khối, những bệnh nhân có các dấu hiệu này vẫn

được hưởng lợi khi điều trị thuốc tiêu huyết khối alteplase [42].

4.1.2.3.Kết quả siêu âm tim

Trong nghiên cứu cứu của chúng tơi có 26.2% bệnh nhân có bệnh lý van

tim và hoặc kết hợp với suy tim, trong đó có 15.1% bệnh nhân có rung nhĩ

trên điện tâm đồ, như vậy bệnh nhân có bệnh lý van tim có thể vẫn có điện

tâm đồ bình thường. Những bệnh nhân có bệnh lý van tim có nguy cơ cao với

huyết khối trong buồng tim, điều này có thể dẫn đến tình trạng tắc mạch nói

chung và tắc mạch não nói riêng khi huyết khối từ tim đi vào động mạch. Việc

siêu âm tim giúp đánh giá tình trạng bất thường của tim và van tim đặc biệt là

phát hiện huyết khối trong tim trái và tình trạng sùi van tim từ đó sẽ có các

biện pháp dự phòng huyết khối buồng tim hoặc ngăn chặn tình trạng huyết

khối từ tim trái đi vào động mạch. Trong nghiên cứu của chúng tôi không gặp

bệnh nhân nào có huyết khối buồng tim hoặc tình trạng sùi van tim.Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với tỷ lệ bệnh lý van tim và suy tim

trong nghiên cứu của Mai Duy Tôn [20] là 31.8% nhưng cao hơn so với tỷ lệ

bệnh lý van tim và suy tim trong nghiên cứu của Toyoda và cộng sự [74] là

8.7%, và cao hơn trong nghiên cứu của Nakagawara có tỷ lệ suy tim và bệnh

lý van tim là 9.1% [63]. Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh lý van tim và/hoặc suy tim



62



trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của các tác giả

nước ngoài có lẽ là do tỷ lệ bệnh nhân bị thấp tim ở nước ta cao hơn.

4.1.2.4.Kết quả siêu âm Doppler mạch cảnh ngoài sọ sau 24 giờ

Tất các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều được siêu âm

đánh giá hệ thông mạch cảnh sau điều trị thuốc tiêu huyết khối. Có 15 bệnh

nhân chiếm tỷ lệ 8.02% bị tắc mạch cảnh hồn tồn, 11.7% bệnh nhân có

mảng xơ vữa gây hẹp và 56.7 % bệnh nhân có mảng xơ vữa khơng gây hẹp,

23.53% bệnh nhân có hệ thống mạch cảnh bình thường, như vậy tỷ lệ bệnh

nhân có bệnh lý xơ vữa mạch cảnh chiếm tỷ lệ cao, đây là một trong những

nguyên nhân chính gây nhồi máu não theo phân loại TOAST [8]. Trong

nghiên cứu của chúng tơi có 21 bệnh nhân có tắc động mạch cảnh trong được

điều trị thuốc tiêu huyết khối như vậy sau khi điều trị thì có 6/21 chiếm 28.5%

bệnh nhân tắc động mạch cảnh trong là có tái thơng mạch một phần hoặc

hoàn toàn kết quả này tương tự nghiên cứu của Mokin [72] và Mazighi [73]

có tỷ lệ tái thơng là 30%. Như vậy những bệnh nhân có tắc mạch cảnh khi

điều trị thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch tỷ lệ tái thông mạch không

cao, xu hướng hiện nay là can thiệp lấy huyết khối nội mạch bằng dụng cụ cơ

học [74], tuy nhiên trong điều kiện nước ta hiện nay khơng phải cơ sở y tế nào

cũng có thể can thiệp nội mạch được mà kỹ thuật này chỉ được thực hiện ở

một số bệnh viên lớn do vậy điều trị tiêu huyết khối đường tĩnh mạch vẫn là

điều trị ưu tiên ở những cơ sở chưa có can thiệp nơi mạch.

Siêu âm hệ thống mạch cảnh ngồi sọ giúp phát hiện những bất thường

của hệ thống mạch cảnh, đặc biệt xơ vữa mạch cảnh để từ đó có các biện pháp

điều trị dự phòng tắc mạch cảnh hoặc mảng xơ vưa bong ra gây huyết khối

mạch não. Tùy theo mức độ tổn thương của mạch cảnh mà biện pháp điều trị

có thể là dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu, thuốc ổn định mảnh xơ vữa



63



hoặc đặt stent mạch cảnh chủ động khi mảnh xơ vữa nhiều gây hẹp lòng

mạch.

4.2. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

4.2.1. Thay đổi điểm NIHSS ở các thời điểm

Điểm NIHSS phản ánh mức độ nặng của bệnh nhân đột quỵ, sự cải thiện điểm

NIHSS trong 24 giờ đầu sau điều tri thuốc tiêu huyết khối là yếu tố dự đoán

sự cải thiện chức năng thần kinh. Nghiên cứu của chúng tơi có điểm NIHSS

trung bình lúc nhập viện là 11.7 ± 5.1, sau 24 giờ điều trị thuốc tiêu huyết

khối điểm NIHSS trung bình là 7.1 ± 4.2, như vậy đã có sự cải thiện điểm

NIHSS trung bình trên 4 điểm sau điều trị. Kết quả của chúng tơi có 128 bệnh

nhân chiếm 68.5% bệnh nhân có giảm điểm NIHSS ≥ 4 điểm, 14 bệnh nhân

có tăng điểm NIHSS ≥ 4 điểm trong 24 giờ sau điều trị. Theo Muresan [75]

những bệnh nhân có giảm điểm NIHSS sau 1 giờ hoặc 24 giờ sau điều trị

thuốc tiêu huyết khối thường có kết cục lâm sàng sau 3 tháng tốt hơn nhiều so

với những bệnh nhân khơng có giảm điểm NIHSS trong 24 giờ. Kết quả của

chúng tơi thấy có 72.8% bệnh nhân có giảm điểm NIHSS ≥ 4 điểm có kết cục

tốt sau 3 tháng, tất cả những bệnh nhân có tăng điểm NIHSS ≥ 4 điểm đều có

kết cục khơng tốt sau 3 tháng. Như vậy sự giảm điểm NIHSS trong 24 giờ sau

điều trị thuốc tiêu huyết khối là yếu tố liên quan đến kết cục tốt của bệnh nhân

sau 3 tháng.

4.2.2.Kết cục của bệnh nhân sau 3 tháng

Tất cả các bệnh nhân đều được đánh giá khả năng hồi phục chức năng

sau 3 tháng, kết quả nghiên cứu của chúng tối thấy: 60.4% bệnh nhân có kết

cục hồi phục tốt về chức năng (mRS: 0-2), 24.3% bệnh nhân có kết cục hồi

học chức năng ở mức độ trung bình và 15.5% có kết cục xấu về chức năng.

Kết quả này tương tự nghiên cứu của Anderson [67]: có 62.7% bệnh nhân có

kết cục tốt vê chức năng (MRS :0-2), 23.4% bệnh nhân có kết cục hồi phục



64



chức năng ở mức độ trung bình, 13.9% bệnh nhân có kết cục xấu trong đó

bệnh nhân có xuất huyết chuyển dạng chiếm 4.2%, bệnh nhân tử vong trong 3

tháng chiếm 8%.Kết quả nghiên cứu chúng tôi cũng tương tự với kết quả của

Chao và cộng sự [76]: tỷ lệ bệnh nhân có kết cục tốt là 58.5%, tỷ lệ bệnh nhân

có kết cục xấu là 18.5%.Tỷ lệ xuất huyết chuyển dạng trong nghiên cứu của

chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đó có tỷ lệ chảy

máu nội sọ dao động từ 1.52% đến 5.8% [20], [21].So với kết quả nghiên cứu

của Mai Duy Tôn [20] tỷ lệ bệnh nhân có kết cục tốt của chúng tơi thấp hơn,

tỷ lệ bệnh nhân có kết cục xấu của chúng tơi cao hơn, kết quả của Mai Duy

Tơn có 65.15% bệnh nhân có kết cục tốt và 12% bệnh nhân có kết cục xấu, sự

khác nhau về kếtcục giữa nghiên cứu của chúng tôi và của Mai Duy Tôn là do

của sổ điều trị thuốc tiêu huyết khối khác nhau, của chúng tơi là trong vòng

4.5 giờ đầu, của Mai Duy Tôn là trong 3 giờ đầu.

4.2.3. Tương quan giữa điểm DRAGON với kết cục của bệnh

nhân sau 3 tháng.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy có sự tương quan tuyến tính

chặt chẽ giữa kết cục sau 3 tháng của bệnh nhân với điểm DRAGON lúc nhập

viện với β= 0.779, r= 0.705, điều này có nghĩa là khi điểm DRAGON tăng thì

điểm mRS cũng tăng, và điều này đồng nghĩa với kết cục của bệnh nhân sẽ

theo xu hướng xấu, và ngược lại khi điểm DRAGON tăng thì kết cục tốt của

bệnh nhân giảm. Cụ thể trong nghiên cứu của chúng tơi: Tỷ lệ bệnh nhân có

kết cục tốt là 100%, 95.8%, 86.8% và 0% tương ứng với các điểm DRAGON

0-1, 2,3 8-10 điểm,tỷ lệ bệnh nhân có kết cục xấu là 0%,2.6%, 66.5% và

100% tương ứng với các điểm DRAGON: 0-2, 3,8, 9-10. Như vậy sự tăng

điểm DRAGON sẽ làm tăng tỷ lệ kết cục không tốt.

Kết quả phân tích của chúng tơi cho thấy điểm DRAGON trung bình

của nhóm bệnh nhân có kết cục tốt và kết cuc xấu có sự khác biệt có ý nghĩa



65



(p< 0.05), ở nhóm có kết cục tốt là 3.4 ± 1.2, nhóm có kết cục xấu là 6.3 ±

1.5. Tất cả các bệnh nhân tử vong đều có điểm DRAGON trước điều trị thuốc

tiêu huyết khối ≥ 6 điểm, những bệnh nhân có xuất huyết nội sọ có điểm

DRAGON ≥ 5 như vậy nhóm bệnh nhân có kết cục tử vong và xuất huyết nội

sọ sau điều trị đều có điểm DRAGON cao, điều này phù hợp với kết quả phân

tích cho thấy có sự tương quan tuyến tính thuận giữa kết cục của bệnh nhân

với điểm DRAGON.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của

Strbian [3], Zhang [6], Eva [64]. Trong nghiên cứu của các tác giả này đều

thấy kết cục tốt của bệnh nhân giảm khi điểm DRAGON tăng và ngược lại kết

cục xấu của bệnh nân tăng khi điểm DRAGON tăng.

4.2.4. Diện tích dưới đường cong của thang điểm DRAGON.

- Kết của nghiên cứu của chúng tơi thấy sự hình thành diện tích dưới

đường cong của thang điểm DRAGON cho dự đốn kết cục tốt và xấu là khá

tốt. Cụ thể diện tích dưới đường cong AUC- ROC của thang điểm cho dự

đoán kết cục tốt là 0.85 (0.8- 0.91) với điểm cắt DRAGON = 4, với độ nhạy là

80.5%, độ đặc hiệu là 77%, giá trị dự đốn dương tính là 81.2%, giá trị dự

đốn âm tính 74.1%.

- Diện tích dưới đường cong AUC- ROC của thang điểm DRAGON cho

dự đoán kết cục xấu là 0.844 (0.78- 0.92) với điểm cắt DRAGON =6, độ nhạy

là 72.4%, độ đặc hiệu là 83.5%, giá trị dự đốn dương tính 44.4%, giá trị dự

đốn âm tính 94.3%

- Kết quả nghiên cứu của chúng tơi tương tự với kết quả của Strbian [3]

với diện tích dưới đường cong AUC- ROC là 0.84 cho kết cục tốt và 0.83 cho

kết cục xấu. Diện tích dưới đường cong cho dự đoán kết cục tốt và kết cục

xấu của thnag điểm DRAGON trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với

nghiên cứu của Zhang [6] có AUC-ROC cho dự đoán kết cục tốt 0.73 và cho

kết cục xấu là 0.75. Sự khác nhau này có thể là do đặc điểm lâm sàng và cận lâm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.30: Mô hìn0h hồi quy các yếu tố liên quan đến kết cục xấu của bệnh nhân sau 3 tháng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×