Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 3.4: So sánh sự tương đồng về thụ thể nội tiết và Her-2/neu giữa ung thư vú hai bên đồng thời và không đồng thời

Biểu đồ 3.4: So sánh sự tương đồng về thụ thể nội tiết và Her-2/neu giữa ung thư vú hai bên đồng thời và không đồng thời

Tải bản đầy đủ - 0trang

46



3.3. Đánh giá kết quả điều trị

3.3.1. Phương pháp điều trị

Bảng 3.20: Phương pháp điều trị ung thư vú hai bên



Phương pháp



Phẫu thuật

Xạ trị



Hóa chất



Ung thư vú hai bên



Ung thư vú hai bên

đồng thời



không đồng thời



Thứ nhất

n (%)



Thứ hai

n (%)



Thứ nhất

n (%)



Thứ hai

n (%)



Bảo tồn



1 (5,56)



1 (5,56)



0



0



MRM



17 (94,44)



17 (94,44)



14 (100)



14 (100)







9 (50)



3 (16,67)



10 (71,43)



1 (7,14)



Khơng



9 (50)



15 (83,33)



4 (28,57)



13 (92,86)







15 (83,33)



5 (35,71)



5 (35,71)



Khơng



3 (16,67)



9 (64,29)



9 (64,29)



Điều trị

nội tiết







14 (77,78)



6 (42,86)



9 (64,29)



Khơng



4 (22,22)



8 (57,14)



5 (35,71)



Điều trị







1 (5,56)



0



1 (7,14)



miễn dịch



Khơng



17 (94,44)



14 (100)



13 (92,86)



Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân đều được phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn biến đổi.

3.3.2. Đánh giá tái phát

3.3.2.1. Thời gian theo dõi

Bảng 3.21. Thời gian theo dõi

Min



Max



X ± SD



47



Thời gian theo dõi



7



28



14,12 ± 5,81



Nhận xét: Khoảng thời gian theo dõi trung bình là 14 tháng (7 – 28 tháng).

3.3.2.2. Tỷ lệ tái phát theo thời gian

Bảng 3.22: Tỷ lệ tái phát ung thư vú hai bên theo thời gian

Ung thư vú hai bên

đồng thời

n



Ung thư vú hai bên



< 6 tháng



0



0



6 – 12 tháng



0



0



12 – 24 tháng



1



2



24 – 36 tháng



0



0



Thời gian tái phát



khơng đồng thời

n



Nhận xét:

- Có 1 bệnh nhân ung thư vú hai bên đồng thời tái phát tại chỗ.

- Có 2 bệnh nhân ung thư vú hai bên không đồng thời tái phát di căn

xương và phổi.

3.3.2.3. Thời gian sống thêm không bệnh theo loại ung thư vú



48



Biểu đồ 3.5. Thời gian sống thêm không bệnh theo loại ung thư vú hai bên.

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt thời gian sống thêm không bệnh giữa ung

thư vú hai bên đồng thời và không đồng thời.



49



3.3.2.4. Thời gian sống thêm không bệnh theo tuổi (phát hiện ung thư vú thứ hai)



Biểu đồ 3.6. Thời gian sống thêm khơng bệnh theo nhóm tuổi

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian sống thêm

khơng bệnh theo nhóm tuổi.



50



3.3.2.5. Thời gian sống thêm khơng bệnh theo khoảng thời gian phát hiện ung

thư vú thứ hai



Biểu đồ 3.7. Thời gian sống thêm không bệnh theo khoảng thời gian phát

hiện ung thư vú thứ hai

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt về thời gian sống thêm không bệnh theo

khoảng thời gian phát hiện ung thư vú thứ hai.



51



3.3.2.6. Thời gian sống thêm khơng bệnh theo tình trạng hạch.



Biểu đồ 3.8. Thời gian sống thêm không bệnh theo tình trạng di căn hạch

Nhận xét: Khơng có sự khác biệt về thời gian sống thêm không bệnh theo tình

trạng di căn hạch.



52



3.3.2.7. Thời gian sống thêm khơng bệnh theo tình trạng ER ung thư vú

nguyên phát đầu tiên



Biểu đồ 3.9. Thời gian sống thêm khơng bệnh theo tình trạng ER ung thư

vú nguyên phát thứ nhất

Nhận xét: Không có sự khác biệt về thời gian sống thêm khơng bệnh theo tình

trạng ER ung thư vú nguyên phát đầu tiên.



53



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

Dựa vào khoảng thời gian giữa hai lần phát hiện ung thư vú, ung thư vú

hai bên được phân loại thành hai nhóm: ung thư vú hai bên đồng thời và ung

thư vú hai bên không đồng thời. Khoảng thời gian này thay đổi theo quan

niệm của từng tác giả, từ 1 tháng đến 5 năm. Trong nghiên cứu, chúng tôi sử

dụng mốc thời gian là 6 tháng.

Từ tháng 1/2013 đến tháng 7/2017, chúng tôi đã thu thập được 32 bệnh

nhân ung thư vú hai bên giai đoạn I, II trong đó có 18 bệnh nhân ung thư vú

hai bên đồng thời và 14 bệnh nhân ung thư vú hai bên không đồng thời.

4.1.1. Phân bố theo tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi mắc bệnh trung bình nhóm ung thư

vú hai bên đồng thời là 56,89 ± 9,25 tuổi, tất cả các bệnh nhân đều từ 44 tuổi trở

lên. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Chen và cộng sự khi

nghiên cứu trên 117 bệnh nhân ung thư vú hai bên đồng thời, tuổi trung bình là 53

tuổi, khơng có bệnh nhân nào dưới 30 tuổi, nhóm bệnh nhân trên 45 tuổi gấp 2,4

lần nhóm dưới 45 tuổi [76]. Kết quả này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu

của Vouto (58,4 tuổi), Intra (56 tuổi), Krakas (51 tuổi) [6], [20], [81].

So với nhóm ung thư vú hai bên đồng thời, tuổi mắc bệnh nhóm ung

thư vú hai bên không đồng thời trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn với

51,93 ± 10,52 tuổi, tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê.

Tuổi tại thời điểm chẩn đoán cũng là một yếu tố tiên lượng nguy cơ ung

thư vú đối bên. Nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy phụ nữ mắc ung thư vú từ

30 – 34 tuổi có nguy cơ ung thư vú đối bên cao hơn phụ nữ đã mãn kinh

[32].Trong nghiên cứu của chúng tơi, trong nhóm ung thư vú hai bên khơng

đồng thời, tuổi trung bình khi phát hiện ung thư vú nguyên phát thứ nhất là

44,07 ± 10,86 tuổi, trong đó có 6 bệnh nhân dưới 40 tuổi (42,9%), trẻ nhất là



54



30 tuổi. Trong nghiên cứu của Trần Văn Nghĩa trên 80 bệnh nhân ung thư vú

một bên giai đoạn I, II, IIIA tại bệnh viện K từ 6/2013 – 6/2014, tuổi trung

bình là 50 tuổi, trong đó có 15% bệnh nhân dưới 40 tuổi [82]. Tỷ lệ bệnh nhân

dưới 40 tuổi trong các nghiên cứu của các tác giả khác cũng có kết quả tương

tự như Nguyễn Nhật Tân (13,8%), Phùng Thị Huyền (11,1%), Nguyễn Thị

Sang (11,8%) [83], [84], [85]. Qua đây, có thể thấy tỷ lệ nhóm tuổi dưới 40

trong nhóm ung thư vú hai bên khơng đồng thời của chúng tơi cao hơn so với

nhóm bệnh nhân ung thư vú một bên và như vậy tuổi mắc ung thư vú càng trẻ

càng có nguy cơ cao ung thư vú đối bên.

4.1.2. Tiền sử gia đình

Tiền sử gia đình bị ung thư vú cũng là một yếu tố nguy cơ phát triển

ung thư vú bao gồm ung thư vú hai bên. Trong nghiên cứu loại bỏ phụ nữ ung

thư vú hai bên có đột biến BRCA1 hay BRCA2 của Reiner, phụ nữ có tiền sử

trong gia đình có người ung thư vú tăng nguy cơ ung thư vú đối bên, đặt biệt

ở phụ nữ trẻ tuổi [35]. Đặc biệt, phụ nữ được chẩn đoán ung thư vú lần đầu ở

tuổi ≤ 55 và có mẹ hay chị em gái mắc ung thư vú, nguy cơ ung thư vú hai

bên sau 10 năm là 15,6%, tăng 3 lần so với phụ nữ khơng có tiền sử gia đình

[35]. Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 4 bệnh nhân ung thư vú hai bên

khơng đồng thời (28,57%) có tiền sử mẹ hoặc chị em gái bị ung thư vú. Trong

khi đó, khơng có bệnh nhân nào trong nhóm ung thư vú hai bên đồng thời có

liên quan đến tiền sử gia đình bị ung thư vú. Tuy nhiên, do số lượng bệnh

nhân còn ít nên chúng tơi chưa thể rút ra được kết luận.

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.2.1. Đặc điểm lâm sàng

4.2.1.1. Khoảng thời gian phát hiện ung thư vú thứ hai

Khoảng thời gian giữa phát hiện ung thư vú thứ hai là một vấn đề luôn

được quan tâm trong ung thư vú hai bên. Nhiều tác giả mong đợi xác định khoảng

thời gian thường hay gặp nhất nhằm mục tiêu tiên lượng và theo dõi sau điều trị.

Tuy nhiên khoảng thời gian này rất dao động và thay đổi theo các nghiên cứu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 3.4: So sánh sự tương đồng về thụ thể nội tiết và Her-2/neu giữa ung thư vú hai bên đồng thời và không đồng thời

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×