Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Dẫn truyền chiều ngược: 78,95% bệnh nhân nhóm không triệu chứng có khả năng dẫn truyền ngược, con số này ở nhóm có triệu chứng là 100%; Trong số các bệnh nhân có dẫn truyền ngược, khả năng dẫn truyền của nhóm không triệu chứng tốt hơn so với nhóm có triệu

Dẫn truyền chiều ngược: 78,95% bệnh nhân nhóm không triệu chứng có khả năng dẫn truyền ngược, con số này ở nhóm có triệu chứng là 100%; Trong số các bệnh nhân có dẫn truyền ngược, khả năng dẫn truyền của nhóm không triệu chứng tốt hơn so với nhóm có triệu

Tải bản đầy đủ - 0trang

68



các bệnh nhân có dẫn truyền ngược, khả năng dẫn truyền của nhóm khơng

triệu chứng tốt hơn so với nhóm có triệu chứng. Tuy nhiên, khi đánh giá

chung khả năng dẫn truyền rất kém với điểm cắt chu kì kích thích thất là

140ck/phút thì tỉ lệ số bệnh nhân bị phân ly thất-nhĩ ở 2 nhóm là tương đương

(81,6% so với 84,2%).

3.3.5. Về đặc điểm điện sinh lý đường dẫn truyền phụ

Bảng 3.15: So sánh đặc điểm điện sinh lý đường dẫn truyền phụ của nhóm

khơng triệu chứng và nhóm có triệu chứng

Nhóm khơng

triệu chứng



Nhóm có

triệu chứng



p



TGCKKT gây blốc đường

phụ chiều xuôi(ms)



372,1 ±

137,6(n=38)



271,4 ±

57,0(n=96)



0,000



TGCKKT gây blốc đường

phụ chiều ngược(ms)



369,2±

93,4(n=25)



289,2 ±

97,8(n=96)



0,000



TGTHQ đường phụ chiều

xuôi(ms)



307,1 ±

68,4(n=34)



250,0 ±

54,0(n=96)



0,000



TGTHQ đường phụ chiều

ngược(ms)

Nhận xét:



321,6 ± 85,3

(n=25)



251,6 ±

80,9(n=96)



0,000



Đặc điểm ĐSL



Đặc điểm điện sinh lý của đường dẫn truyền phụ về TGCKKT gây blốc

dẫn truyền và TGTHQ đường phụ cả chiều xi và chiều ngược của nhóm

bệnh nhân không triệu chứng là dẫn truyền kém hơn so với nhóm có triệu

chứng. Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0.05.

Tỉ lệ số bệnh nhân có TGTHQ chiều xi <250ms của nhóm khơng

triệu chứng là 13,2%; con số này ở nhóm có triệu chứng là 73,5%. Sự khác

biệt rất có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

3.3.6. Về đặc điểm rối loạn nhịp tim do kích thích tim có

chương trình gây ra

Bảng 3.16: So sánh đặc điểm RLNT xảy ra khi kích thích tim



69



Nhóm khơng



Nhóm có



triệu chứng



triệu chứng



AVRT orthodromic



13,2%



47,9%



AVRT antidromic



2,6%



1%



Rung nhĩ ngắn



13,2%



8,4%



Rối loạn nhịp hỗn hợp



0,0%



31,2%



Khơng có rối loạn nhịp tim



71,1%



11,5%



Tổng



100,0%



100,0%



Đặc điểm ĐSL



Nhận xét:

Rối loạn nhịp tim xảy ra khi kích thích tim có chương trình ở nhóm

khơng triệu chứng thấp hơn hẳn so với nhóm có triệu chứng, có đến 71,1% số

bệnh nhân không triệu chứng không xảy ra rối loạn nhịp tim, con số này ở

nhóm có triệu chứng chỉ là 11,5%. Riêng tỉ lệ cơn nhịp nhanh vào lại nhĩ thất

chiều ngược (AVRT antidromic) ở nhóm khơng triệu chứng lại cao hơn một

chút so với nhóm có triệu chứng: 2,6% so với 1%.



70



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1.Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

-



Tuổi:

Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 43,11 ± 16,405 tuổi, cao nhất là



75 tuổi, thấp nhất là 14 tuổi.

Độ dao động về tuổi của các bệnh nhân nghiên cứu là rất lớn, tuổi trung

bình của các bệnh nhân cũng là khác biệt giữa các nghiên cứu khác: tuổi dao

động từ 7 đến 77 tuổi, trung bình 36 ±13 tuổi (ở nghiên cứu của Piccolo và

cộng sự năm 1986)[15-35]; tương tự nghiên cứu Velazquez-Rodriguez thì tuổi

trung bình 33±13 tuổi [36]). Nghiên cứu của Davenport: tuổi dao động từ 258 tuổi, trung bình 2 phân nhóm là 21,3 và 28,6 tuổi, tuy nhiên ở nghiên cứu

này tác giả lấy mẫu nghiên cứu là hồi cứu từ các dữ liệu của phi cơng Mỹ nên

đối tượng nghiên cứu đầu vào có khoảng tuổi rất trẻ, khơng đại diện cho dân

số nói chung.

Khi chia ra các nhóm tuổi, mẫu nghiên cứu của chúng tơi có số bệnh

nhân phân bố tương đối đồng đều ở các nhóm. Tỉ lệ bệnh nhân thuộc nhóm

thanh thiếu niên và trẻ em thấp hơn một chút so với nhóm bệnh nhân trung

niên và cao tuổi (23,7% so với 36,8% và 39,5%). Sự khác biệt này không đại

diện cho phân bố bệnh nhân ngồi cộng đồng, ngun nhân có lẽ do vấn đề

tiếp cận với các kì khám sức khỏe định kì hay các đợt khám sàng lọc của

nhóm bệnh nhân thanh thiếu niên và trẻ em là ít hơn. Mặt khác, đối tượng

thanh thiếu niên và trẻ em ít khi nhập viện khi khơng có triệu chứng của rối

loạn nhịp tim và họ cũng ít có các bệnh lý chuyên khoa khác là điều kiện để

được phát hiện tình cờ ĐTĐ dạng WPW khi tiếp cận dịch vụ y tế. \



71



-



Giới:

Tỉ lệ nam/nữ trong mẫu nghiên cứu là 58%/42%, tuy nhiên sự khác biệt



khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tương tự trong nhiều nghiên cứu khác, tỉ

lệ nam/nữ được chứng minh là như nhau: nghiên cứu Piccolo cũng trên 42

bệnh nhân không triệu chứng, tỉ lệ nam/nữ là 21/21[15]. Điều này cho thấy sự

phân bố ở 2 giới của các bệnh nhân có ĐTĐ dạng WPW khơng triệu chứng có

lẽ là như nhau. Điều này cũng giống với nhóm bệnh nhân WPW có triệu

chứng.

Tuy nhiên khi nghiên cứu về nguy cơ xuất hiện nhịp nhanh, nghiên cứu

của Obeyesekee lại cho thấy tỉ lệ xuất hiện cơn nhịp nhanh ở nữ thấp hơn

đáng kể so với ở nam giới (tỉ lệ khoảng 1/8)[14].

-



Nhịp tim:

Tất cả các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu lúc vào viện và trước thăm



dò điện sinh lý đều có nhịp xoang trên ĐTĐ. Nhịp tim trung bình là 78,73 ±

13,51 lần/phút, chậm nhất là 60 lần/phút, nhanh nhất là 120 lần/phút. Cụ thể,

có 96,4% bệnh nhân có nhịp tim là nhịp xoang, tần số trong giới hạn bình

thường 60-100ck/phút; chỉ có 1 bệnh nhân còn lại là nữ 34 tuổi có nhịp tim

trung bình của 3 lần đo là 120ck/phút, đây vẫn là nhịp xoang và có lẽ liên

quan đến yếu tố tâm lý.

- ĐTĐ 12 chuyển đạo bề mặt:

Nghiên cứu ĐTĐ 12 chuyển đạo bề mặt giúp chẩn đoán dạng WPW và

định hướng sơ bộ vị trí đường dẫn truyền phụ.

Tất cả 36 bệnh nhân WPW liên tục và 2 bệnh nhân WPW cách hồi khi

có dẫn truyền qua đường phụ đều thể hiện trên ĐTĐ với hình dạng rất điển

hình với PR ngắn, QRS rộng, sóng delta và biến đổi thứ phát của sóng tái cực.

Một số bệnh nhân có khoảng PR 118ms và độ rộng QRS 115ms là gần

như bình thường, sóng delta khó phát hiện. Đặc điểm này thường ở các bệnh

nhân có đường dẫn truyền phụ nằm ở thành bên vòng van hai lá, khoảng dẫn



72



truyền trong nhĩ dài và có thể có dẫn truyền qua đường phụ rất kém nên tâm

thất được khử cực sớmít.

Vị trí đường dẫn truyền phụ khi xác định sơ bộ qua dạng âm hay dương

của sóng delta ở V1 cũng cho thấy kết quả khá là tương đồng với các nghiên

cứu khác và kết quả sau khi thăm dò điện sinh lý: đa phần các đường phụ nằm

ở bên trái, số ít nằm ở bên phải (của các tác giả Piccolo, Phạm Tú Quỳnh,

Phạm Hữu Văn [1-15-19].

- Siêu âm tim:

Kết quả siêu âm tim của chúng tôi trên các bệnh nhân nghiên cứu khơng

cho thấy bất thường gì: kích thước các buồng tim Dd 46,68±3,47mm, Ds

31,24±4,54mm, đường kính thất phải 20,53±5,34mm, EF 62,50±8,09%, …

Cũng không gặp các bất thường về cấu trúc van tim, đặc biệt là bất thường

van ba lá trong bệnh lý Ebstein. Ở các bệnh nhân Ebstein sẽ thường gặp

đường dẫn truyền phụ ở bên phải [7-8]. Lý giải cho điều này có lẽ do các

bệnh nhân có bệnh lý Ebstein thường được tập trung theo dõi và điều trị bệnh

tim liên quan đến van ba lá, ít khi được quan tâm đến đường dẫn truyền phụ,

nhất là khi không có triệu chứng.

4.2.Kết quả thăm dò điện sinh lý học tim bệnh nhân ĐTĐ có dạng WPW

khơng triệu chứng:

4.2.1.Kết quả thăm dò chức năng nút xoang

Tất cả các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều có chức năng nút xoang

bình thường: thời gian phục hồi nút xoang trung bình là 1017,31 ± 162,52ms,

ngắn nhất là 730ms, dài nhất là 1355ms; thời gian phục hồi nút xoang điều

chỉnh trung bình là 230,76 ± 58,48ms, ngắn nhất là 110ms, dài nhất là 390ms.

Kết quả này cũng tương đối tương đồng với các nghiên cứu trước đây. Như ở

nghiên cứu của tác giả Trần Văn Đồng thì có khoảng 3,3% số bệnh nhân hội

chứng WPW có suy yếu chức năng nút xoang[34], điều này cũng có thể là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Dẫn truyền chiều ngược: 78,95% bệnh nhân nhóm không triệu chứng có khả năng dẫn truyền ngược, con số này ở nhóm có triệu chứng là 100%; Trong số các bệnh nhân có dẫn truyền ngược, khả năng dẫn truyền của nhóm không triệu chứng tốt hơn so với nhóm có triệu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×