Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thêm vào đó, tỉ lệ polyphenol trong nghiên cứu này cao hơn tỉ lệ polyphenol

trong các loại lá như: lá chè 36% [11]; lá ổi 23,4% [7]; lá sen 20% [96]. Như vậy,

hàm lượng polyphenol trong cao Sương sáo tương đối cao.

3.1.2. Hàm lượng flavonoid tổng số

Trong thành phần các hoạt chất của polyphenol, flavonoid là một nhóm

chất có vai quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể, chống các gốc oxi hóa, hạ lipid

máu. Vì vậy, chúng tơi tiếp tục tiến hành định lượng flavonoid trong cao dịch chiết

Sương sáo thu được kết quả là 265,6 mg/g cao hay 6,8 mg/g chất khô. Kết quả thu

được thể hiện ở Bảng 3.2.

Bảng 3.2. Hàm lượng flavonoid tổng số trong cao Sương sáo

Mẫu bột Sương sáo



Tổng cao thu được



Hàm lượng flavonoid



Tỉ lệ flavonoid



khô (g)



(g)



tổng số (g)



tổng số (%)



25



0,64



0,17



26,56



Tỉ lệ flavonoid trong cao dịch chiết Sương sáo chiếm khoảng 26,56% hay 6,8

mg/g chất khô. Như vậy, lượng flavonoid trong Sương sáo chiếm tỉ lệ tương đối cao,

khi so sánh với tỉ lệ flavonoid trong các loại lá đã được nghiên cứu như lá sen 6,27

mg/g chất khô [16].

Polyphenol và flavonoid là những hợp chất có hoạt tính sinh học cao có ý nghĩa

quan trọng trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ĐTĐ. Do đó, với kết quả hàm lượng

polyphenol và flavonoid thu được ở trên, chúng tơi có thể kết luận: Sương sáo có tiềm

năng phòng ngừa và hỗ điều trị ĐTĐ. Đây là một kết quả tương đối khả quan để chúng

tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài.

3.2. Kết quả thử độc tính cấp của cao dịch chiết lá Sương sáo

Độc tính cấp - thí nghiệm cơ bản có vai trò quan trọng đánh giá hiệu quả an

tồn của thuốc, là dẫn liệu cho quá trình nghiên cứu sản xuất dược phẩm. Bằng

phương pháp thử độc cấp tính LD 50 (liều làm chết 50% số động vật thí nghiệm),

chúng tơi tiến hành chọn ngẫu nhiên 80 con chuột nhịn đói trước 16 giờ thí nghiệm,

10 chuột đối chứng cho uống NaCl 0,9%; 70 chuột còn lại cho uống cao dịch chiết



39



Sương sáo theo liều tăng dần từ 100 mg đến 8000 mg/kg cân nặng (khối lượng tối

đa có thể cho phép). Theo dõi sự biểu hiện trạng thái sức khỏe và số lượng chuột

chết sau 72 giờ cho uống cao dịch chiết Sương sáo để đánh giá mức độ liều độc cấp.

Kết quả thu được ở Bảng 3.3.

Bảng 3.3. Kết quả thử độc tính cấp

Liều uống



Tổng số chuột



Số chuột chết sau



Tỉ lệ chuột chết



(mg/kg)

100

500

2500



(con)

10

10

10



72 giờ (con)

0

0

0



sau 72 giờ (%)

0

0

0



5000



10



0



0



6000

7000

8000



10

10

10



0

0

0



0

0

0



Kết quả này cho thấy với liều uống cao dịch chiết Sương sáo từ 100 mg/kg

đến 8000 mg/kg, chuột khơng có biểu hiện suy yếu hoặc chết. Theo dõi các hoạt

động sinh lý của chuột diễn ra bình thường giống như nhóm chuột đối chứng không

uống cao Sương sáo. Chúng tôi không tìm thấy liều độc cấp tính LD 50. Điều đó

chứng tỏ cao dịch chiết Sương sáo khơng gây độc tính cấp cho chuột thực nghiệm

bằng đường uống.

3.3. Tạo chuột béo phì và đái tháo đường thực nghiệm

3.3.1. Tạo chuột béo phì thực nghiệm

Chuột được lựa chọn có khối lượng cơ thể từ 18-22 gam, chia làm 2 lô được

nuôi với hai chế độ thức ăn khác nhau:

- Lô BT: Chế độ thức ăn bình thường (khẩu phần cơ sở: 100% viên thức ăn

tiêu chuẩn).

- Lô BP: Chế độ thức ăn có hàm lượng lipid cao (65% viên thức ăn tiêu chuẩn

+ 35% mỡ lợn luộc).

Chúng tôi tiến hành xác định khối lượng của các lô chuột mỗi tuần. Kết quả

thu được sau 6 tuần được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3.4. Khối lượng trung bình của các lơ chuột trước và sau 6 tuần ni



40



Khối lượng

trung bình (gam)

Tuần 0

Tuần 1

Tuần 2

Tuần 3

Tuần 4

Tuần 5

Tuần 6

P2



Lô chuột

BT

21,70 ± 0,54

24,45 ± 1,67

26,48 ± 1,08

29,19 ± 1,62

32,85 ± 1,05

35,75 ± 1,55

37,54 ± 1,28

0,02



P1



BP

20,47 ± 0,91

27,63 ± 1,54

36,74 ± 1,19

46,02 ± 2,01

52,49 ± 1,76

58,90 ± 2,63

65,74 ± 2,38

< 0,0001



0,875

0,053

0,012

0,026

0,034

0,010

0,004



Giá trị P1 thu được từ kiểm định Independent - Sample T Test giữa lô BT và BP

Giá trị P2 thu được từ kiểm định Paired - Sample T Test giữa tuần 6 và tuần 0

80

70

60

50

BT

BP



40

30

20

10

0



0



1



2



3



4



5



6



7



Hình 3.1. Khối lượng trung bình của các lơ chuột trước và sau 6 tuần nuôi

Từ kết quả trên cho thấy, tại thời điểm ban đầu, khối lượng trung bình của lô

BT và BP lần lượt là 21,7 gam và 20,47 gam; sự khác biệt này khơng có ý nghĩa

thống kê (P > 0,05). Sau 6 tuần nuôi, chuột ăn khẩu phần ăn giàu lipid thì khối

lượng tăng hơn nhiều so với chuột ăn khẩu phần ăn cơ sở và sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (P < 0,05). Cụ thể: sau 6 tuần nuôi, chuột ăn khẩu phần ăn cơ sở

khối lượng tăng 15,84 gam tức là tăng 72,99% so với ban đầu, sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (P = 0,02). Trong khi chuột ăn khẩu phần ăn có hàm lượng lipid cao

tăng 45,27 gam tức là tăng 221,15% hay tăng 3,2 lần so với ban đầu và sự khác biệt



41



này có ý nghĩa thống kê (P < 0,0001). Ở tuần thứ 6, khối lượng trung bình của lơ

chuột ăn khẩu phần ăn cơ sở là 37,54 gam trong khi ở lô ăn khẩu phần ăn giàu lipid

có khối lượng trung bình lên đến 65,74 gam. Như vậy, trong cùng thời gian nuôi (6

tuần nuôi), chuột ăn thức ăn giàu lipid đã tăng khối lượng hơn chuột ăn thức ăn bình

thường là 28,2 gam hay gấp 1,75 lần. Đây là một kết quả rất khả quan vì khối lượng

cơ thể chuột sau sáu tuần ni tăng trên 1,8 lần so với ban đầu là có thể kết luận

được chuột đã bị BP [12]. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đó của

Trần Thị Chi Mai (2007), những lô chuột cống ăn khẩu phần ăn giàu lipid thì khối

lượng chuột tăng hơn so với lơ chuột ăn khẩu phần ăn bình thường [15]. Nghiên cứu

của Srinivasan và cộng sự cũng cho thấy, sau 2 tuần nuôi với chế độ ăn khác nhau,

khối lượng chuột cống trắng ăn khẩu phần ăn có hàm lượng lipid cao tăng so với

khối lượng của lô chuột ăn thức ăn bình thường [77].

Sự tăng cân ở các lơ chuột BP có thể được giải thích là do sự mất cân bằng

giữa năng lượng được đưa vào cơ thể qua nguồn thức ăn và năng lượng tiêu hao.

Khi trong khẩu phần ăn có chứa nhiều chất béo, vượt quá nhu cầu năng lượng của

cơ thể thì phần chất béo dư thừa sẽ được tích tụ ở mơ mỡ gây BP bởi vì mỡ có năng

lượng cao nhưng lại cần ít calo hơn để dự trữ dưới dạng triglycerid trong khi đó

đường cần năng lượng để chuyển thành axit béo tự do trước khi dự trữ.

Như vậy, có thể kết luận rằng chế độ ăn giàu lipid là một trong những yếu

tố nguy cơ gây nên bệnh BP và chúng tôi đã thành công trong việc tạo chuột BP

thực nghiệm.

3.3.2. Đánh giá khả năng mắc đái tháo đường ở chuột béo phì

* Glucose huyết

Như chúng ta đã biết, ở chuột BP, khả năng mắc ĐTĐ cao hơn so với chuột

bình thường. Để có thêm cơ sở cho kết luận này, chúng tôi tiến hành xác định

glucose huyết và khả năng dung nạp glucose của nhóm chuột BP so sánh với lô BT.

Kết quả thay đồi nồng độ glucose huyết trong 6 tuần nuôi được thể hiện ở Bảng 3.5.

Bảng 3.5. Nồng độ glucose huyết của các lô chuột trong 6 tuần nuôi





Nồng độ glucose huyết (mmol/L)



42



P2



Tuần 1

5,38 ± 0,34

5,14 ± 0,62

0,567



BT

BP

P1



Tuần 6

6,30 ± 0,45

10,88 ± 1,03

0,042



0,547

< 0,0001



Giá trị P1 thu được từ kiểm định Independent - Sample T Test giữa lô BT và BP

Giá trị P2 thu được từ kiểm định Paired - Sample T Test giữa tuần 6 và tuần 1



Hình 3.2. Nồng độ glucose huyết của các lô chuột trong 6 tuần nuôi

20



Nồng

18



độ glucose huyết (mmol/L)



16

14

12

BT

BP



10

8

6

4

2

0



0



30



60



120



180



Từ bảng số liệu trên cho thấy, tại thời điểm ban đầu, nồng độ glucose huyết

của lô chuột BT và lô chuột BP lần lượt là 5,38 mmol/L và 5,14 mmol/L và sự khác

biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Sau 6 tuần ni, nhóm chuột BP có

glucose huyết tăng, tăng nhiều hơn so với nhóm chuột BT và sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (P < 0,05). Cụ thể: sau 6 tuần nuôi, nồng độ glucose huyết của lô BP

tăng 5,74 mmol/L tức là tăng 111,67% so với ban đầu, sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê (P < 0,0001). Trong khi đó, nồng độ glucose huyết của lô chuột BT chỉ

tăng 0,92 mmol/L ứng với 17,1% và sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (P

= 0,547). Ở tuần thứ 6, nồng độ glucose huyết của lô chuột BT là 6,3 mmol/L trong

khi lô BP lên tới 10,88 mmol/L. Như vậy, trong cùng thời gian nuôi nhưng với chế

độ ăn khác nhau, chuột BP có nồng độ glucose huyết cao hơn chuột BT là 4,58

mmol/L hay tăng gấp 1,73 lần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).

Do đó, sau 6 tuần ni, lơ BP có mức glucose huyết là 10,88 mmol/L có thể kết luận



43



chuột BP bị ĐTĐ vì theo Zhi-Hong Wang và cộng sự thì nồng độ glucose huyết ≥

10 mmol/L (≥ 180 mg/dL) là có thể kết luận được chuột bị ĐTĐ [86].

* Khả năng dung nạp glucose

Khả năng dung nạp glucose cũng được coi là một trong những chỉ tiêu để kết

luận chuột bị ĐTĐ. Kết quả về khả năng dung nạp của các lô chuột sau 6 tuần nuôi

được thể hiện trong Bảng 3.6.

Bảng 3.6. Khả năng dung nạp glucose của các lô chuột sau 6 tuần nuôi

Nồng độ glucose

huyết (mmol/L)





P

BT



BP



0 phút



6,30 ± 0,45



10,88 ± 1,03



0,042



30 phút



8,52 ± 1,59



13,03 ± 1,09



0,031



60 phút



7,40 ± 1,71



13,31 ± 1,63



0,023



120 phút



7,15 ± 1,53



10,63 ± 1,88



0,015



180 phút



6,18 ± 0,70



10,40 ± 1,58



0,012



Giá trị P thu được từ kiểm định Independent - Sample T Test giữa lô BT và BP



44



20

18

16

14

12

BT

BP



10

8

6

4

2

0



0



30



60



120



180



Hình 3.3. Khả năng dung nạp glucose của các lô chuột sau 6 tuần nuôi

Từ số liệu bảng trên cho thấy, với liều uống glucose 3 g/kg, nồng độ

glucose huyết của các lô chuột đều tăng sau 30 phút: lô BT tăng 35,24%; lô BP

tăng 19,76% và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Sau 2 giờ, nồng độ

glucose huyết ở cả 2 lô đều giảm hơn so với thời điểm sau 30 phút. Cụ thể: lơ BT

giảm từ 8,52 mmol/L xuống còn 7,15 mmol/L ứng với 16,07%; lơ BP giảm từ

13,03 mmol/L xuống còn 10,63 mmol/L ứng với 18,42% và sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (P < 0,05). Nồng độ glucose huyết tiếp tục giảm nhẹ sau 3 giờ,

trong đó, lơ BT giảm xuống còn 6,18 mmol/L tức là giảm 27,46%; lơ BP giảm

xuống còn 10,40 mmol/L tức là giảm 20,18% so với thời điểm sau 30 phút. Điều

này chứng tỏ, khả năng dung nạp của lô chuột BT tốt hơn so với lô bị BP.

Theo WHO, vào thời điểm 120 phút (sau dung nạp), mức glucose huyết

khoảng từ 140-200 mg/dL (khoảng 7,8-11,1 mmol/L) được cho là rối loạn dung nạp

đường và trên 200 mg/dL (> 11,1 mmol/L) được cho là ĐTĐ. Trong nghiên cứu

này, chúng tôi thu được kết quả nồng độ glucose huyết của lô BP sau 120 phút dung

nạp là 10,63 mmol/L. Như vậy, chúng tơi có thể kết luận rằng, chuột BP gần

ngưỡng rối loạn dung nạp đường.

* Tỉ lệ mắc đái tháo đường ở chuột béo phì



45



Sau 6 tuần ni, tỉ lệ số chuột có glucose huyết ≥ 10 mmol/L ở lô BP cao hơn

lô BT. Kết quả thu được thể hiện trong Bảng 3.7.

Bảng 3.7. Tỉ lệ số chuột có glucose huyết ≥ 10 mmol/L







Tổng số



chuột



chuột



BT



12



N (số chuột có

glucose huyết ≥ 10

mmol/L)

0



Tỉ lệ chuột có

glucose huyết ≥ 10



P



mmol/L (%)

0

0,02



BP



60



21



35,0



Giá trị P thu được từ kiêm định Chi - square Test.



Từ số liệu bảng trên cho thấy, sau 6 tuần nuôi, với lô ăn khẩu phần ăn cơ sở

thì khơng có chuột nào có glucose huyết ≥ 10 mmol/L ứng với 0% trong khi đó lơ

ăn khẩu phần ăn cơ sở thì tỉ lệ này lên lên tới 35,0% và sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê (P = 0,02 < 0,05).

Chúng tôi tiếp tục theo dõi các lô chuột và thấy rằng, chuột BP có những

biểu hiện: cơ thể phù, lơng xù, cổ rụt, khát nước, ăn nhiều hơn lô BT, kém linh hoạt.

Như vậy, từ kết quả glucose huyết và khả năng dung nạp sau 6 tuần nuôi của các

lô chuột chúng tôi có thể kết luận: chuột BP có khả năng bị ĐTĐ cao hơn chuột bình

thường. Và chúng tơi đã thành công trong việc tạo chuột BP và ĐTĐ thực nghiệm.

Chuột BP có khả năng bị ĐTĐ cao hơn so với chuột bình thường có thể

được giải thích là do BP làm tăng hàm lượng axit béo tự do. Các acid béo tự do dư

thừa trong tuần hồn máu kìm hãm quá trình tổng hợp các protein vận chuyển

glucose qua màng, làm thay đổi trạng thái bình thường của thụ thể insulin trên

màng tế bào đích, là tác nhân tiềm tàng gây ra sự đề kháng tác dụng của insulin

của các tế bào cơ, làm giảm khả năng thu nạp glucose từ tuần hoàn máu của các tế

bào cơ và gan dẫn đến rối loạn trao đổi carbonhydrate và biểu hiện là ĐTĐ type 2

(Hình 3.4) [36, 63, 70].



46



Hình 3.4. Mối quan hệ giữa béo phì và đái tháo đường

3.4. Tác dụng của cao dịch chiết Sương sáo trong dự phòng đái tháo đường

trên chuột nhắt trắng béo phì

Để đánh giá tác dụng của cao dịch chiết Sương sáo đối với việc phòng ĐTĐ

trên chuột BP, chúng tơi tiến hành kiểm tra nồng độ glucose huyết, khả năng dung

nạp và HbA1c của chuột BP ở 2 lô khác nhau:

+ Lô ĐC 1: chuột ăn chế độ ăn béo và được uống NaCl vào mỗi sáng.

+ Lô TN 1: chuột ăn chế độ ăn béo và được uống cao dịch chiết Sương sáo

với liều 400 mg/kg cân nặng vào mỗi buổi sáng.

3.4.1. Tác dụng của cao dịch chiết Sương sáo đến chỉ số glucose huyết lúc đói

Glucose huyết được đo vào lúc đói sau mỗi tuần sử dụng cao chiết. Sau 4

tuần liên tục uống cao dịch chiết, sự thay đổi nồng độ glucose huyết được thể hiện

trong Bảng 3.8.



Bảng 3.8. Nồng độ glucose huyết của các lô chuột trước và sau 4 tuần

sử dụng cao dịch chiết



47



Nồng độ glucose



Lô chuột

ĐC 1

8,80 ± 0,28

9,05 ± 0,49

8,85 ± 0,21

9,90 ± 0,42

10,50 ± 1,38

0,039



(mmol/L)

Tuần 0

Tuần 1

Tuần 2

Tuần 3

Tuần 4

P2



TN 1

8,78 ± 0,72

8,76 ± 0,98

8,00 ± 0,73

7,72 ± 0,50

7,20 ± 0,71

< 0,0001



P1

0,219

0,453

0,142

0,002

< 0,0001



Giá trị P1 thu được từ kiểm định Independent - Sample T Test giữa lô ĐC 1 và TN 1

Giá trị P2 thu được từ kiểm định Paired - Sample T Test giữa tuần 4 và tuần 0



16

14

12

10



ĐC 1

TN 1



8

6

4

2

0



0



1



2



3



4



Hình 3.5. Nồng độ glucose huyết của các lô chuột trước và sau 4 tuần sử dụng cao

dịch chiết

Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy, nếu khơng được dự phòng bằng cao

dich chiết Sương sáo thì nồng độ glucose huyết của chuột BP sẽ tăng nhẹ trong khi

lô sử dụng cao dịch chiết có xu hướng giảm. Tại thời điểm ban đầu, nồng độ

glucose huyết của lô ĐC 1 và lô TN 1 lần lượt là 8,80 mmol/L và 8,78 mmol/L và

sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Sau 4 tuần uống cao dịch

chiết, glucose huyết của lô uống cao dịch chiết Sương sáo giảm hơn so với lơ chứng

uống NaCl và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,0001). Nồng độ glucose

huyết của nhóm này giảm từ 8,78 mmol/L xuống còn 7,2 mmol/L tức là giảm

17,99% so với ban đầu, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,0001). Trong



48



khi đó lơ chứng tăng từ 8,8 mmol/L lên 10,5 mmol/L tức là tăng 19,32% so với ban

đầu và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P = 0,039). Điều đó chứng tỏ, cao dịch

chiết Sương sáo có tác dụng tốt làm hạn chế khả năng tăng glucose huyết.

Theo nghiên cứu của Phạm Văn Thanh năm 2001, quả mướp đắng cũng có

tác dụng hạ glucose huyết [22]. Cũng theo Đỗ Ngọc Liên, các hợp chất tự nhiên từ

dịch chiết cùi Bưởi, vỏ quả Hồng bì, vỏ Măng cụt, Táo mèo và một số thực vật khác

có tác dụng chống tăng lipid máu và chống ĐTĐ [13]. Nghiên của Lin và cs (2017)

cho thấy hợp chất chiết xuất từ Davallia formosana có tác dụng ngăn ngừa ĐTĐ và

rối loạn lipid máu trên chuột nhắt trắng gây ĐTĐ bằng streptozocin [60].

3.4.2. Tác dụng của cao dịch chiết Sương sáo đến khả năng dung nạp glucose

Để có thêm cơ sở cho việc nghiên cứu tác dụng dự phòng ĐTĐ của cao dịch

chiết Sương sáo lên chuột gây BP thực nghiệm, chúng tôi tiến hành kiểm tra khả

năng dung nạp đường của các lô chuột. Kết quả dung nạp đường trước và sau 4 tuần

uống cao dịch chiết Sương sáo được thể hiện ở Bảng sau:

Bảng 3.9. Khả năng dung nạp glucose của các lô chuột trước khi sử dụng cao dịch chiết





Nồng độ glucose

huyết (mmol/L)



ĐC 1



TN 1



0 phút



8,80 ± 0,28



8,78 ± 0,72



0,219



30 phút



15,50 ± 1,41



14,98 ± 3,09



0,574



60 phút



16,05 ± 1,05



15,00 ± 2,73



0,654



120 phút



10,90 ± 1,26



10,78 ± 1,79



0,457



180 phút



10,00 ± 2,19



9,98 ± 2,41



0,621



P



Giá trị P thu được từ kiểm định Independent - Sample T Test giữa lô ĐC 1 và TN 1



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×