Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo kết quả điều tra khảo sát tại 40 cơ sở, số lượng người lao động làm việc tại cssx có công trình vệ sinh phúc lợi là hố tiêu chiếm 96,32 %, 95,40 % hố tiểu và 81,29% buồng tắm. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Shanmugam Rekha Vidhya Venugopal v

Theo kết quả điều tra khảo sát tại 40 cơ sở, số lượng người lao động làm việc tại cssx có công trình vệ sinh phúc lợi là hố tiêu chiếm 96,32 %, 95,40 % hố tiểu và 81,29% buồng tắm. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Shanmugam Rekha Vidhya Venugopal v

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



người được phỏng vấn tại các cơ sở cho biết khơng có cơng trình vệ sinh tại nơi làm

việc [20].

Bảng 3.4 cũng cho thấy phân bố tỷ lệ người lao động làm việc trong cơ sở có

đủ số lượng cơng trình vệ sinh (hố tiêu, hố tiểu, buồng tắm, vòi nước rửa tay, nước

uống) theo ngành nghề. Có thể thấy đa số các chủ lao động phần lớn đều đảm bảo

đủ các cơng trình vệ sinh phúc lợi cho người lao động. Tuy nhiên, trong nghiên cứu

này khảo sát, theo Thông tư số 19/2016/TT-BYT ngày 30 tháng 6 năm 2016 về việc

“Hướng dẫn quản lý vệ sinh lao động và sức khỏe người lao động” [15] quy định có

nơi để quần áo và buồng vệ sinh kinh nguyệt và đối với số liệu nghiên cứu này đưa

ra cho thấy 100% các cơ sở sản xuất làng nghề chưa trang bị 02 loại cơng trình vệ

sinh phúc lợi nêu trên cho lao động nữ nói riêng và lao động tại cơ sở nói chung.

Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy ngành nghề làm hương có tỷ lệ đủ 04 loại CTVSPL

bao gồm hố tiểu, hố tiêu ,vòi nước rửa tay và nước uống nhiều nhất với 100,0%, và

ngành sản xuất giấy & bao bì có tỷ lệ đủ 03 loại CTVSPL bao gồm hố tiêu, vòi

nước rửa tay và nước uống với 100,0%. Người lao động làm việc tại ngành nghề tái

chế chất thải có số lượng cơ sở đủ cơng trình VSPL thấp nhất với cả 05 loại

CTVSPL, trong đó tỷ lệ này thấp nhất là buồng tắm chiếm 65,57%.

Bảng 3.5 trình bày phân bố tỷ lệ tần suất sử dụng các loại cơng trình VSPL tại

nơi làm việc của người lao động. Tất cả các cơng trình vệ sinh phúc lợi đều có tần

suất sử dụng thường xuyên tại cơ sở sản xuất, tỷ lệ sử dụng nước uống thường xuyên

cao nhất là 90,00%, tiếp đến là vòi nước rửa tay chiếm tỷ lệ 78,25%, và tỷ lệ thường

xuyên sử dụng buồng tắm là thấp nhất chiếm 60,63%. Tuy nhiên, đối với buồng tắm

có một tỷ lệ tương đối cao người lao động cho rằng không dùng tới (7,42%) hoặc

thỉnh thoảng sử dụng (15,46%). Điều này có thể giải thích do tính chất ngành nghề

hoặc quy mơ xây dựng của cơ sở sản xuất chưa trang bị được buồng tắm, hoặc đối

với những cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình, những người lao động khơng có quan

hệ với chủ lao động có cảm giác khơng thoải mái khi sử dụng buồng tắm của chủ hộ

gia đình là cơ sở sản xuất.



54



Đối với loại cơng trình vệ sinh phúc lợi là hố tiêu và hố tiểu, kết quả ở Biểu

đồ 3.1 cho thấy có đến 92,00% các cơ sở sản xuất xây dựng cơng trình hố tiêu và hố

tiêu được sử dụng chung, chỉ có 8,00% các cơ sở sản xuất xây dựng tách riêng hai

cơng trình trên. Kết quả ở Biểu đồ 3.2 cho thấy nhà tiêu tự hoại là loại nhà tiêu phổ

biến nhất ở các cơ sở sản xuất, có đến 97,74% các cơ sở sử dụng loại nhà tiêu này,

tiếp đến là nhà tiêu thấm dội nước chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (1,86%).

Biểu đồ 3.3 cho thấy đa số các cơ sở sử dụng buồng tắm cá nhân (91,81%)

thay vì hình thức buồng tắm tập thể (8,91%). Kết quả tại Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ

các đủ 4 loại trang thiết bị - vật dụng trong buồng tắm (vòi tắm, chỗ treo quần áo, xà

phòng/dung dịch rửa tay) được chuẩn bị tại buồng tắm cá nhân cao hơn tương

đương với số lượng theo phân loại buồng tắm đã được mô tả trong Biểu đồ 3.3.

Điều này có thể lý giải do đa phần các cơ sở sản xuất sử dụng chung buồng tắm nơi

gia đình chủ cơ sở sản xuất cùng sử dụng nên tỷ lệ đủ cả 4 loại trang thiết bị - vật

dụng trên hoặc ít nhất là 03 trong 04 loại đạt mức cao. Tuy nhiên, có một tỷ lệ

tương đối nhỏ các buồng tắm khơng có trang thiết bị nào được liệt kê trên đây, tỷ lệ

này không bao gồm số lượng các cơ sở sản xuất khơng có buồng tắm.

Đối với nghiên cứu trên, Kết quả khảo sát đưa ra khơng có cơ sở sản xuất

làng nghề có trang bị buồng vệ sinh kinh nguyệt cho người lao động tại nơi làng

việc, đa số người lao động đều trả lời là khơng có hoặc khơng biết đến nhà vệ sinh

kinh nguyệt dành cho lao động nữ. Kết quả này hoàn toàn khác biệt với kết quả

nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh và cộng sự thực hiện trong năm 2017 nhằm đánh

giá cơng trình vệ sinh phúc lợi tại nơi làm việc ở một số tỉnh công nghiệp trọng

điểm miền Bắc và đề xuất kế hoạch giai đoạn đến 2020, nghiên cứu thực hiện tại 40

doanh nghiệp, trong đó có 6 doanh nghiệp có bố trí nhà vệ sinh kinh nguyệt riêng

biệt cho người lao động nữ. Các doanh nghiệp còn lại đều bố trí cho người lao động

nữ vệ sinh kinh nguyệt cùng với nhà vệ sinh hay buồng tắm, vừa sử dụng đồng bộ

hệ thống vệ sinh chung [6]. Tuy nhiên, có thể giải thích do tính chất quy mơ của các

doanh nghiệp và việc đảm bảo thực hiện đúng quy định theo Thông tư số

19/2016/TT-BYT ngày 30 tháng 6 năm 2016 về việc “Hướng dẫn quản lý vệ sinh



55



lao động và sức khỏe người lao động” [15], nên việc xây dựng buồng vệ sinh kinh

nguyệt được trú trọng hơn. Đối với các cơ sở làng nghề, quy mô nhỏ và chủ yếu là

tập trung theo quy mơ hộ gia đình. Việc xây dựng từng loại cơng trình vệ sinh phúc

lợi, bao gồm có buồng vệ sinh kinh nguyệt gây tốn kém kinh phí cho chủ cơ sở và

khó thực hiện. Một phần do việc giám sát, kiểm tra điều kiện lao động tại các cơ sở

sản xuất chưa được chú trọng nên việc trang bị đủ điều kiện vệ sinh phúc lợi cho

người lao động tại cơ sở sản xuất làng nghề chưa được quan tâm bởi chủ cơ sở và

các nhà quản lý địa phương. So sánh với kết quả tương đồng với nghiên cứu tại Ấn

Độ năm 2016, 174 phụ nữ (87%) cho biết đã từng phải trải qua sự bất tiện trong

việc vệ sinh kinh nguyệt định kỳ [20]. Kết quả tương tự ở nghiên cứu này chứng tỏ

nhu cầu sử dụng của nữ giới đối loại hình vệ sinh đặc thù này.

Nghiên cứu này cũng đưa ra số liệu tại tất cả cơ sở sản xuất làng nghề không

nơi để quần áo và có tủ để quần áo. Như vậy, theo kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng

các cơ sở tại các làng nghề truyền thống đều chưa đáp ứng được quy định theo

Quyết định 3733/2002/QĐ- BYT [11] là mỗi người lao động cần có 1 ơ kéo, móc

treo hay ngăn tủ nhỏ để đựng đồ quần áo, đồ sinh hoạt hàng ngày. Kết quả của

nghiên cứu cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh và cộng sự tại

các doanh nghiệp, trong đó có tới 16/23 doanh nghiệp nước ngồi khơng đạt tiêu

chuẩn về nơi để quần áo. Tuy nhiên lý do của việc này là do thông thường người lao

động thay đồ tại nhà, sau đó mang đồ bẩn sau ca lao động về nhà thay giặt, khơng

được bố trí nơi để quần áo [6].

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người lao động đánh giá cao việc có các cơng

trình vệ sinh phúc lợi bao gồm vòi nước rửa tay, nơi để quần áo và nước uống này ở

nơi làm việc. Biểu đồ 3.5 cho thấy tỷ lệ theo phân loại xà phòng được sử dụng tại

các cơ sở sản xuất, theo đó, loại xà phòng được sử dụng nhiều nhất là xà phòng

bánh (62,50%), tiếp theo là xà phòng dịch lỏng (22,13%), chất sát khuẩn khơ được

sử dụng ít nhất (2,50%) và các loại xà phòng như bột xà phòng (4,63%). Có một tỷ

lệ tương đối người lao động khơng được sử dụng xà phòng rửa tay chiếm (8,25%).



56



Kết quả tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh và các công sự,

tương tự như tại các doanh nghiệp, có số lượng lớn các doanh nghiệp khơng có xà

phòng hay dung dịch rửa tay cạnh vòi rửa tay cho người lao động (16/39 doanh

nghiệp), có 5/23 doanh nghiệp nước ngồi sử dụng xà phòng bánh, 9/23 doanh

nghiệp nước ngoài sử dụng dung dịch lỏng để rửa tay; có 35/36 doanh nghiệp khảo

sát được là khơng sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh, chỉ có duy nhất 1 doanh

nghiệp nước ngồi có dung dịch sát khuẩn tay nhanh cho người lao động [6].

Kết quả biểu đồ 3.6 về phân loại vòi nước rửa tay tại cơ sở sản xuất cho thấy

đa số các cơ sở sản xuất đều trang bị vòi từ nước máy nhưng khơng có lavabo

(60,63%) trong khi tỷ lệ vòi nước rửa tay có lavabo lại rất thấp (8,38%), có thể do

phân bố làng nghề tại các huyện xã nông thôn, các cơ sở có quy mơ nhỏ lẻ vì vậy sự

đầu tư cho vòi nước rửa tay chưa thực sự được chú trọng. Một tỷ lệ tương đối nhỏ

các cơ sở sản xuất khơng có vòi nước rửa tay (8,25%), điều này dẫn tới một số vấn

đề khó khăn trong việc vệ sinh cá nhân của người lao động trước hoặc sau khi tham

gia ca sản xuất.

Theo nghiên cứu cho thấy, loại nước được sử dụng nhiều nhất là bình nước

tinh khiết đóng sẵn (chiếm 39.75%), tiếp đến là nước đun sơi để nguội (33.88%),

tiếp theo là các loại nước khác. Kết quả tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn

Ngọc Anh và các công sự cho thấy tại các doanh nghiệp đều sử dụng nước lọc tinh

khiết cung cấp cho người lao động (24/39 doanh nghiệp), chỉ có 2/8 doanh nghiệp

nhà nước còn sử dụng nguồn nước đun sơi để nguội. Có 7/23 doanh nghiệp đã đầu

tư hệ thống máy lọc nước ngay tại doanh nghiệp để cung cấp nước cho người lao

động [6].

Nghiên cứu chưa đưa ra được mối liên quan giữa việc sử dụng nước uống và

sử dụng cơng trình vệ sinh, tuy nhiên, theo nghiên cứu tại cơ sở sản xuất gạch, thép và

nông nghiệp tại Ấn Độ năm 2016 [20], phụ nữ không được tiếp cận nhà vệ sinh tại nơi

làm việc cũng cho biết uống ít nước hơn (5%, n = 17) để tránh phải dùng nhà vệ sinh

thường xuyên, đối tượng (n=24) cũng chấp nhận thay đổi hành vi nhịn đi tiểu (khoảng

2 - 4 giờ), có liên quan đáng kể đến việc khơng tiếp cận được nhà vệ sinh.



57



Tương tự như nghiên cứu tại Ấn Độ [20], người lao động cũng đánh giá việc

có các cơng trình vệ sinh phúc lợi (vòi nước rửa tay, nơi để quần áo, nước uống) ở

nơi làm việc là rất cần thiết.

Nghiên cứu đưa ra đánh giá của người lao động về sự cần thiết của các cơng

trình vệ sinh phúc lợi tại cơ sở sản xuất, trong đó, đa số ý kiến người lao động đưa

ra đều cho rằng các cơng trình hố tiểu, hố tiêu, buồng tắm, vòi nước rửa tay và nước

uống đều cần thiết. Ngược lại, đa số ý kiến đánh giá về các công trình buồng vệ sinh

kinh nguyệt, nơi để quần áo là không cần thiết đối với người lao đông. Điều này có

thể do nhu cầu của người lao động hoặc họ chưa quen với việc trang bị nơi để quần

áo riêng cho bản thân, hoặc thói quen thay quần áo lao động tại nhà sau đó tới cơ sở

sản xuất làm việc. Tương tự với buồng vệ sinh kinh nguyệt, do nhiều yếu tố như

tiếp cận thơng tin, trình độ học vấn của chủ cơ sở, quy mô sản xuất nhỏ nên khơng

đủ kinh phí, hoặc chưa có sự giám sát, quan tâm của các nhà quản lý và chính quyền

địa phương nên các cơ sở sản xuất chưa trang bị đầy đủ các cơng trình vệ sinh phúc

lợi đầy đủ theo quy định của nhà nước.

4.2. Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các cơng trình vệ sinh phúc lợi

của người lao động tại một số làng nghề miền Bắc Việt Nam năm 2018.

4.2.1. Sự hài lòng việc sử dụng các cơng trình vệ sinh phúc lợi của người lao

động tại một số làng nghề miền Bắc Việt Nam năm 2018.

Sự hài lòng của người lao động về các cơng trình vệ sinh phúc lợi là thước

đo quan trọng phản ánh việc sử dụng các cơng trình VSPL tại cơ sở sản xuất. Qua

khảo sát, kết quả nghiên cứu từ bảng 3.6 cho thấy điểm hài lòng chung về việc sử

dụng các cơng trình vệ sinh phúc lợi của người lao động đã được tính tốn theo các

điểm đánh giá về số lượng, tình trạng vệ sinh, trang thiết bị, vị trí…. kết quả cho

thấy đa số người lao động đều hài lòng chung về các cơng trình VSPL nêu trên với

tỷ lệ % hài lòng lần lượt là 72,25% (hố tiểu), 69,50% (hố tiêu), 72,00% (buồng

tắm), 65,75% (vòi nước rửa tay) và 78,88% (nước uống). Người lao động ở các cơ

sở thường xuyên sử dụng hố tiêu và hố tiểu, tuy nhiên mức độ hài lòng khá cao cho



58



thấy sự quan tâm của chủ cơ sở sản xuất đối với việc xây dựng cơng trình vệ sinh

phúc lợi nêu trên cho người lao động.

So với kết quả tại nghiên cứu tại các doanh nghiêp của Nguyễn Ngọc

Anh và cộng sự vào năm 2017 [6], sự hài lòng của người lao động về số lượng

cơng trình phúc lợi tại cơ sở làm việc là tương đối tương đồng, cụ thể:

Nguyễn Ngọc Anh và cộng

Số liệu đề tài “nghiên

sự (2017) “Đánh giá cơng

cứu thực trạng sử dụng

trình vệ sinh phúc lợi tại

cơng trình vệ sinh phúc

Hài lòng về cơng trình vệ

nơi làm việc ở một số tỉnh lợi tại nơi làm việc ở một

sinh phúc lợi

công nghiệp trọng điểm

số làng nghề miền Bắc

miền Bắc và đề xuất kế

Việt Nam năm 2018 và

hoạch giai đoạn đến 2020”. một số yếu tố liên quan”

Hố tiểu

90,31%

72,25%

Hố tiêu

93,64%

69.50%

Buồng tắm

57,11%

72,00%

Vòi nước rửa tay

90,82%

65,75%

Nước uống

94,45%

78,88%

Dựa vào bảng trên cho thấy, đa số ý kiến lao động đưa ra trong cả 2 nghiên

cứu trên đều có sự hài lòng về 05 loại cơng trình vệ sinh phúc lợi nêu trên. Các cơ

sở doanh nghiệp được khảo sát trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh và cộng sự

(2017) mang tính chun mơn hóa cao hơn nên ta có thể thấy sự hài lòng về hố tiêu

và hố tiểu của người lao động cao hơn so với số liệu hài lòng trong nghiên cứu này.

Tuy nhiên, về số liệu buồng tắm của nghiên cứu làng nghề có tỷ lệ hài lòng cao hơn

hẳn có thể do tính chất địa điểm các cơ sở sản xuất nhỏ đặt ngay tại hộ gia đình nên

có sẵn buồng tắm trong gia đình chủ cơ sở sản xuất.

4.2.2. Một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người lao động khi sử dụng

các cơng trình vệ sinh phúc lợi của người lao động tại một số làng nghề miền

Bắc Việt Nam năm 2018.

Nhìn vào thực trạng sử dụng, đề tài đã tiếp tục đi sâu phân tích một số các

yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng cơng trình vệ sinh phúc lợi của người lao động

bao gồm có sự hài lòng khi sử dụng cơng trình VSPL và tần suất sử dụng.



59



Nghiên cứu phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng chủ yếu tập trung vào các

yếu tố đặc điểm nhân khẩu của ĐTNC, yếu tố đặc điểm nghề nghiệp của ĐTNC và

yếu tố liên quan đến công trình VSPL. Dưới đây là những yếu tố liên quan có ý

nghĩa thống kê tới sự hài lòng khi sử dụng và tần suất sử dụng cơng trình VSPL tại

các cơ sở làng nghề được khảo sát.

4.2.2.1. Yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê tới sự hài lòng sử dụng cơng trình

VSPL

Yếu tố đặc điểm nhân khẩu của đối tượng nghiên cứu.

Quan hệ với chủ cơ sở sản xuất

Xét về tình trạng quan hệ với chủ cơ sở, những người lao động có quan hệ

với chủ cơ sở sản xuất có sự hài lòng lần lượt cao gấp 2,09 lần (hố tiểu) và 1,91 lần

(hố tiêu) so với những người lao động khơng có quan hệ với chủ cơ sở sản xuất và

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê lần lượt sự hài lòng với hố tiểu (OR=2,09; KTC

95%: 1,41 – 3,10; p<0.05) và hố tiêu (OR=1,91; KTC 95%: 1,31 – 2,80; p<0.05).

Tương tự với buồng tắm, xét về tình trạng quan hệ với chủ cơ sở, những người có

quan hệ với chủ cơ sở sản xuất có sự hài lòng khi sử dụng cao gấp 2,02 lần so với

những người khơng có quan hệ với chủ cơ sở sản xuất, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê (OR=2,02; KTC 95%: 11,36 – 3,01; p<0.05)

Tương tự, những người lao động có quan hệ với chủ cơ sở có sự hài lòng về

vòi nước rửa tay và nước uống cao gấp lần lượt 1.94 lần và 2,43 lần so với những

người khơng có quan hệ với chủ cơ sở sản xuất và và sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê lần lượt với vòi nước rửa tay (OR=1,94; KTC 95%: 1,31 – 2,89; p<0.05) và nước

uống (OR=2,43; KTC 95%: 1,56 – 3,78; p<0.05).

Từ kết quả nghiên cứu trên có thể thấy những người lao động có quan hệ với

chủ cơ sở sản xuất thì có sự hài lòng về việc sử dụng các cơng trình vệ sinh phúc lợi

cao hơn nhiều so với những người lao động không có quan hệ với chủ cơ sở, điều

này hồn tồn tương đối với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Lâm (2012) có thể giải

thích do quy mơn của cơ sở sản xuất tại các làng nghề nhỏ lẻ (gia đình, thơn, xóm),



60



cơ sở sản xuất xem lẫn trong khu dân cư, lực lượng lao động phần lớn có quan hệ

gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểm “cha truyền con nối” [22].

Giới tính

Về việc hài lòng khi sử dụng vòi nước rửa tay, nghiên cứu đã đưa ra kết quả

về mối liên quan có ý nghĩa thống kê về sự hài lòng khi sử dụng vòi nước rửa tay

của các lao động nữ cao hơn số với lao động nam gấp 1,51 lần và sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với (OR=1,51; KTC 95%: 1,05 – 2,16; p<0.05). Điều này có thể

thấy, một số lao động nữ có ý thức vệ sinh và vệ sinh tay sau khi kết thúc ca làm

việc hơn so với nam giới.

Yếu tố đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Loại lao động

Có thể thấy với lao động tồn thời gian có sự hài lòng về việc sử dụng vòi

nước rửa tay cao hơn so với lao động bán thời gian gấp 1,60 lần và sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với (OR=1,60; KTC 95%: 1,00 – 2,57; p<0.05). Tương tự với sự hài

lòng về việc sử dụng nước uống, những lao động tồn thời gian có sự hài lòng cao

hơn 2,09 lần so với lao động bán thời gian và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

(OR=2,09; KTC 95%: 1,24 – 3,54; p<0.05). Điều này có thể giải thích do thời gian

làm việc của lao động toàn thời gian tiếp xúc với cơ sở sản xuất nhiều hơn so với

lao động bán thời gian, việc sử dụng vòi nước rửa tay và nước uống thường xuyên

hơn so với lao động bán thời gian.

Yếu tố liên quan đến cơng trình VSPL

Tình trạng vệ sinh

Xét về tình trạng vệ sinh, những người lao động làm việc ở mơi trường có hố

tiểu và hố tiêu trong tình trạng vệ sinh sạch sẽ/bình thường có sự hài lòng cao lần

lượt gấp lần lượt 25,21 lần và 9,02 lần so với hố tiểu và hố tiêu bẩn và sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê lần lượt với hố tiểu (OR=25,21; KTC 95%: 5,62-113,04;

p<0.05) và hố tiêu (OR=9,02; KTC 95%: 1,31 – 2,80; p<0.05). Tương tự đối với

cơng trình buồng tắm và vòi nước rửa tay, xét về tình trạng vệ sinh, những người lao

động làm việc ở mơi trường có buồng tắm và vòi nước rửa tay trong tình trạng vệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo kết quả điều tra khảo sát tại 40 cơ sở, số lượng người lao động làm việc tại cssx có công trình vệ sinh phúc lợi là hố tiêu chiếm 96,32 %, 95,40 % hố tiểu và 81,29% buồng tắm. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Shanmugam Rekha Vidhya Venugopal v

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×