Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc mô học của vòi tử cung

Cấu trúc mô học của vòi tử cung

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



những chỗ lồi và đội biểu mô lên. Những nếp gấp này chia thành nhiều nhánh

tiến vào lòng vòi tử cung, làm cho lòng vòi hẹp lại (Hình ). Ở loa và đoạn 1/3

ngồi của vòi tử cung, những nếp gấp ấy rất cao và chia nhánh nhiều lần, chen

chúc nhau, bịt gần kín lòng vòi tử cung, ở đoạn 1/3 giữa vòi, những nếp gấp

thấp hơn và ít chia thành nhánh. Ở đoạn 1/3 trong của vòi, những nếp gấp

thấp và không chia nhánh.

- Biểu mô: biểu mô phủ niêm mạc vòi tử cung người trưởng thành là một



biểu mơ trụ đơn. Ở đoạn bóng, tế bào biểu mơ rất cao, càng gần tử cung, tế

bào càng thấp dần. Trước tuổi dậy thì, biểu mơ này là biểu mơ vuông đơn.

Sau khi mãn kinh, tế bào biểu mô dẹt lại. Ở phụ nữ đang trong đời hoạt động

sinh dục, biểu mơ vòi trứng, cấu tạo bởi bốn loại tế bào: tế bào có lơng, tế

bào khơng có lơng, tế bào đáy và tế bào trung gian.

+ Tế bào có lơng( tế bào nhung mao): hình trụ, bào tương sáng, đơi

khi có hạt ở vùng chung quanh nhân. Nhân hình trứng, kém bắt màu. Mặt tự

do tế bào có những lông dài cắm vào thể đáy và chuyển động một chiều về

phía tử cung. Bào tương chứa ti thể, bộ Golgi, lưới nội bào và những hạt

glycogen.

+ Tế bào không có lơng( tế bào chế tiết): hình trụ, ít bào tương. Nhân

hình cầu hay hình trứng, bắt màu đậm. Mặt tự do của tế bào có những vi

nhung mao và những chỗ lõm siêu vi. Bào tương chứa bộ Golgi, ti thể, lưối

nội bào và những hạt chế tiết.

Những tế bào khơng có lơng là những tế bào chế tiết. Sản phẩm chế tiết

của chúng rất cần thiết cho noãn và tinh trùng đã lọt vào trong vòi tử cung.

+ Tế bào đáy: nhỏ, nằm rải rác, có bào tương sáng, ít bào quan, nhân

bắt màu mạnh.

Chức năng còn chưa rõ.

+ Tế bào trung gian: nằm chen vào giữa những tế bào có lơng và tế bào



11



chế tiết. Nhân cũng bắt màu mạnh.

- Lớp đệm: lớp đệm ngăn cách với biểu mơ bởi màng đáy, có những chỗ



lồi, đội biểu mô lên, tạo thành những nếp nhăn của niêm mạc. Lớp đệm là một

mô liên kết chứa nhiều mạch máu và mạch bạch huyết. Trong lớp đệm có

những tế bào hình thoi giống như những nguyên bào sợi, một số tế bào

lympho và bạch cầu đơn nhân nằm trong một lưới sợi võng. Những tế bào

hình thoi có tiềm năng phát triển giống như những tế bào ở lớp đệm của nội

mạc thân tử cung.

4.1.2.



Tầng cơ

Tầng cơ gồm hai lớp cơ trơn: lớp trong, các bó sợi cơ xếp theo hướng

vòng; lớp ngồi: hướng dọc. Ở sừng tử cung, tầng cơ của vòi tử cung tiếp với

tầng cơ tử cung [13].



4.1.3.



Tầng vỏ ngồi

Tầng vỏ ngồi là một mơ liên kết chứa mạch, dây thần kinh từ dây chằng

rộng tới và được phủ ngồi bởi màng bụng [13].



12



CHƯƠNG 2

VAI TRỊ CỦA VÒI TỬ CUNG TRONG

CHỨC NĂNG SINH SẢN

1. Đại cương

Sự di chuyển thành công của trứng, tinh trùng và phôi qua vòi tử cung là

điều kiện quan trọng để có thai tự nhiên. Vòi tử cung có vai trò quan trọng

trong vận chuyển giao tử, sự thụ tinh và sự phát triển phơi giai đoạn sớm. Mặc

dù chưa hiểu hồn tồn các cơ chế liên quan đến sự di chuyển này, nhưng

ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự vận chuyển qua vòi tử cung là

một q trình rất phức tạp. Trong đó, có sự tương tác giữa co bóp cơ, hoạt

động của tế bào nhung mao, dòng chảy của dịch tiết vòi tử cung và chuyển

động của tế bào nhung mao có vai trò nổi trội trong q trình này.

2. Sự thay đổi theo chu kỳ của vòi tử cung

Tương tự như các phần khác của đường sinh dục nữ, vòi tử cung thay đổi

theo chu kỳ dưới tác động của estrogen và progesterone. Tế bào thấp trong

giai đoạn hành kinh, cao hơn trong giai đoạn tăng sinh và đạt chiều cao cực

đại ở giai đoạn quanh phóng nỗn. Ở giai đoạn này, tế bào chế tiết và nhung

mao có cùng kích thước, trong đó tế bào chế tiết tạo nên phần vòm giữa các

chùm tế bào nhung mao. Quanh thời điểm phóng nỗn, hoạt động của các tế

bào chế tiết đạt mức cao nhất và tiết các chất vào lòng vòi tử cung, vì vậy,

chiều cao của chúng giảm so với tế bào nhung mao. Điều này làm cho tế bào

nhung mao trở nên vượt trội và vận chuyển các chất liệu đặc biệt hay chất tiết

nhầy một cách hiệu quả. Sau đó, trong giai đoạn hồng thể, chiều cao của cả

hai tế bào đều giảm và mất một phần nhung mao [7],[14].

Các hormone của buồng trứng tác động đến cấu trúc của biểu mơ vòi tử

cung và sự biểu lộ của nhung mao. Vòi tử cung có các thụ thể của estradiol

(E2) và progesterone và những thụ thể này thay đổi theo các giai đoạn của chu



13



kỳ buồng trứng. Thụ thể của estradiol (E2) đạt mức cao nhất ở giữa chu kỳ,

trong khi đó, thụ thể của progesterone hiện diện khắp chu kỳ, ngay cả ở trong

giai đoạn hồng thể. Estrogen kích thích sự tăng sinh, chế tiết và sinh nhung

mao cùa tế bào biểu mô. Ngược lại, sự teo và mất nhung mao của tế bào liên

quan đến nồng độ cao của progesterone [14].

3. Sự di động cùa vòi tử cung

Tinh trùng và trứng gặp nhau nhờ nhu động co bóp của các sợi cơ trơn

trong thành vòi tử cung. Kết quả là sự thụ tinh xảy ra. Tiếp theo, trứng đã thụ

tinh được vận chuyển từ vị trí thụ tinh ở đoạn bóng đến vị trí làm tổ trong

buồng tử cung. Sự vận chuyển này được điều khiển chủ yếu bởi 3 hệ thống

nội tại gồm: môi trường hormone estrogen-progesterone, hệ thống adrenergicnonadrenergic và



protaglandins.



Estrogen tác động lên receptor trên nhân của tế bào kích thích sự di

chuyển của vòi, ngược lại progesterone kiềm chế sự di chuyển của vòi. Trước

phóng nỗn, vòi tử cung co bóp rất nhẹ nhàng với tốc độ và cách thức khác

nhau tuỳ theo mỗi cá nhân. Vào thời điểm phóng nỗn, vòi tử cung co bóp

mạnh hơn, đồng thời mạc treo vòi tử cung cũng co bóp để đưa vòi tiếp xúc

gần hơn với buồng trứng, trong khi đó tua vòi co bóp nhẹ nhàng để lướt trên

bề mặt buồng trứng. 4-6 ngày sau phóng nỗn, do nồng độ progesterone tăng

nên vòi di chuyển chậm lại. Điều này làm giãn hệ thống cơ cho phép trứng di

chuyển vào buồng tử cung nhờ hoạt động của nhung mao. Tác động của

estrogen và progesterone đến sự di chuyển và hình thái của vòi tử cung vào

thời điểm 4-6 ngày sau phóng nỗn được điều khiển thông qua các thụ thể

hormone sinh dục. Sự thay đổi nồng độ thụ thể là điều quan trọng để đánh giá

chức năng của vòi tử cung.

Sự phân bố các dây thần kinh hệ adrenergic liên quan đến điều hồ

chuyển động của vòi tử cung, đặc biệt là những thay đổi chuyển động của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc mô học của vòi tử cung

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×