Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giải phẫu vòi tử cung

Giải phẫu vòi tử cung

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Đoạn bóng (ampulla)

Đoạn bóng dài khoảng 5 cm chiếm tới hơn 1/3 chiều dài vòi tử cung.

Đường kính lòng ống của đoạn bóng là 8-9mm, chỗ rộng nhất lên tới

khoảng 1 cm. Thành của đoạn bóng mỏng. Bề mặt thành của lòng ống có

4 tới 5 nếp gấp lớn chạy dọc ngoằn ngoèo; trên những nếp này lại có

những nếp cấp hai, tạo nên một diện tích bề mặt rộng và phức tạp như

mê đạo (labyrinhine). Bình thường, lòng của bóng vòi là nơi tinh trùng và

trứng gặp nhau nên đoạn này còn gọi là buồng thụ tinh [2] [9].

Đoạn eo (isthmus)

Eo là chỗ vòi tử cung thắt lại với đường kính chỉ còn 1- 4mm. Đoạn

này dài 3 cm. Đây là đoạn ống tròn, chắc có thành cơ dày.

Người ta thường hay ứng dụng triệt sản ở đoạn này để tránh gây ứ nước

VTC cũng như để dự phòng nối lại VTC dễ dàng trong tương lai. Tại đây

những cơn co nhịp nhàng của lớp cơ có xu hướng lan toả về phía TC. Tuy vậy

sự vận chuyển qua eo VTC lại theo 2 chiều ngược nhau: tinh trùng đi ngược

về phía đoạn bóng trong khi nỗn sau khi thụ tinh đi xi về buồng TC. Do

lòng ống hẹp, nằm gần thành TC và lớp cơ dày nên đoạn eo khó giãn nở, vì

vậy khi trứng làm tổ tại đoạn eo thì VTC sẽ bị vỡ sớm [10] [1].

Đoạn kẽ hay đoạn tử cung (uterine part)

Là đoạn vòi tử cung nằm trong thành cơ tử cung nên còn gọi là đoạn

tử cung. Chiều dài đoạn này là l-l,5cm, lòng rộng khoảng 0,7 mm. Nó

thơng ở trong với buồng tử cung bằng một lỗ rất nhỏ gọi là lỗ tử cung của

vòi (uterine os of uterine tube) và liên tiếp ở ngồi với eo vòi. Tinh trùng

từ buồng tử cung đi lên qua lỗ này vào vòi tử cung. Trứng sau khi được

thụ tinh đi vào buồng tử cung cũng qua lỗ này [10] [1].

1.6.



Mạch máu của vòi tử cung

Vòi tử cung được cấp máu bởi các nhánh vòi của động mạch tử cung

và động mạch buồng trứng; các nhánh vòi nối tiếp với nhau, tạo thành



7



cung động mạch đi trong mạc treo vòi tử cung. Động mạch buồng trứng

trong của động mạch tử cung còn tách ra một nhánh tham gia vào cung

nối này nên cung động mạch có thể được chia thành 3 đoạn: động mạch

vòi trong, động mạch vòi ngồi, động mạch vòi giữa.

Tĩnh mạch chạy theo động mạch, đổ vào tĩnh mạch tử cung-buồng

trứng. Bạch mạch đổ vào hạch thắt lưng.

Thí nghiệm quan sát ở cừu và lợn thấy rằng những động mạch và

tĩnh mạch ở phần bóng và loa vòi tử cung ứ căng máu quanh thời điểm

phóng nỗn và xẹp xuống khi hồng thể thiết lập.

Sự căng của mạch máu bị ảnh hưởng một phần bởi estrogen của

buồng trứng và bởi chức năng chế tiết của vòi tử cung [11].



1: Động mạch tử cung, 2: Niệu quản, 3: Nhánh lên của đáy, 4: Động

mạch buồng trứng trong, 5: Động mạch vòi trong, 6: Động mạch buồng trứng



8



7: Động mạch vòi ngồi 8: Động mạch buồng trứng ngồi 9: Cung động

mạch 10: Động mạch vòi giữa

Hình 2: Mạch máu của vòi tử cung

1.7.



Thần kinh

Hệ thống thần kinh của vòi tử cung là mạng lưới của những sợi

thần kinh giao cảm, những sợi Adrenergic nằm trong lớp cơ vòng và

cơ dọc của vòi tử cung

Đặc điểm nổi bật của hệ thẩn kinh này là có rất nhiều đầu mút của

dây thần kinh Adrenergic tập trung ở tế bào của lớp cơ vòng đoạn eo và

chỗ tiếp nối giữa đoạn bóng và đoạn eo. Sự tập trung nhiều đầu mút thần

kinh này cho phép đoạn eo vòi tử cung hoạt động như một cơ thắt sinh lý

có vai trò quan trọng trong sự di chuyển của trứng, tinh trùng và phơi .



1.8.



Các cấu trúc giữ vòi tử cung tại chỗ

Vòi tử cung bắt nguồn từ hai bên sừng tử cung dang rộng ra như hai

cánh tay ở hai bên được phúc mạc phủ lên tạo thành dây chằng rộng ở

mỗi bên tử cung. Vòi tử cung được giữ tại chỗ bởi các yếu tố sau:

- Do sự tiếp nối với tử cung.

- Vòi tử cung được bao phủ bởi phúc mạc tạo thành dây chằng rộng

ở mỗi bên tử

cung. Phần dây chằng rộng từ vòi tử cung rủ xuống được gọi là mạc

treo vòi tử cung (mesosalpinx).

- Vòi tử cung được giữ bởi dây chằng vòi-buồng trứng đi từ cực trên

buồng trứng tới diềm loa.

- Mạc treo buồng trứng dính vĩnh viễn vào mạc treo vòi tử cung, mạc



9



treo vòi tử cung tiếp với mạc treo tử cung ở phía dưới tạo thành dây chằng

rộng.



1. Cấu trúc mơ học của vòi tử cung

Thành vòi trứng, từ trong ra ngồi, gồm ba tầng mơ: tầng niêm mạc,

tầng cơ và tầng vỏ ngồi [12] [13].



Hình 3. Cấu tạo của vòi tử cung [13]

A. Thiết đồ vòi trứng nhìn dưới kính hiển vi

B. Niêm mạc vòi trứng ở đoạn 1/3 giữa

C. Siêu cấu trúc tế bào có lơng và tế bào chế tiết ở biểu mơ vòi

trứng.

1. Tầng niêm mạc; 2. Tầng cơ; 3. Tầng vỏ ngoài; 4. Tế bào có

lơng; 5. Tế bào trung gian; 6. Tế bào đáy; 7. Tế bào chế tiết; 8.

Lớp đệm; 9. Lông; 10. Vi nhung mao; 11. Hạt chế tiết; 12. Màng

đáy.

1.9.



Tầng niêm mạc [13] [12]



4.1.1.



Cấu tạo chung

Ở đoạn bóng, niêm mạc rất dày, có những nếp gấp cao do lớp đệm có



10



những chỗ lồi và đội biểu mô lên. Những nếp gấp này chia thành nhiều nhánh

tiến vào lòng vòi tử cung, làm cho lòng vòi hẹp lại (Hình ). Ở loa và đoạn 1/3

ngồi của vòi tử cung, những nếp gấp ấy rất cao và chia nhánh nhiều lần, chen

chúc nhau, bịt gần kín lòng vòi tử cung, ở đoạn 1/3 giữa vòi, những nếp gấp

thấp hơn và ít chia thành nhánh. Ở đoạn 1/3 trong của vòi, những nếp gấp

thấp và không chia nhánh.

- Biểu mô: biểu mô phủ niêm mạc vòi tử cung người trưởng thành là một



biểu mơ trụ đơn. Ở đoạn bóng, tế bào biểu mơ rất cao, càng gần tử cung, tế

bào càng thấp dần. Trước tuổi dậy thì, biểu mơ này là biểu mơ vng đơn.

Sau khi mãn kinh, tế bào biểu mô dẹt lại. Ở phụ nữ đang trong đời hoạt động

sinh dục, biểu mơ vòi trứng, cấu tạo bởi bốn loại tế bào: tế bào có lơng, tế

bào khơng có lơng, tế bào đáy và tế bào trung gian.

+ Tế bào có lơng( tế bào nhung mao): hình trụ, bào tương sáng, đơi

khi có hạt ở vùng chung quanh nhân. Nhân hình trứng, kém bắt màu. Mặt tự

do tế bào có những lơng dài cắm vào thể đáy và chuyển động một chiều về

phía tử cung. Bào tương chứa ti thể, bộ Golgi, lưới nội bào và những hạt

glycogen.

+ Tế bào khơng có lơng( tế bào chế tiết): hình trụ, ít bào tương. Nhân

hình cầu hay hình trứng, bắt màu đậm. Mặt tự do của tế bào có những vi

nhung mao và những chỗ lõm siêu vi. Bào tương chứa bộ Golgi, ti thể, lưối

nội bào và những hạt chế tiết.

Những tế bào khơng có lơng là những tế bào chế tiết. Sản phẩm chế tiết

của chúng rất cần thiết cho noãn và tinh trùng đã lọt vào trong vòi tử cung.

+ Tế bào đáy: nhỏ, nằm rải rác, có bào tương sáng, ít bào quan, nhân

bắt màu mạnh.

Chức năng còn chưa rõ.

+ Tế bào trung gian: nằm chen vào giữa những tế bào có lơng và tế bào



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giải phẫu vòi tử cung

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×