Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cụ thể, khi kích thước các răng trên lớn quá mức bình thường có thể làm tăng độ cắn phủ, tăng độ cắn chìa, chen chúc các răng hàm trên, có khe thưaở vùng răng hàm dưới, các răng cửa trên ngả sau và các răng cửa dưới ngả trước. Ngược lại, khi kích thước ră

Cụ thể, khi kích thước các răng trên lớn quá mức bình thường có thể làm tăng độ cắn phủ, tăng độ cắn chìa, chen chúc các răng hàm trên, có khe thưaở vùng răng hàm dưới, các răng cửa trên ngả sau và các răng cửa dưới ngả trước. Ngược lại, khi kích thước ră

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



Hình 1.7. Cách tính chỉ số Bolton tồn bộ [28]

- Chỉ số Bolton răng trước (AR):

AR =



Tổng kích thước gần-xa 6 răng trước hàm dưới

Tổng kích thước gần-xa 6 răng trước hàm trên



x 100 = 77,2 ± 1,65%



Hình 1.8. Cách tính chỉ số Bolton trước [28]



12



Bằng cách so sánh tỷ lệ này với giá trị chuẩn, Bolton xác định được sự

bất hài hòa kích thước răng nằm ở hàm răng nào. Đến năm 1962, để giảm việc

tính tốn chỉ số Bolton, ông xây dựng 1 bảng chuẩn sử dụng để so sánh tổng

KTGXcác răng hàm trên so với hàm dưới. Các số liệu được xếp thành 2 cột,

cột đầu tiên thể hiện giá trị kích thước răng hàm trên ghi nhận được và cột thứ

hai thể hiện kích thước răng hàm dưới lý tưởng tương ứng. Việc so sánh có

thể được thực hiện nhanh và bác sĩ chỉnh nha có thể sớm dự đoán được kết

quả khớp cắn một cách chính xác [26].

Bảng 1.2. Liên quan về kích thước gần xa của 12 răng theo Bolton [26]

12 răng HT



12 răng

HD



12 răng

HT



85



77,6



94



85,8



103



94,0



86



78,5



95



86,7



104



95,0



87



79,4



96



87,6



105



95,9



88



80,3



97



88,6



106



96,8



89



81,3



98



89,5



107



97,8



90



82,1



99



90,4



108



98,6



91



83,1



100



91,3



109



99,5



92



84,0



101



92,2



110



100,4



93



84,9



102



93,1



12 răng HD 12 răng HT 12 răng HD



13



Bảng 1.3. Liên quan về kích thước gần xa của 6 răng

trước theo Bolton [26]

6 răng

HT



6 răng

HD



6 răng

HT



6 răng

HD



6 răng

HT



6 răng

HD



40,0



30,9



45,5



35,1



50,5



39,0



40,5



31,3



46,0



35,5



51,0



39,4



41,0



31,7



46,5



35,9



51,5



39,8



41,5



32,0



47,0



36,3



52,0



40,1



42,0



32,4



47,5



36,7



52,5



40,5



42,5



32,8



48,0



37,1



53,0



40,9



43,0



33,2



48,5



37,4



53,5



41,3



43,5



33,6



49,0



37,8



54,0



41,7



44,0



34,0



49,5



38,2



54,5



42,1



44,5



34,4



50,0



38,6



55,0



42,5



45,0



34,7



Đồng thời, Bolton cũng đã chỉ ra khi chỉ số nhóm răng trước nằm ngồi

khoảng 77,2 ± 1,65 (1SD) thì sự bất hài hòa kích thước gần-xa của răng gây

ra biểu hiện trên lâm sàng và cần thiết phải can thiệp điều trị để đạt được một

khớp cắn tốt [26] và với chỉ số Bolton tồn bộ thì giá trị là 91,3 ± 1,91 (1SD).

Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu khác, một số tác giả lại thấy rằng chỉ số

Bolton phải lớn hơn 2 độ lệch chuẩn (2SD) thì mới cần phải điều trị lâm sàng

do sai lệch về KTGXcủa răng gây nên. Theo Freeman (1996) [27] thì sự bất

hài hòa kích thước răng rất hay xảy ra ở nhóm răng trước và khi tỉ lệ AR <

77,2 – 3,3 (2SD) hoặc khi AR > 77,2 +3,3 (2SD). Hay trong nghiên cứu của

Heusdens (2000) [26] còn khẳng định tỉ lệ AR phải lớn hơn 3 độ lệch chuẩn

(3SD) thì mới gây ra tình trạng bất hài hòa về kích thước răng.

1.2.5. Ứng dụng lâm sàng của chỉ số Bolton



14



Nghiên cứu của Bolton rất có ý nghĩa trong việc chẩn đốn cũng như lập

kế hoạch điều trị chỉnh nha. Mối quan hệ KTGX giữarăng hàm trên và răng

hàm dưới giúp các bác sĩ chỉnh nha dự đoán tương quan răng giữa hai hàm,

độ cắn phủ, độ cắn chìa. Thơng qua phân tích Bolton, tác giả phát hiện

khoảng chênh lệch về KTGX giữa hàm trên và hàm dưới, xác địnhnguyên

nhândo hàm trên hay hàm dưới để điều chỉnh.

- Chỉ số Bolton toàn bộ (OR):

Nếu OR > 91,3%: Tổng KTGX của 12 răng hàm dưới quá lớn so với các

răng hàm trên. Để xác định kích thước khoảng chênh lệch cần điều chỉnh, ta

thực hiện các bước sau [3]:

+ Bước 1: Xác định tổng KTGX của 12 răng hàm trên của bệnh nhân.

+ Bước 2: Thay tổng kích thước trên vào cơng thức OR để tìm ra tổng

KTGXlý tưởng của 12 răng hàm dưới.

+ Bước 3: Xác định khoảng kích thước chênh lệch cần điều chỉnh ở hàm

dưới bằng cách lấy tổng KTGX thực tế 12 răng hàm dưới trừ đi tổng KTGX lý

tưởng 12 răng hàm dưới mà ta mới tìm ra được.

Nếu OR < 91,3%: Tổng KTGX của 12 răng hàm trên quá lớn so với các

răng hàm dưới. Cách xác định tương tự như

- Chỉ số Bolton răng trước (AR) [3]:

Nếu AR > 77,2%: Tổng KTGX của nhóm răng trước hàm dưới quá lớn

so với các răng hàm trên. Để xác định kích thước khoảng chênh lệch cần điều

chỉnh, ta làm các bước sau:

+ Bước 1: Xác định tổng KTGX của 6 răng nhóm trước hàm trên của

bệnh nhân



15



+ Bước 2: Thay tổng kích thước trên vào cơng thức chỉ số nhóm răng

trước để tìm ra tổng KTGX tưởng cần có của 6 răng nhóm trước hàm dưới.

+ Bước 3: Xác định khoảng chênh lệch kích thước cần điều chỉnh ở hàm

dưới bằng cách lấy tổng KTGX thực tế của 6 răng nhóm trước hàm dưới trừ đi

tổng KTGX lý tưởng của 6 răng nhóm trước hàm dưới mà ta mới tìm ra được.

Nếu AR < 77,2%: Tổng KTGX của nhóm răng trước hàm trên quá lớn so

với các răng hàm dưới. Cách xác định tương tự như trên.

1.2.6. Tình hình nghiên cứu chỉ số Bolton trên thế giới và ở Việt Nam

Năm 1958, Bolton [3] đã đưa ra chỉ số tương quan về KTGX của răng

giữa hai hàm, góp phần vào chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị trong các

trường hợp sai khớp cắn. Thành tựu của ông thực sự là cuộc cách mạng trong

lĩnh vực chỉnh nha. Từ đó đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên

cứu về phân tích của ơng.

Năm 1977, Sperry và cộng sự [29] đã phân tích chỉ số Bolton trên 130

đối tượng sai khớp cắn loại I (ClI), sai khớp cắn loại II (ClII) và sai khớp cắn

loại III (ClIII). Tác giả nhận thấy KTGX răng hàm dưới ở nhóm đối tượng sai

ClIII lớn hơn so với nhóm đối tượng Cl I và ClII. Ơng đề nghị đưa phân tích

sự chênh lệch KTGX răng thành một bước bắt buộc trong quy trình chẩn đốn

cho bệnh nhân điều trị chỉnh nha, đặc biệt với nhóm ClIII.

Năm 1996, Freeman và cộng sự [27] đã nghiên cứu 157 mẫu hàm của

các bệnh nhân chỉnh nha, gồm 115 người da trắng, 27 người da đen và 15

người thuộc các nhóm chủng tộc khác. Qua nghiên cứu, ơng thấy rằng chỉ số

nhóm răng trước của mình là 77,8 khá tương đồng với chỉ số của Bolton là

77,2. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn lại lớn hơn (3,07 so với 1,65). Đồng thời, ông

cũng phát hiện sự bất tương quan KTGX của nhóm răng trước xảy ra ở 48

người, chiếm tỷ lệ 30,6 % và những trường hợp này đều có chỉ số Bolton

nhóm răng trước vượt quá 2SD.



16



Năm 2000, Santoro [21] khi phân tích 54 mẫu hàm của bệnh nhân chỉnh

nha người Mỹ đã đưa ra kết luận chỉ số nhóm răng trước và độ lệch chuẩn

trong nghiên cứu đều lớn hơn trong nghiên cứu của Bolton. Ơng lý giải cho

việc này có thể là do đối tượng nghiên cứu của ông là những bệnh nhân chỉnh

nha có các vấn đề về khớp cắn khác nhau, trong khi đótác giả Bolton nghiên

cứu trên những người có khớp cắn lý tưởng.

Năm 2005, Uysal và Sari [30] khi phân tích mẫu hàm của 150 người Thổ

Nhĩ Kì đã đưa ra chỉ số AR là 78,26 ± 2,61. Ông cho rằng với dữ liệu trên thì

chỉ số Bolton khơng thể áp dụng cho người dân của mình và cần phải có một

chỉ số mới.

Năm 2008, Toshiya và cộng sự [31] trong nghiên cứu của mình trên 60

người Nhật Bản lại cho rằng chỉ số Bolton có thể áp dụng chỉnh nha cho

những đối tượng người Nhật Bản.

Năm 2009, Nguyễn Thị Phòng [10] áp dụng phân tích của Bolton trong

nghiên cứu của mình trên 60 sinh viên Trường Đạo học Răng Hàm Mặt, nhận

thấy rằng giá trị trung bình chỉ số trước ở nhóm khớp cắn bình thường là

78,04 ± 1,58, giá trị này tương đương với giá trị trung bình trong nghiên cứu

của Bolton. Còn ở nhóm SKC, có 34,7% mẫu nghiên cứu có bất tương quan

KTGX các răng phía trước.

Năm 2014, Hasija và cộng sự [32] thực hiện phân tích Bolton trên 100

đối tượng thuộc ba nhóm ClI, ClII và ClIII, cho thấy chỉ số Bolton răng trước

và chỉ số Bolton toàn bộ gần giống với kết quả của Bolton: AR là 77,85 và

OR là 90,53; tuy nhiên độ lệch chuẩn thì lớn hơn giá trị của Bolton. Tác giả

đề nghị phân tích Bolton có thể sử dụng trong mọi trường hợp, đó là một

bước cần thiết trước khi thực hiện điều trị chỉnh nha.



17



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 2/2017 đến 9/2018.

- Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Lạng Sơn và Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt Đại học Y Hà Nội.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Người dân tộc Tày từ 18 - 25 tuổi đang sinh sống và làm việc tại Lạng Sơn.

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

- Lứa tuổi 18 - 25, nam và nữ, đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Dân tộc Tày: có bố mẹ, ơng bà nội ngoại đều là người dân tộc Tày.

- Khơng có dị tật bẩm sinh và dị hình. Khơng bị chấn thương hàm mặt.

- Không mắc bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể và đầu mặt răng.

- Chưa từng điều trị chỉnh hình răng mặt hay phục hình răng.

- Có bộ răng vĩnh viễn đầy đủ (28 răng, không kể RHL thứ ba).

- Khơng có biến dạng răng, các răng khơng bịtổn thương tổ chức cứng ảnh

hưởng tới kích thước gần-xa thân răng.

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Khơng phải người dân tộc Tày.

- Có dị tật bẩm sinh và dị hình vùng hàm mặt. Bị chấn thương hàm mặt.

- Mắc bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể và đầu, mặt, răng.

- Có răng dị dạng, bất thường về số lượng răng (thừa hoặc thiếu răng,

khơng kể RHL thứ ba).

- Răng có tổn thương tổ chức cứng ảnh hưởng tới kích thước gần-xa.

- Đã và đang can thiệp chỉnh nha, có mài chỉnh mặt nhai, cắt kẽ, phục

hình răng.



18



2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.3.2.1. Cỡ mẫu

....Cỡ mẫuđược tính theo cơng thức tính cỡ mẫu của nghiên cứu mơ tả để

xác định giá trị trung bình:



Trong đó:

- n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu.

- α: Sai lầm loại I, chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ra

một kết luận dương tính giả. Với α = 0.05 thì Zα=1,96.

- β: Sai lầm loại II hoặc lực mẫu (power là 1- β), chọn β = 0,1 (hoặc lực

mẫu=0,9), tương ứng có 90% cơ hội tránh được một kết luận âm tính giả. Với

β = 0.1 thì Zβ=1,28.

- σ : độ lệch chuẩn.

- δ: là sai số mong muốn (cùng đơn vị với σ)

Hiện chưa có nghiên cứu đánh giá nhân trắc đầu mặt của người trưởng

thành dân tộc Tày, nên chọn = 21,2 (tương ứng độ lệch chuẩn khi đo kích

thước vòng đầu của người trưởng thành, dân tộc Kinh).

: là sai số mong muốn (cùng đơn vị với ), ước tính 1,2 mm.

Thay vào cơng thức, có:

n = (1,96 + 1,28)2 * 21,22/1,22 = 3276 người

Cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra là 3276 người. Trên thực tế, chúng tôi đã thực

hiện nghiên cứu trên 3285 đối tượng 18 - 25 tuổi dân tộc Tày ở Lạng Sơn.



19



2.3.2.2. Phương pháp chọn mẫu

Dân tộc Tày là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, có

số dân đơng thứ haicả nước.Người Tày sinh sống chủ yếu ở các tỉnh trung du

và miền núi phía phía bắc Việt Nam.Hiện tại, ở Lạng Sơn có 259532 người

dân tộc Tày; chiếm 35,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người dân tộc

Tày tại Việt Nam. Cho đến thời điểm này, chưa có đề tài nào nghiên cứu về

tình trạng khớp cắn cũng như xây dựng các chỉ số răng cho nhóm đối tượng

này mà chỉ tập trung nhiều cho đối tượng người dân tộc Kinh, cho nên chúng

tôi lựa chọn nghiên cứu trên nhóm đối tượng dân tộc Tày tại tỉnh Lạng Sơn để

làm phong phú thêm nguồn số liệu xây dựng cho cộng đồng người Việt Nam.

Chọn mẫu toàn bộ. Lấy toàn bộ đối tượng trong đề tài cấp Nhà nước

gồm 3285 đối tượng.

Phương pháp chọn mẫu: Lập danh sách đối tượng 18 - 25 tuổi tại các

địa điểm trường nghiên cứu: Trường THPT Chu Văn An, THPT Văn

Quan, THPT Cao Lộc, THPT Chi Lăng, THPT Lộc Bình, THPT Việt Bắc,

THPT Đồng Đăng, Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Lạng Sơn,

Trường dân tộc nội trú tỉnh Lạng Sơn, Cao đẳng nghề Lạng Sơn, Cao

đẳng y tế Lạng Sơn, Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn. Xác minh lý lịch, khám

sàng lọc, lập danh sách các đối tượng đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

và lấy mẫu toàn bộ 3285 đối tượng.



20



2.4. Biến số trong nghiên cứu



Thông tin

chung



Khớp cắn



Chỉ số

Bolton



Tên biến số



Đơn vị tính



1. Họ tên

2. Tuổi

3. Giới tính

4. Dân tộc

5. Tương quan khớp cắn

6. Cắn chùm

7. Cắn chìa

8. Kích thước gần-xa R1

9. Kích thước gần-xa R2

10. Kích thước gần-xa R3

11. R13R23: Tổng KTGX 6

răng trước HT

12. R33R43: Tổng KTGX 6

răng trước HD

13. Chỉ số Bolton răng

trước



Danh mục

Định lượng

Nhị phân

Định tính

Thứ hạng

Định lượng

Định lượng

Định lượng

Định lượng

Định lượng



Phương pháp

thu thập

Phiếu khám

Phiếu khám

Phiếu khám

Phiếu khám

Phiếu khám

Mẫu hàm

Mẫu hàm

Mẫu hàm

Mẫu hàm

Mẫu hàm



Định lượng



Tính tốn



Định lượng



Tính tốn



Định lượng



Tính tốn



2.5. Vật liệu và phương tiện nghiên cứu

- Dụng cụ khám: khay, gương, gắp, thám trâm, găng tay, khẩu trang.

- Dụng cụ và vật liệu lấy dấu, đổ mẫu: thìa lấy dấu, bát trộn, bay trộn,

chất lấy dấu (Alginate hiệu Aroma Fine DF III, GC corporation, Japan) và

thạch cao (thạch cao đá hiệu New Plastone, GC corporation, Japan),thạch cao

thường, sáp ghi dấu cắn và đèn cồn.

- Dụng cụ đo: thước kẹp điện tử của hãng Mitutoyo Nhật bản, có độ

chính xác 0,01 mm.

- Phiếu điều tra và phiếu ghi kết quả đo mẫu.



21



Hình 2.1. Thước kẹp điện tử

2.6. Các bước tiến hành nghiên cứu

- Bước 1: Lập danh sách ĐTNC

- Bước 2: Khám lâm sàng lựa chọn ĐTNC

- Bước 3: Chọn 3285 đối tượng có đủ tiêu chuẩn lựa chọn và lấy dấu, đổ

mẫu hàm

- Bước 4: Phân loại khớp cắn và đo kích thước gần-xa các răng trước

- Bước 5: Nhập, xử lý và phân tích số liệu

- Bước 6: Viết báo cáo đề tài

 Bước 1: Khám lâm sàng

- Lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Phỏng vấn, xác định tiền sử chấn

thương, nắn chỉnh răng,… tất cả các đối tượng dân tộc Tày trong nghiên cứu,

nếu đối tượng khơng đủ tiêu chuẩn lựa chọn thì khơng khám tiếp.

- Khám trong miệng: Chỉ lấy những đối tượng có đủ 28 răng vĩnh viễn

trong miệng (trừ răng khơng), xác định tương quan RHL thứ nhất ở hai bên theo

Angle. Khám xác định tình trạng các răng: răng sâu, răng thừa, răng dị dạng…

nếu có tình trạng răng ảnh hưởng tới kích thước gần-xa thì loại đối tượng đó.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cụ thể, khi kích thước các răng trên lớn quá mức bình thường có thể làm tăng độ cắn phủ, tăng độ cắn chìa, chen chúc các răng hàm trên, có khe thưaở vùng răng hàm dưới, các răng cửa trên ngả sau và các răng cửa dưới ngả trước. Ngược lại, khi kích thước ră

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×