Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Thang điểm Seattle Heart Failure Model: Ra đời năm 2006 dựa trên nghiên cứu PRAISE1 [37], giá trị tiên lượng của SHFM đã được kiểm chứng qua 5 nghiên cứu ELITE2 [38] , Val – HeFT [39], UW [40], RENAISSANCE [41] và INCHF [42]. SHFM dự đoán chính xác khả

- Thang điểm Seattle Heart Failure Model: Ra đời năm 2006 dựa trên nghiên cứu PRAISE1 [37], giá trị tiên lượng của SHFM đã được kiểm chứng qua 5 nghiên cứu ELITE2 [38] , Val – HeFT [39], UW [40], RENAISSANCE [41] và INCHF [42]. SHFM dự đoán chính xác khả

Tải bản đầy đủ - 0trang

HF so với các thang điểm tiên lượng khác trong suy tim là chỉ số NT –

proBNP được phân chia khá kỹ và nó rất có giá trị đánh giá nguy cơ tử vong.

Hơn nữa các thông sô thu thập cho việc tính điểm lại khá đơn giản, rất thuận

tiện cho việc áp dụng thang điểm này trên lâm sàng. Thời điểm đánh giá biến

cố tử vong là 3 tháng phù hợp với mốc thời gian đánh giá trong nghiên cứu

của chúng tôi.

Bảng 1.6. Thang điểm Élan – HF

STT

1



Yếu tố tiên lượng

Mức độ giảm NT – proBNP ≤ 30%



Điểm

1



NT – proBNP khi ra viên, pg/ml

1500 – 5000



1



5001 – 15000



3



> 15000



4



3



Tuổi ≥ 75



1



4



Phù chân lúc nhập viện



1



5



Huyết áp tâm thu khi nhập viện ≤ 115 mmHg



1



6



Natri máu khi nhập viện < 135 mmol/l



1



7



Ure máu khi ra viện ≥ 15 mmol/l



1



8



NYHA khi ra viện III/IV



1



2



1.4. Tổng quan về siêu âm phổi [60-61-62]

1.4.1. Lịch sử, nguồn gốc, nguyên lý hình thành dấu hiệu ‘’Đuôi sao chổi »

1.4.1.1. Lịch sử và nguồn gốc của dấu hiệu ‘’đuôi sao chổi’’

Năm 1989 khi Daniel Lichtenstein đã mô tả “đuôi sao chổi” như là một

dấu hiệu siêu âm của hội chứng phế nang – kẽ. Cho đến nay đã có rất nhiều

tác giả nghiên cứu về vấn đề này: Picano, Volpicelli, Jambrik, Gargani, Frassi,

Lichtenstein, Soldati, Copetti, Mallamaci, Donadio… [27], [28]. Đuôi sao

chổi là tên ban đầu được các tác giả đặt sau đó nhiều tác giả đã đồng thuận về



thuật ngữ ‘’B-line’’ là tên chính thức được chọn để đặt cho các đuôi sao chổi

này [27] [22].



A: Phổi bình thường

Dấu hiệu A-Line



B: Phổi ứ huyết

(Dấu hiệu B-lines)



C: Phù phổi ( B-line

hồ lẫn vào nhau)



Hình 1.2. A: Phổi bình thường , B: Dấu hiệu “Đi sao chổi”, C: Phù phổi

Phổi bình thường biểu hiện trên siêu âm là màu đen, có các đường cơ

bản của nhu mơ phổi theo trục ngang: Dấu trượt màng phổi, A-line. Khi phổi

ứ huyết trong hội chứng kẽ - phế nang biểu hiện trên siêu âm phổi là sự xen lẽ

giữa màu đen và màu trắng (tức là có sự xuất hiện của dấu hiệu đi sao chổi)

.Trường hợp có phù phế nang thì phổi trắng hồn tồn (là sự kết hợp hồn

tồn và hồ lẫn của các B-line). ( chú thích hình)

* Nguyên lý tạo thành và đặc điểm của dấu hiệu B-line .

Hình ảnh siêu âm phổi bản thân nó là những hình ảnh giả do phản xạ của

sóng siêu âm từ đường màng phổi lá thành theo mặt phân cách giữa khí và

dịch của vách liên thùy. Sóng siêu âm đi qua tổ chức phổi bình thường ứ khí

sẽ hình thành các hình ảnh giả do phản xạ hồn tồn của sóng siêu âm tạo ra

các đường nằm ngang lặp đi lặp lại với những khoảng cách bằng với khoảng

cách từ lá thành màng phổi đến da. Những đường đó gọi là đường A-Lines

[32] (hình 1.2).

Trong hội chứng mơ kẽ, dịch tích tụ trong khoảng mơ kẽ giữa các phế



nang, nhiều hơn dịch tích tụ trong lòng các phế nang. Sóng âm khi đến màng

phổi, gặp dịch tích tụ trong mơ kẽ - phế nang sẽ bị giữ lại. Sóng âm di chuyển

tới lui và phản hồi liên tục trong hỗn hợp khí- dịch dẫn đến hiệu ứng cộng

hưởng, tạo ra dấu hiệu đi sao chổi (B-Lines).(hình 1.3)



Hình 1.3. Cơ sở vật lý của sự hình thành B-Line trên siêu âm phổi

- Chẩn đốn đường B-line (Hình1.4) trên siêu âm phổi cần thỏa mãn

đủ 4 đặc điểm sau [9] [25]:



- Bắt đầu từ đường màng

phổi đến gờ màn hình

- Di chuyển đồng bộ với

dấu phổi trượt

- Những đường tăng âm,

dài, khơng bị mờ đi theo trục

dọc (giống tia laser)

- Xóa những đường ngang

cơ bản của nhu mơ phổi (Aline).



Hình 1.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán B-lines

Cần lưu ý rằng siêu âm phổi thấy 1 - 3 B-line có thể là bình thường, đặc

biệt B-lines là ở vùng sau dưới khi BN nằm lâu. Thực chất cơ chế của việc xuất

hiện B-line là tất cả các nguyên nhân gây ra tụ dịch trong mô kẽ - phế nang như:

Phù phổi cấp, viêm phổi, bệnh phổi mô kẽ, dập phổi… [9].

Về mặt giải phẫu, khoảng cách giữa các phế nang khoảng 3mm, khoảng

cách giữa các vách liên tiểu thùy phổi khoảng 7mm. Do đó khi siêu âm phổi

nếu thấy khoảng cách giữa các B-lines là 7mm thì khả năng là phù mơ kẽ, nếu

khoảng cách giữa các B-lines là 3mm thì có khả năng dịch đã tràn vào các phế

nang (phù phế nang). Khi theo dõi BN khoảng cách giữa các B-lines càng

ngắn thì bệnh càng nặng và ngược lại [9].

1.4.1.2. Vai trò của B-line trong đánh giá tình trạng ứ huyết phổi.

Các nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới cho thấy, B-line tương quan

chặt chẽ với các tiêu chuẩn chẩn đoán ứ huyết phổi trên CT-scaner [34] và Xquang [30] [35]. B-line có tương quan với các dấu hiệu lâm sàng (NYHA),

với NT-proBNP, EF [36] và áp lực mao mạch phổi bít [37] [32].

Trong một phân tích gộp bao gồm 1075 BN từ 07 nghiên cứu khác nhau

cho thấy B-line rất hữu ích trong chẩn đốn các ngun nhân khó thở cấp tại các



phòng cấp cứu với độ nhạy 94% và độ đặc hiệu 92% trong chẩn đoán suy tim

mất bù cấp(). Các kết quả này cũng được chứng minh trong một nghiên cứu đa

trung tâm tiến hành trên 1005 BN từ 07 trung tâm của Italya và cho thấy phương

pháp siêu âm phổi chính xác hơn so với các triệu chứng lâm sàng, X-quang ngực

và nồng độ NT-proBNP trong đánh giá tình trạng ứ huyết phổi [6]. Siêu âm phổi

cũng là một cơng cụ hữu ích để đánh giá sự thay đổi của tình trạng ứ huyết

phổi sau khi có can thiệp của điều trị [39] [47], [48].

Bảng 1.7. Các nghiên cứu chứng minh vai trò của siêu âm phổi trong đánh

giá suy tim sung huyết.

Nghiên

Phương pháp

cứu

Lichtenstei Nghiên cứu trên 146

n et al 1998 bệnh nhân: 40 BN phù

[59]

phổi cấp do tim, 26 BN

COPD đợt cấp, 80 BN

khơng có rối loạn hô hấp.

Các bệnh nhân đều được

làm siêu âm ULCs, so

sánh với X-quang ngực.



Kỹ thuật



Kết quả



BN ở tư thế nửa

nằm nửa ngồi. Quét

theo chiều dọc ở

phía trước và phía

bên thành ngực.

Vùng qt dương

tính khi có ít nhất 3

B-line cách nhau

không quá 7mm.

Jambrik et Nghiên cứu trên 121 BN, Siêu âm phổi được

al 2004 được làm siêu âm phổi tiến hành trên 28

[39]

và X-quang ngực, so cửa sổ quét.

sánh với nhau trong đánh

giá xung huyết phổi.

Agricola et Nghiên cứu trên 72 BN: Siêu âm phổi được

al 2006 53 BN có EF<40%, 19 tiến hành trên 28

[49]

BN có chức năng thất trái cửa sổ quét.

bình thường. Siêu âm phổi

để đánh giá sự thay đổi

mức độ xung huyết phổi,

so với siêu âm tim 2D

đánh giá chức năng thất

trái, trước trong và sau

gắng sức.



Với chẩn đoán phù phổi

do tim, siêu âm phổi cho

kết quả:

Độ nhạy 100%

Độ đặc hiệu 92%



Frassi et al Nghiên cứu 340 BN nội Siêu âm phổi được

2007 [60] trú tại khoa tim mạch, tiến hành trên 28

được làm siêu âm phổi cửa sổ quét.

và siêu âm tim 2D.



Số điểm B-lines tăng,

tương ứng với chức năng

thất trái giảm và độ

NYHA tăng lên.



Có sự tương quan tuyến

tính giữa X-quang phổi

và dấu hiệu B-line trên

siêu âm phổi trong đánh

giá xung huyết phổi

Siêu âm phổi có thể đánh

giá được sung huyết phổi

và những thay đổi của nó

trong q trình gắng sức.



Gargani et Nghiên cứu 149 BN khó Siêu âm phổi được

al 2008 thở cấp tính, trong đó tiến hành trên 28

[36]

122 BN khó thở do suy cửa

sổ

quét.

tim. So sánh với BNP

trong chẩn đoán phù phổi

do tim.

Volpicelli

và cộng sự

2008

[35]



Nghiên cứu trên 81 BN

được chẩn đoán xác định

là suy tim mất bù. Được

làm siêu âm phổi,Xquang phổi, các triệu

chứng lâm sàng, BNP so

sánh lúc vào viện và lúc

ra viện.



BN nằm ngửa.

Ngực được chia

thành 11 khu vực: 3

trước, 3 bên (Bên

phải) và 2 trước, 3

bên( bên trái).



Mallamaci

và cộng sự

2010

[61]



Nghiên cứu 75 BN chạy

thận nhân tạo, siêu âm

phổi và siêu âm tim được

làm trước và sau chạy

thận. Tổng lượng nước

cơ thể được ước tính

bằng cách phân tích trở

kháng điện sinh học.



Siêu âm phổi được

tiến hành trên 28

cửa

sổ.B-lines

được chia thành

các mức độ:

Nhẹ: 5-15 B-lines

TB: 16-30 B-lines.

Nặng: > 30 B-lines

Siêu âm phổi được

tiến hành trên 28

cửa

sổ.B-lines

được chia thành

các mức độ:

Nhẹ: 5-15 B-lines

TB: 16-30 B-lines.

Nặng: > 30 B-lines



Nghiêm

Ngọc

Khánh và

cộng sự

2016



Nghiên cứu trên 53

bệnh nhân vào viện vì

suy tim điều trị tại Viện

Tim mạch – Bệnh viện

Bạch Mai.



Số điểm B-lines trên siêu

âm phổi tương quan với

mức độ BNP, Siêu âm

phổi có độ nhạy 76% và

độ đặc hiệu 88,8% để

chẩn đoán phù phổi do

tim.

Số điểm B-lines trên siêu

âm phổi tương quan với

X-quang, lâm sàng và

BNP khi nhập viện. Có

sự giảm đáng kể số Blines sau điều trị. Thay

đổi về số điểm B-lines

tương quan với X-quang,

lâm sàng và BNP.

Tình trạng sung huyết

phổi liên quan chặt chẽ với

chức năng tâm thu thất trái

trước và sau điều trị.

Không liên quan giữa xung

huyết phổi và tổng lượng

nước dư thừa trong cơ thể.

ULCs có tương quan

tuyến tính với NYHA và

nồng độ NT-ProBNP,

EF (nhóm BN EF <

40%)

Sau điều trị chỉ số ULCs

giảm rõ rệt so với lúc

vào viện



1.4.1.3. Vai trò của chỉ số ULCs trong tiên lượng BN suy tim.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy vai trò của B-line trong tiên

lượng BN suy tim [41] [42] [7], hội chứng vành cấp [43] và chạy thận [44].

Số lượng B-line ở thời điểm trước khi ra viện có liên quan đến tiên lượng tái

nhập viện của BN suy tim [45] [46]. Các BN suy thận giai đoạn cuối có kèm

theo suy tim thì tình trạng ứ huyết phổi rất nặng (chỉ số ULCs > 60 B-line) có

nguy cơ tử vong cao gấp 4,2 lần so với BN ứ huyết phổi mức độ nhẹ (chỉ số

ULCs < 15 B-line) [44]. Chỉ số ULCs có giá trị tiên đốn độc lập và có tương



quan tuyến tính với các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng như: mức độ suy tim

theo NYHA, EF, và nồng độ NT-proBNP [41].

Bảng 1.8. Nghiên cứu giá tri tiên lượng của chỉ số ULCs ở BN suy tim

Nghiên

Phương pháp

cứu

Elke Platz Nghiên cứu 185 BN

et al 2016 suy tim mạn tính

[14]

ngoại trú được theo

dõi 6 tháng, đánh giá

tái nhập viện vì suy

tim và tử vong do

mọi nguyên nhân.



Luna

Gargani

và cộng

sự 2015



Nghiên cứu trên 100

BN suy tim trái cấp

nhập viên. Các biến

cố được đánh giá

sau ra viện tại các

thời điểm 3 tháng và

6 thang. Tiêu chí

chính là nhập viện vì

suy tim và tử vong

do mọi nguyên nhân



Kỹ thuật siêu âm

phổi

Đầu dò siêu âm bỏ túi

BN tư thế nằm ngửa

hoặc ngồi. Lồng ngực

2 bên chia thành 8

vùng. Lấy lát cắt dọc

có số B-line cao nhất

đại diện cho mỗi

vùng. Tổng B-line 8

vùng phân 3 nhóm:0

B-line,1-2 B-line,

≥3B-line

Siêu âm phổi được

tiến hành trên 28 của

sổ quét.

Chỉ số ULCs là tổng

số B-Line trên 28 cửa

sổ siêu âm.



Kết quả

27% BN tái nhập viện

va tử vong sau 6

tháng.

Nhóm BN ≥3 B-line

có nguy cơ tử vong và

tái nhập viện cao gấp

4 lần nhóm 0 B-line

HR:4,08 95%CI: 1,95

– 8,54

18% bệnh nhân tái

nhập viện và tử vong.

Chỉ số ULCs ra viện >

20 là yếu tố tiên lượng

các biến cố sau ra viện

3 tháng. Chỉ số ULCs

ra viện > 15 là yếu tố

tiên lượng độc lập các

biến cố tại thời điểm 6

tháng..



1.4.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp siêu âm phổi khảo sát B-line

1.4.2.1. Ưu điểm

- Siêu âm phổi là phương pháp an tồn, BN khơng phải chịu một lượng

ion phóng xạ như chụp X-quang.

- Thời gian tiến hành kỹ thuật nhanh, chỉ mất có vài phút, trung bình từ

5-7 phút, nhiều tác giả đã ghi nhận thời gian tiến hành kỹ thuật < 3 phút.

- Mọi đầu dò đều có thể sử dụng làm siêu âm phổi tuy nhiên các tác giả

khuyến nghị nên sử dụng đầu dò tim vì kích thước nhỏ có thể dễ dàng đặt vào

các khoang liên sườn, và độ đâm sâu đủ lớn để thăm dò đầy đủ cấu trúc phổi.



- Phương pháp và kết quả siêu âm phổi trên người cũng tương tự phương

pháp và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên động vật. Đối với các BN được

nghiên cứu tại khoa tim mạch, phòng siêu âm tim, và các khoa chăm sóc đặc

biệt cho thấy tính khả thi của siêu âm phổi là 100%, sự thay đổi B-line giữa

những lần quan sát liên tục là <5% và <10% [39] [32] [54], sai số giữa các

bác sĩ đọc kết quả trung bình là 0,3% [7]. Có thể lặp lại kỹ thuật nhiều lần, do

đó B-line là một dấu hiệu lý tưởng để đánh giá những thay đổi của BN theo

thời gian.

- Siêu âm phổi đánh giá B-line là một phương pháp đơn giản, dễ thực

hiện, dễ đánh giá. Chỉ cần một buổi huấn luyện kéo dài 01 giờ và máy siêu âm

xách tay thì một bác sĩ siêu âm mới làm cũng có thể làm được siêu âm phổi

với độ chính xác trong việc đánh giá số lượng B-line tương tự với bác sĩ tim

mạch giàu kinh nghiệm với thiết bị siêu âm hiện đại [57] [56].

- Trang thiết bị: Hầu hết các máy siêu âm 2D và TM đều có thể làm được

siêu âm ULCs, khơng cần Doppler. Đầu dò thường được sử dụng là đầu dò

phased array ( đầu dò có hệ thống dãy tổ hợp pha): đầu dò tim tần số (2,5 –

3,5 MHz), convex và microconvexe (3,5 – 7,0 MHz) và linear (5,0 – 10

MHz). Tốt nhất nên sử dụng đầu dò tim vì nó lý tưởng để xen giữa các

khoang liên sườn và vẫn cho phép chùm tia siêu âm xuyên đủ sâu để xem cấu

trúc xa. Hơn nữa đầu dò này lại được sử dụng đồng thời trong siêu âm tim

[32, 33].

- Siêu âm phổi ngồi cung cấp thơng tin về B-line nó còn cung cấp thông

tin về nhiều dấu hiệu khác như: sự hiện diện của các A-line là đường cơ bản của

nhu mô phổi bình thường, các hình ảnh về tràn dịch màng phổi và tràn khí màng

phổi. B-line bắt đầu từ đường màng phổi lá tạng, do vậy sự xuất hiện của B-line



có thể loại trừ tràn khí màng phổi. Sự vắng mặt của B-line, hoặc mất sự chuyển

động của dấu trượt phổi là một định hướng tin cậy đến tràn khí màng phổi [5].

1.4.2.2. Hạn chế

Siêu âm phổi ở những BN bị vết thương lớn vùng ngực với vùng băng

rộng trên da và tràn khí dưới da làm hạn chế tiếp cận ở <1% đối tượng. BN

béo phì làm giảm chất lượng hình ảnh. [57]

- Siêu âm phổi đánh giá trong phạm vi từ nhu mô sát màng phổi đến độ

sâu 2-4 cm.

- Khơng thể chẩn đốn phân biệt hình ảnh B-lines của ứ huyết phổi khi

siêu âm phổi trên bệnh lý xơ hố màng hệ thống (trong đó có xơ hố phế

nang) cũng gây ra tình trạng ứ dịch phân ly (dịch phế nang tách biệt với nhu

mô phổi bị xơ và khô) [60]. Trong trường hợp này cần căn cứ thêm vào các

thăm khám lâm sàng, siêu âm tim. Một cách chính xác để xác định B-line trong

sung huyết phổi là dựa vào sự biến đổi cấp tính trong vòng vài phút vì chúng

tăng lên trong khi gắng sức [50] hoặc tăng tải [57] và giảm đi khi sử dụng thuốc

lợi tiểu [47] [39] hoặc lọc máu [48]. Ngoài ra còn có sự thay đổi số lượng B-line

theo tư thế BN phụ thuộc vào sự phân bố lượng dịch trong phổi, với số B-line ở

tư thế nằm ngửa nhiều hơn 25% so với tư thế ngồi [58]



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các BN được chẩn đốn suy tim có EF< 40% nằm điều trị nội trú tại

Viện Tim Mạch Việt Nam, bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2017 đến tháng 6/2018.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn BN

- BN chẩn đoán xác định là Suy tim phân suất tống máu giảm theo tiêu

chuẩn ESC 2016 [16] do mọi nguyên nhân .Chẩn đoán suy tim phân suất tống

máu giảm khi có đủ 2 tiêu chuẩn sau:

+ Tiêu chuẩn 1: có triệu chứng điển hình và/hoăc có dấu hiệu đặc hiệu

của suy tim

Triệu chứng điển hình: Khó thở khi gắng, khó thở liên quan đến tư thế,

khó thở kịch phát về đêm, mệt mỏi, phù chân.

Dấu hiệu đặc hiệu: TM cổ nổi, phản hồi gan TM cổ (+), phù ngoại vi,

nhịp tim nhanh có tiếng tim thứ 3, ran phổi

+ Tiêu chuẩn 2: EF < 40%

- BN được làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết, siêu âm tim, siêu âm phổi

theo mẫu bệnh án nghiên cứu, các xét nghiệm được làm ít nhất 2 lần trong thời

gian nằm viện (1 lần khi mới bắt đầu nhập viện, 1 lần trước khi ra viện).

- BN theo dõi sau ra viện 3tháng. Tiêu chí chính đánh giá: tái nhập viện

và tử vong do mọi nguyên nhân.

- BN đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- BN có tổn thương phổi ngun nhân khơng do tim: Viêm phổi thùy,

tắc mạch phổi, k phế quản, tràn dịch màng phổi không do tim, tâm phế mạn…

- BN có tình trạng ứ khí tại phổi: COPD, hen phế quản, tràn khí màng phổi…



- Có bệnh lý tim bẩm sinh hoặc bệnh van tim nặng nề sẽ được can thiệp hoặc

- Có bệnh lý trầm trọng khác kèm theo làm giảm thời gian sống và ảnh

hưởng đến tái nhập viện của BN:

+ Ung thư giai đoạn cuối, AIDS giai đoạn cuối

+ Suy gan, suy thận giai đoạn cuối

- BN suy tim có thai, BN dưới 18 tuổi

- BN khơng thu thập đủ số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu.

- BN có hình ảnh siêu âm tim và phổi khơng đủ tiêu chuẩn phân tích kết quả

- BN khơng theo dõi được sau ra viện.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thuần tập, bệnh nhân được theo dõi dọc đánh giá tại thời

điểm 3 tháng sau ra viện.

2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu: Áp dụng cơng thức ước tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ của tổ chức

y tế thế giới



+ p: Tỷ lệ biến cố gộp (tử vong và tái nhập viên) trong vòng 1 tháng ở

BN suy tim EF< 40% được lấy từ các nghiên cứu trước 40% => p = 0,4 (?)

Cỡ mẫu tính tốn được: n = 50 BN

Cơ mẫu nghiên cứu dự kiến là 55 BN ( sai số bỏ cuộc 10%)

Cách chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích. Tất

cả các BN có đủ tiêu chuẩn lựa chọn, khơng có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được

chọn vào mẫu nghiên cứu theo trình tự thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng

6/2018 cho đến khi đủ số lượng BN.

2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu (sơ đồ nghiên cứu mục 2.2.8)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Thang điểm Seattle Heart Failure Model: Ra đời năm 2006 dựa trên nghiên cứu PRAISE1 [37], giá trị tiên lượng của SHFM đã được kiểm chứng qua 5 nghiên cứu ELITE2 [38] , Val – HeFT [39], UW [40], RENAISSANCE [41] và INCHF [42]. SHFM dự đoán chính xác khả

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×