Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhóm TBS bất thường mạch máu đại diện là bệnh chuyển gốc động mạch có tỷ lệ chẩn đoán đúng hoàn toàn là 46,9% thấp hơn các nhóm khác. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Nhóm TBS bất thường mạch máu đại diện là bệnh chuyển gốc động mạch có tỷ lệ chẩn đoán đúng hoàn toàn là 46,9% thấp hơn các nhóm khác. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

4.1.1. Phân bố giới của nhóm nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ giới tính của bệnh nhi TBS là: nam

57,1% nữ 42,9% (biểu đồ 3.1). Tỷ lệ này tương tự với kết quả của Nguyễn

Trung Kiên (2011) tại bệnh viện Nhi Trung Ương với nam 59,2% và nữ

40,8% [24]. Theo nghiên cứu của Tegnander (2006) tại Na Uy trên 97 trẻ sơ

sinh có bệnh TBS, tỷ lệ nam : nữ là gần tương đương nhau [21]. Kết quả của

chúng tơi cho thấy khơng có sự khác biệt giữa nam và nữ ở trẻ sơ sinh có

bệnh TBS.

4.1.2. Phân bố nhóm nghiên cứu theo tuổi thai

Tuổi thai lúc sinh trung bình trong nghiên cứu của chúng tơi là 38,1 ± 1,2

tuần, trong đó thấp nhất là 32 tuần và cao nhất là 40 tuần, trẻ đủ tháng chiếm

89,6% (bảng 3.1). Nghiên cứu của Lai và cộng sự năm 2016 trên 111 trẻ sơ

sinh có bệnh TBS tại Hong Kong nhận thấy tuổi thai trung bình lúc sinh là 38

tuần (37-39 tuần). Theo Nguyễn Trung Kiên (2011) khơng tính bệnh lý còn

ống động mạch ở trẻ đẻ non thì tỷ lệ trẻ đủ tháng/ đẻ non là 28/8 [24], [25].

Kết quả này có thể giải thích vì đa số các bệnh TBS không gây ra đẻ non mà

thường chỉ biểu hiện khi trẻ được sinh ra khi có sự biến đổi của hệ tuần hoàn

và hoạt động của phổi. Trong những năm gần đây, nhờ có những tiến bộ trong

chẩn đoán và điều trị bênh TBS ở trẻ em mà nhiều trẻ dù đã có chẩn đốn

trước sinh vẫn được theo dõi đẻ và can thiệp sau khi sinh.

4.1.3. Phân bố nhóm nghiên cứu theo cân nặng lúc sinh

Tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh trên 2500g trong nghiên cứu của

chúng tôi là 77,3% (bảng 3.2). Kết quả này tương đồng với Nguyễn Trung



54



Kiên (2011) với tỷ lệ này ở trẻ sơ sinh có bệnh TBS tím là 31/40 [24]. Điều

này cho thấy đa số bệnh TBS ít ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai

trong tử cung.

4.1.4. Thời điểm phát hiện bệnh TBS

Nghiên cứu của chúng tơi nhận thấy tuổi thai trung bình của nhóm được

chẩn đoán TBS trước sinh tại thời điểm phát hiện là 23,5 ± 5,4 tuần, giai đoạn

16-22 tuần là giai đoạn phát hiện được nhiều nhất với 68 bệnh nhân chiếm

63,0% (bảng 3.3). Tuổi thai trung bình tại thời điểm phát hiện của chúng tôi

thấp hơn so với nghiên cứu của Rocha (2013) tại Brazil trên 271 trẻ với thời

điểm phát hiện là 28,9 ± 4,6 tuần. Theo Midan (2016) tại Ai Cập tuổi thai

thích hợp nhất để chẩn đốn bệnh TBS là 18-22 tuần. Thời điểm chẩn đoán

của chúng tôi gần giống với Tegnander (2006) tại Na Uy với tuổi thai lúc phát

hiện là 18 tuần và Lai (2016) tại Hong Kong với tuổi thai lúc phát hiện là 21

tuần [21], [25], [26], [27]. Kết quả này cho thấy bệnh TBS trong nhóm nghiên

cứu của chúng tơi có xu hướng được phát hiện vào lần siêu âm thai trong quý

2 của thai kỳ. Đây là thời điểm thuận lợi nhất để khảo sát các bất thường về

giải phẫu nói chung cũng như các bất thường về tim nói riêng vì tổn thương

lúc này có thể nhìn rõ hơn so với quý 1 và thai chưa quá to nên dễ dàng khảo

sát hơn so với quý 3.

4.1.5. Phân bố tuổi của sản phụ trong nhóm nghiên cứu

Tuổi của sản phụ trong nhóm nghiên cứu trung bình là 28,1±4,1 tuổi

trong đó nhóm tuổi hay gặp nhất là 25-30 với 59,7% (bảng 3.4). Kết quả này

gần giống với Isaksen (1999) với tuổi mẹ trung bình là 29 (18-43 tuổi) và

Sainz (2013) với tuổi mẹ trung bình là 30,03 ± 5,3 tuổi (14-47) [19], [28].

Điều này cho thấy thời điểm sinh con của sản phụ ở Việt Nam cũng tương tự

như các nước trên thế giới.



55



4.1.6. Tỷ lệ bệnh lý me

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 7 sản phụ có bệnh lý trước sinh

chiếm 4,5% trong đó có: 4 trường hợp đái tháo đường thai nghén, 2 trường

hợp mẹ bị sốt nghi do sốt virus và 1 trường hợp tiền sản giật (bảng 3.5). Tỷ lệ

bệnh lý mẹ trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi khá thấp có thể cho thấy

nhóm sản phụ bệnh lý khơng có sự khác biệt với nhóm sản phụ khỏe mạnh về

nguy cơ có con mắc bệnh TBS.

4.1.7. Tỷ lệ dị tật ngoài tim

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 9 bệnh nhân có kèm dị tật ngoài tim

chiếm 5,8% bao gồm 3 trường hợp Down, 2 trường hợp giãn não thất, 2

trường hợp dị tật tiết niệu, 1 trường hợp khe hở vòm hàm và 1 trường hợp tay

6 ngón (bảng 3.6). Tỷ lệ này tương tự với kết quả của Sainz (2013) với tỷ lệ dị

tật kèm theo là 11,5% (5,6-17,4%). Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với

Isaksen (1999) với tỷ lệ dị tật kèm theo là 41% [19], [28]. Sự khác biệt này có

thể là do nghiên cứu của Isaksen tiến hành trên nhóm thai nhi và bệnh nhi đã

tử vong và được chẩn đoán xác định bằng giải phẫu tử thi nên tỷ lệ dị tật cao

hơn so với nhóm trẻ sơ sinh trong nghiên cứu của chúng tôi.

4.1.8. Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh TBS

Biểu hiện lâm sàng chính trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi là triệu

chứng tiếng thổi tại tim với 119/154 trường hợp chiếm 77,3%, tiếp đó là triệu

chứng tím với 116 trường hợp chiếm 75,3%, triệu chứng mạch bẹn yếu được

phát hiện ở 9 trường hợp (5,8%) đều có hẹp eo ĐMC (bảng 3.7). Kết quả của

chúng tôi khác so với Nguyễn Trung Kiên (2011) với 57% bệnh nhân có triệu

chứng tại tim và 5,88% trẻ khơng có triệu chứng lâm sàng. Điều này có thể là

do nghiên cứu của chúng tơi được tiến hành trên những trẻ đã có chẩn đốn



56



trước sinh thường là những trẻ có dị tật tim lớn và gây ra triệu chứng rõ. Mặt

khác chúng tôi đã loại trừ nhóm còn ống động mạch ở trẻ sơ sinh ra khỏi

nhóm nghiên cứu trong khi đây lại là nhóm hay gặp trong nghiên cứu của

Nguyễn Trung Kiên (2011) [24].

Chúng tơi nhận thấy triệu chứng tím và tiếng thổi tại tim khơng có sự

khác biệt về tỷ lệ giữa hai nhóm phát hiện bệnh TBS trước và sau sinh. Ngược

lại triệu chứng mạch bẹn yếu lại tăng lên ở nhóm được phát hiện sau sinh

(2,8% lên 13%). Điều này cho thấy việc bắt mạch bẹn cho trẻ sơ sinh rất có

giá trị để nghĩ đến hẹp eo ĐMC.

Trong số 154 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu chỉ có 46 bệnh nhân

được làm sàng lọc SpO2 do 108 bệnh nhân có chẩn đốn trước sinh đều được

siêu âm tim ngay sau sinh và được chuyển đến các trung tâm tim mạch để

theo dõi trước khi đủ thời gian để tiến hành sàng lọc. Số bệnh nhân có sàng

lọc SpO2 dương tính là 32/46 chiếm 69,6% số bệnh nhân được sàng lọc (bảng

3.8). Kết quả này cũng tương tự kết quả của Nguyễn Thị Lam Hồng (2013)

với tỷ lệ dương tính là 66,7-74,3% cho thấy sàng lọc SpO2 là một phương

tiện có độ nhạy cao để phát hiện sớm các trường hợp tim bẩm sinh tím, nhất

là những trường hợp khơng được phát hiện bằng chẩn đoán trước sinh [29].

4.2. Đối chiếu kết quả chẩn đoán trước và sau sinh bệnh TBS

4.2.1. Đới chiếu kết quả chẩn đốn trước và sau sinh của nhóm TBS có

shunt trái - phải

Trong số các bệnh TBS có shunt chúng tơi nhận thấy thơng liên thất là

bệnh hay gặp nhất chiếm 22,7% trong kết quả chẩn đoán trước sinh và 30,5%

trong kết quả chẩn đoán sau sinh (bảng 3.9 và 3.10). Kết quả này tương tự với

kết quả của Tensted (1999) tại Đức là 28% và của Isaksen (1999) tại Na Uy là



57



28,6%. Tỷ lệ này của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Lai (2016) tại

Hong Kong có thơng liên thất là 6,3% và Tegnader (2006) tại Na Uy là 9%

[19], [21], [25], [30]. Theo Nguyễn Trung Kiên (2011) tỷ lệ thông liên thất là

8,89% nếu khơng kể còn ống động mạch trên trẻ đẻ non. Do thông liên thất là

một trong những bệnh TBS phổ biến và thường có thể dễ dàng nhận thấy trên

mặt cắt 4 buồng trong siêu âm tim thai nên thường được các bác sỹ siêu âm

sản khoa loại trừ đầu tiên. Đây có thể là lý do vì sao trong nghiên cứu của

chúng tơi tỷ lệ phát hiện thơng liên thất trong chẩn đốn trước sinh cao. Tỷ lệ

phát hiện trước sinh của thông liên thất là 74,5% (bảng 3.11). Tỷ lệ này của

chúng tôi là khá cao và tương tự như kết quả của Khoshnood (2004) tại Pháp

với tỷ lệ phát hiện thông liên thất trước sinh là 61,4%. Kết quả này cao hơn so

với Tegnander (2006) và Quartermain (2015) với kết quả chẩn đoán đúng

trước sinh thông liên thất lần lượt là 33% và 12,3% [20],[21], [22].

Thông liên nhĩ trong nghiên cứu của chúng tơi khơng được phát hiện

trước sinh vì trong thời kỳ bào thai luôn tồn tại lỗ thông tự nhiên ở tầng nhĩ đó

là lỗ Botal. Sau đẻ trẻ khơng tím và bệnh khơng rầm rộ vì vậy chẩn đốn còn

khó khăn, theo bảng 3.11 trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 7 bệnh nhân

phát hiện ở thời kỳ sơ sinh chiếm 4,5%.

Cũng theo bảng 3.11 kênh nhĩ thất toàn bộ có tỷ lệ mắc trước sinh và

sau sinh tương ứng là 7,1% và 11,0%. Tỷ lệ của chúng tôi giống với Isaksen

(1999). Tỷ lệ phát hiện trước sinh của bệnh kênh nhĩ thất là 64,7%. Kết quả

này tương tự với kết quả của Velzen (2016) tại Hà Lan có tỷ lệ phát hiện kênh

nhĩ thất trước sinh là 67% và Tegnander (2006) với tỷ lệ 71% phát hiện trước

sinh. Tỷ lệ phát hiện trước sinh cao có thể là do biểu hiện bệnh khá rõ trên

siêu âm trước sinh và được nhiều bác sỹ chú ý loại trừ [19], [21], [23].



58



4.2.2. Đới chiếu kết quả chẩn đốn trước và sau sinh của nhóm TBS tắc

nghẽn đường ra các thất

Bảng 3.12 cho thấy hẹp van ĐMP có tỷ lệ mắc trước và sau sinh là 8,4%

và 11,7%. Tỷ lệ phát hiện trước sinh của chúng tôi là 72,2%. Tỷ lệ phát hiện

này cao hơn nghiên cứu của Tegnander (2006) và Quartermain (2015) với kết

quả lần lượt là 25% và 26,5% [21], [22]. Điều này có thể là do tỷ lệ phát hiện

sau sinh của các nghiên cứu trên cao hơn do tiến hành trong thời gian dài hơn

và trên số lượng bênh nhân lớn hơn. Hẹp van ĐMP nhẹ có thể khơng có biểu

hiện trong giai đoạn sớm và khó phát hiện trong giai đoạn sơ sinh.

Hẹp van ĐMC trong nghiên cứu của chúng tơi có 3 trường hợp và đều

được phát hiện trước sinh (bảng 3.12). Nghiên cứu của Quartermain (2015) có

tỷ lệ phát hiện hẹp van ĐMC trước sinh là 26,5% [22]. Tỷ lệ của chúng tôi

cao hơn có thể là do có trường hợp sau sinh chưa được phát hiện.

Hẹp eo ĐMC có tỷ lệ mắc trước và sau sinh trong nghiên cứu của chúng

tôi là 2,6% và 7,8% (bảng 3.12). Tỷ lệ này tương tự với tỷ lệ của Lai (2016) là

6,3% và của Tegnander (2006) là 9%. Tỷ lệ phát hiện trước sinh của chúng tôi

là 33,3% tương đồng vời nghiên cứu của Quartermain (2015) là 25,5%,

Tegnander (2006) là 44% và Velzen (2016) là 25,7% [21], [22], [23], [25]. Tỷ

lệ phát hiện trước sinh của hẹp eo ĐMC thấp hơn các bệnh khác trong nhóm có

thể là do dị tật này khó phát hiện hơn trên siêu âm thai, mặt khác dị tật này có thể

xuất hiện ở giai đoạn sau của thai kỳ nên có thể bỏ sót ở thời điểm sớm.

Tỷ lệ mắc trước và sau sinh của bệnh Fallot4 trong nghiên cứu của

chúng tôi là 9,7% và 13% (bảng 3.12). Tỷ lệ phát hiện trước sinh của Fallot4

là 75%. Tỷ lệ mắc của chúng tôi tương tự như Landis (2013) với tỷ lệ 11,3%

và cao hơn của Tennsted (1999) và Isaksen (1999). Tỷ lệ phát hiện trước sinh

của chúng tôi tương tự như của Khoshnood (2017) là 68,3% và cao hơn so với

nghiên cứu của Chew và cộng sự tại Australia năm 2007 với tỷ lệ phát hiện



59



trước sinh là 43,1% [19], [30], [32], [33]. Tỷ lệ phát hiện cao có thể là do

Fallot 4 là một bệnh TBS hay gặp và có nhiều biểu hiện nên thường được các

bác sỹ đánh giá kỹ khi phát hiện 1 trong số các biểu hiện của bệnh.

4.2.3. Đới chiếu kết quả chẩn đốn trước và sau sinh nhóm TBS bất

thường mạch máu

Kết quả của chúng tôi tại bảng 3.13 cho thấy tỷ lệ mắc trước và sau sinh

của bệnh thất phải 2 đường ra lần lượt là 3,9% và 5,2%. Kết quả này của

chúng tôi tương tự với kết quả của Nguyễn Trung Kiên (2011): tỷ lệ mắc thất

phải 2 đường ra ở trẻ đủ tháng là 5,25%, với Tegnander (2006) có tỷ lệ mắc là

3%. Tỷ lệ phát hiện trước sinh của thất phải hai đường ra trong nghiên cứu

của chúng tôi là 75%. Tỷ lệ này của chúng tôi thấp hơn của Velzen (2016) với

kết quả 82,9% và tương tự như Tegnander (2006) với kết quả 67,7% [21],

[23], [24]. Sự khác biệt với nghiên cứu của Velzen có thể là do số lượng bệnh

nhân của chúng tơi còn ít. Thất phải 2 đường ra là một bất thường tim nặng

nhưng nếu được phát hiện trước sinh thì gia đình và nhân viên y tế có thể có

sự chuẩn bị để tăng cơ hội sống cho những trẻ mắc bệnh.

Từ bảng 3.13 cũng có thể thấy tỷ lệ mắc trước và sau sinh của bệnh

chuyển gốc động mạch trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là 11% và

13,6%. Tỷ lệ này tương tự với Tegnander (2006) với kết quả 17% và cao hơn

của Nguyễn Trung Kiên (2011) với kết quả 5,19% [21], [24]. Chuyển gốc

động mạch là 1 bệnh TBS gây tím sớm và nhiều trường hợp tử vong ngay sau

sinh hoặc trước khi được chẩn đoán xác định tuy nhiên nghiên cứu của chúng

tơi có điều kiện siêu âm tim cho tất cả những trẻ nghi ngờ có tim bẩm sinh

ngay sau sinh nên số trường hợp này có thể ít hơn so với nghiên cứu của

Nguyễn Trung Kiên được tiến hành trên những trẻ nhập viện sau một thời

gian chăm sóc tại nhà.



60



Tỷ lệ phát hiện trước sinh của bệnh chuyển gốc động mạch là 81%. Tỷ lệ

cao hơn so với các nghiên cứu của Tegnander (2006) là 59% [21]. Sự khác

biệt này có thể là do sự tiến bộ về cơng nghệ và kinh nghiệm của bác sỹ trong

chẩn đốn TBS bằng siêu âm tim thai trong suốt hơn 10 năm qua.

TMP trở về bất thường là một bênh TBS hiếm gặp và khó chẩn đốn cả

trên siêu âm trước sinh và sau sinh. Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 2

trường hợp được chẩn đốn trước sinh và 1 trường hợp được phát hiện mới

sau sinh. Tỷ lệ phát hiện trước sinh của chúng tôi là 66,7%. Tỷ lệ thấp hơn

của Tegnander (2006) với kết quả 100% [21]. Do số lượng bênh nhân mắc ít

và biểu hiện lâm sàng tại tim thường nghèo nàn nên bệnh TMP trở về bất

thường có nguy cơ bị bỏ sót và chưa được quan tâm đúng mức.

Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh thân chung động mạch có tỷ lệ

mắc thấp (2,6% trước sinh và 3,2% sau sinh). Tỷ lệ phát hiện trước sinh là

80% (bảng 3.13). Tỷ lệ này giống với Velzen (2016) là 85,2% [23]. Có thể do

biểu hiện trên siêu âm tim thai của bệnh khá rõ và số lượng bệnh nhân ít nên

tỷ lệ chẩn đốn trước sinh có xu hướng cao hơn các bệnh khác.

4.2.4. Đới chiếu kết quả chẩn đoán trước và sau sinh

nhóm các bệnh TBS khác

Trong bảng 3.14, chúng tơi trình bày quả chẩn đoán của một số bệnh

TBS hiếm gặp hơn. Tỷ lệ mắc của thiểu sản thất trái và thiểu sản thất phải

trong nghiên cứu của chúng tôi đều là 3,9% và khơng có khác biệt giữa chẩn

đốn trước và sau sinh. Nghiên cứu của Isaksen năm 1999 tương tự với chúng

tôi về tỷ lệ mắc thiểu sản thất phải là 3,6% nhưng có tỷ lệ mắc thiểu sản thất

trái cao hơn là 8,9%. Tỷ lệ phát hiện trước sinh của chúng tôi là 100% tương

tự như Velzen (2016) về tỷ lệ phát hiện thiểu sản thất trái là 97,6%[19],[23].

Đây là 2 bệnh TBS nặng tiên lượng sau sinh rất xấu nên thường được tư vấn

đình chỉ thai nghén nếu phát hiện. Biểu hiện tổn thương trên siêu âm tim thai



61



khá rõ ràng với mặt cắt 4 buồng nên tỷ lệ chẩn đoán đúng rất cao và sản phụ

thường được tư vấn đình chỉ thai nghén sớm. Có thể vì ngun nhân này nên

số lượng bệnh nhân của 2 bệnh này của chúng tơi khá ít và có sự thống nhất

giữa chẩn đốn trước và sau sinh.

Teo van 3 lá trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi chỉ phát hiện 1 trường

hợp chiếm 0,6%. U cơ tim có 5 trường hợp chiếm 3,2%. Kết quả của chúng

tôi tương tự như Isaksen (1999) với u cơ tim là 0,6% [19]. Cả 2 đều có sự

đồng nhất giữa chẩn đốn trước và sau sinh. Đây là một bệnh TBS hiếm

nhưng có tổn thương điển hình trên siêu âm tim thai nên tỷ lệ chẩn đốn trước

sinh cao.

Bệnh Ebstein trong nghiên cứu của chúng tơi có 3 trường hợp phát hiện

mới sau sinh, với tỷ lệ mắc sau sinh là 3,2% và tỷ lệ phát hiện trước sinh là

40%. Tỷ lệ mắc của chúng tôi tương tự như Tegnander (2006) là 1%. Tỷ lệ

phát hiện trước sinh theo nghiên cứu của Velzen (2016) là 32,3%[21], [23].

Đây là một bệnh hiếm gặp và có nhiểu thể lâm sàng trong đó những thể nhẹ

thường khó xác định trên siêu âm trước sinh do đó tỷ lệ bỏ sót còn khá cao.

4.2.5. Tỷ lệ chẩn đốn đúng trước sinh bệnh TBS

Tỷ lệ chẩn đoán đúng trước sinh bệnh TBS trong nghiên cứu của chúng

tơi là 70,1% trong đó chẩn đốn đúng hồn tồn là 61,7% và chẩn đốn đúng

một phần là 8,4% (bảng 3.15). Kết quả này tượng tự với kết quả của Isaksen

(1999) là 73% chẩn đoán đúng. Tỷ lệ này ở nghiên cứu của Velzen (2016) là

59,7% và của Tegnander (2006) là 57% [19],[21],[23]. Điều này cho thấy tỷ lệ

chẩn đoán trước sinh bệnh TBS ngày nay đã có nhiều tiến bộ. Sự phát triển

trong cơng nghệ và kinh nghiệm chẩn đoán đã giúp phát hiện nhiều bệnh TBS

phức tạp, cùng với tiến bộ trong lĩnh vực điều trị đã làm cải thiện đáng kể tỷ

lệ đình chỉ thai nghén và làm tăng cơ hội sống cho nhiều trẻ có bệnh TBS.

Mặc dù vậy tỷ lệ bệnh nhân chưa được chẩn đốn trước sinh vẫn còn là một



62



con số đáng kể. Nghiên cứu của chúng tôi có 29,9% số bệnh nhân được phát

hiện sau sinh tuy nhiên con số này có thể còn cao hơn nữa do chúng tôi không

thể tiến hành siêu âm sàng lọc tất cả các trẻ sơ sinh và có nhiều bệnh TBS

khơng có biểu hiện trong giai đoạn đầu. Kỹ thuật và kinh nghiệm của bác sỹ

siêu âm cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chẩn đoán bệnh TBS,

các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng nên có sự kết hợp giữa bác sỹ sản

khoa, bác sỹ tim mạch nhi, bác sỹ sơ sinh và bác sỹ phẫu thuật để có được

chẩn đốn và phác đồ điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

4.3. Một số yếu tố liên quan đến chẩn đốn trước sinh bệnh TBS

4.3.1. Mới liên quan giữa chẩn đoán trước sinh bệnh TBS

và cân nặng lúc sinh

Bảng 3.16: Tỷ lệ chẩn đốn đúng hồn tồn của nhóm có cân nặng lúc

sinh từ 2500g trở xuống là 74,3% và nhóm có cân nặng lúc sinh trên 2500g là

58,0%. Chúng tơi khơng tìm thấy mối liên quan giữa cân nặng lúc sinh và tỷ

lệ chẩn đoán đúng trước sinh. Điều này cũng dễ hiểu vì bệnh TBS thường

không ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi trong tử cung.

4.3.2. Mối liên quan giữa chẩn đoán trước sinh bệnh TBS

và t̉i thai lúc sinh

Bảng 3.17: Nhóm có tuổi thai lúc sinh từ 32-36 tuần có tỷ lệ chẩn đốn

đúng hồn tồn là 80,1%, nhóm 37-38 tuần có tỷ lệ chẩn đốn đúng hồn tồn

là 67,7% và nhóm 39-40 tuần là 52,6%. Tỷ lệ chẩn đốn đúng có xu hướng

giảm khi tuổi thai lúc sinh tăng lên vì đa số những trẻ được phát hiện sau sinh

là trẻ đủ tháng. Chúng tơi cũng khơng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa tỷ lệ chẩn đốn đúng trước sinh và tuổi thai lúc sinh.

4.3.3. Mới liên quan giữa chẩn đoán trước sinh bệnh TBS và tuổi sản phụ

Trong nghiên cứu của chúng tơi, nhóm sản phụ trên 35 tuổi có tỷ lệ chẩn

đốn đúng cao nhất (83,3%) tiếp theo là nhóm dưới 25 tuổi (77,8%), nhóm



63



31-35 tuổi và 25-30 tuổi có tỷ lệ chẩn đốn đúng hoàn toàn gần giống nhau

(65,5% và 54,3%) (bảng 3.18). Kết quả này có thể là vì nhóm sản phụ trên 35

tuổi có số lượng ít hơn và là được coi là nhóm có nguy cơ cao nên được khảo

sát kỹ hơn. Tuy nhiên chúng tôi chưa nhận thấy mối liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa tuổi phụ và tỷ lệ chẩn đốn đúng trước sinh bệnh TBS.

4.3.4. Mới liên quan giữa chẩn đoán trước sinh bệnh TBS và thời điểm

chẩn đoán

Bảng 3.19 thể hiện mối liên quan giữa thời điểm chẩn đoán và tỷ lệ chẩn

đoán đúng của nhóm được chẩn đốn bênh TBS trước sinh: tỷ lệ chẩn đốn

đúng của nhóm phát hiện trước 22 tuần là cao nhất (91,2%). Tỷ lệ chẩn đốn

đúng có xu hướng giảm ở thời điểm cuối thai kỳ do đa số các bất thường lớn

đã được phát hiện ở quý 1 và quý 2. Số lượng phát hiện trong quý 3 ít hơn và

thường là những bất thường khó chẩn đốn hơn nên tỷ lệ chẩn đoán đúng thấp

hơn. Nghiên cứu của chúng tơi khơng thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê

giữa tỷ lệ chẩn đoán đúng và thời điểm phát hiện trước sinh.

4.3.5. Mối liên quan giữa chẩn đoán trước sinh bệnh TBS

và cơ sở chẩn đoán

Siêu âm thai là một xét nghiệm thường quy được chỉ định tại các cơ sở y

tế khi thăm khám sản khoa. Do điều kiện trang thiết bị và nhân lực của mỗi cơ

sở khác nhau mà có thể ảnh hưởng một phần đến kết quả chẩn đốn trước sinh

nói chung và bệnh TBS nói riêng.

Trong số 108 bệnh nhân có chẩn đốn trước sinh của chúng tơi có 57

bệnh nhân được phát hiện bệnh TBS tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

chiếm 52,8%, 34 bệnh nhân được phát hiện bệnh tại các phòng khám tư nhân

chiếm 31,5%% và 17 bệnh nhân được phát hiện tại các bệnh viện tuyến tỉnh

chiếm 15,7% (bảng 3.20). Kết quả này có thể là do bệnh viện Phụ Sản Trung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhóm TBS bất thường mạch máu đại diện là bệnh chuyển gốc động mạch có tỷ lệ chẩn đoán đúng hoàn toàn là 46,9% thấp hơn các nhóm khác. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×