Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Siêu âm tim thai là một khám nghiệm đặc biệt cần được thực hiện bởi các chuyên gia đã quen thuộc với các chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước sinh.

Siêu âm tim thai là một khám nghiệm đặc biệt cần được thực hiện bởi các chuyên gia đã quen thuộc với các chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước sinh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



- Tiến bộ của chăm sóc bệnh TBS được thực hiện bởi sự giúp sức của nội

ngoại khoa và nghiên cứu cơ bản. Năm 1936, Maude Abbott xuất bản cuốn

Atlas of Congenital Heart Desease, thực hiện giải phẫu bệnh trên 1000 trường

hợp bệnh TBS, đã đặt nền móng cho sự hiểu biết về bệnh TBS. Thập niên

1940, Robert Gross và Alfred Blalock thực hiện phẫu thuật tim kín đầu tiên.

Năm 1954, Walter Lillihei thực hiện phẫu thuật tim hở đầu tiên ở bệnh nhân

Tứ chứng Fallot. Năm 1956, các Andre F. Cournand, Dickenson W. Richards

và Werner Forssman được giải thưởng Nobel nhờ sáng tạo ra thông tim, giúp

hiểu biết hơn về giải phẫu và sinh lý của tim. Các tiến bộ của ngành vật lý,

hóa học, cơ học, … các phát kiến mới về những phương thuốc xử trí bệnh đã

góp phần tạo nhiều tiến bộ trong điều trị bệnh TBS phức tạp.

- Trong lĩnh vực chẩn đoán trước sinh, trên thế giới đã có nhiều nghiên

cứu về hiệu quả và sự tiến bộ của siêu âm trước sinh đặc biệt là siêu âm tim

thai chẩn đoán bệnh TBS. Năm 1999 Isaksen và cộng sự đã tiến hành nghiên

cứu 408 thai nhi và trẻ sơ sinh tại Na Uy có bất thường bẩm sinh đã tử vong

được làm giải phẫu bệnh để so sánh tổn thương giữa trước và sau sinh,

Nghiên cứu này nhận thấy trong số 106 trẻ có bất thường TBS có 73% được

chẩn đốn trước sinh, nếu chỉ tính những bất thường tim lớn thì tỷ lệ này là

91% [19].

- Năm 2004 Khoshnood và cộng sự đã công bố một nghiên cứu đánh giá

sự tiến bộ của siêu âm trước sinh trong chẩn đoán bệnh TBS tại Pháp từ năm

1983 đến năm 2000. Theo Khoshnood tỷ lệ phát hiện trước sinh bệnh TBS

tăng từ 23,0% giai đoạn 1983-1988 lên 47,5% giai đoạn 1995-2000 [20].

- Năm 2006 Tegnander công bố nghiên cứu trên 30149 thai nhi tại Na Uy

được siêu âm trước sinh và siêu âm tim thai chuyên sâu khi có chỉ định đối

chiếu với kết quả chẩn đoán và phẫu thuật sau sinh phát hiện 430 trường hợp

có TBS trong đó có 97 trường hợp có bệnh TBS phức tạp và chẩn đốn trước

sinh đã góp phần giúp chuẩn bị tốt cho điều trị sau sinh [21].



27



- Năm 2015 Quartermain và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đối chiếu

chẩn đoán trước và sau sinh bệnh TBS dựa trên dữ liệu của nhiều trung tâm

phẫu thuật ở tất cả các bang của Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy sự khác nhau giữa

các trung tâm cũng như các bệnh TBS trong tỷ lệ phát hiện trước sinh và sự

cần thiết cải thiện tỷ lệ phát hiện trước sinh bệnh TBS [22].

- Năm 2016 trong một nghiên cứu tại Hà Lan, Velzen cũng đưa ra tỷ lệ

phát hiện trước sinh dựa trên kết quả chẩn đoán siêu âm trước sinh và chẩn

đoán xác định sau sinh [23].

 Tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, bệnh TBS ngày càng được

quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ

thuật, công tác chẩn đốn và điều trị bệnh TBS đã có nhiều bước tiến đáng kể

nhờ sự phổ biến rộng rãi của siêu âm doppler tim, chụp MSCT, thông tim can

thiệp và nhiều kỹ thuật mới khác. Chẩn đoán trước sinh giúp phát hiện sớm và

điều trị kịp thời cho các trẻ mắc bệnh TBS, nâng cao chất lượng điều trị và

giảm chi phí cho gia đình bệnh nhân. Năm 1996 Phạm Gia Khải báo cáo về

vai trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh TBS. Các phương pháp chẩn đoán

và điều trị mới đã được áp dụng giúp giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng của

bệnh TBS.

Năm 2011, Nguyễn Trung Kiên đã tiến hành nghiên cứu xác định mơ

hình bệnh TBS tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Trung Ương dựa trên kết quả

siêu âm tim qua thành ngực [24].

Tuy nhiên, hiện nay việc chẩn đoán và điều trị bệnh TBS cho trẻ em vẫn

còn gặp nhiều khó khăn do đây là một bệnh lý phức tạp, cần những trang thiết

bị hiện đại để chẩn đốn chính xác. Tại Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào

đối chiếu kết quả chẩn đoán trước và sau sinh bệnh TBS do siêu âm tim và

siêu âm tim thai là một kỹ thuật khơng phải bệnh viện nào cũng làm được. Vì

thế việc chẩn đốn còn khó khăn nên tỷ lệ trẻ mắc TBS được phát hiện muộn



28



ở nước ta vẫn còn cao dẫn đến giảm kết quả điều trị và tiên lượng lâu dài.

Việc theo dõi và điều trị bệnh TBS cần được thực hiện bởi các bác sỹ chuyên

khoa về tim mạch nhi và phẫu thuật tim mạch nhi. Trong điều kiện của nước

ta hiện nay chưa có nhiều cơ sở y tế có đủ trang thiết bị và nhân lực để đáp

ứng nhu cầu chẩn đoán và điều trị của trẻ mắc bệnh TBS.



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Các trẻ sinh tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 8/2017 đến hết

tháng 8/2018.

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu:

+ Bệnh nhân được chẩn đốn trước sinh có bệnh TBS bằng siêu âm tim

thai và được siêu âm tim sau sinh để đánh giá lại.

+ Bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh TBS qua sàng lọc đo SpO2 hoặc khám

lâm sàng. Sau đó được chẩn đốn xác định có bệnh TBS bằng siêu âm tim.

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những trẻ không được làm siêu âm tim sau sinh.

- Những trẻ không được làm siêu âm trước sinh.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu một loạt ca bệnh

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2017 đến hết tháng 8/2018.

2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện: lấy tất cả các bệnh nhân thỏa mãn

tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu.



29



2.2.3. Các bước tiến hành















Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng,

Hỏi tiền sử bệnh tật của mẹ và quá trình mang thai.

Sàng lọc bệnh TBS bằng đo SpO2.

Chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng và siêu âm tim.

Siêu âm tim xác định chẩn đoán bởi các bác sỹ chuyên khoa tim mạch.

Các bệnh TBS phức tạp, siêu âm ít nhất 2 lần và hội chẩn các bác sĩ



tim mạch để thống nhất chẩn đoán.

 Đối chiếu kết quả siêu âm tim với chẩn đoán trước sinh

 Những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật hay can thiệp tim mạch (có

sự hội chẩn của bác sĩ chuyên khoa Tim mạch – Bệnh viện Tim Hà Nội) sẽ

được chuyển trung tâm tim mạch bệnh viện Nhi Trung Ương hoặc bệnh viện

Tim Hà Nội điều trị.

 Thu thập bệnh nhân theo một mẫu bệnh án thống nhất.

2.2.4. Nội dung nghiên cứu và biến sớ nghiên cứu

*Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:

- Tuổi thai: tính theo tuần, áp dụng thang điểm Newballad

o Nhóm đẻ non: nhỏ hơn 37 tuần

o Nhóm đủ tháng: từ 37 tuần trở lên

- Giới tính: nam/nữ

- Cân nặng lúc sinh: tính theo gram. Chia cân nặng theo hai mức độ : ≤

2500g và > 2500g

- Tuổi của mẹ khi mang thai: tính theo năm

- Bệnh lý của mẹ khi mang thai: tiểu đường, sốt, tiền sản giật…

- Trẻ có biểu hiện dị tật ngồi tim như tật thừa ngón, khe hở vòm hàm,

giãn não thất, dị tật tiết niệu…

- Biểu hiện lâm sàng của bệnh TBS:

+ Biểu hiện tím: có hay khơng, có đặc điểm của tím do nhóm TBS có

tím khơng?

+ Tiếng thổi ở tim: có hay khơng

+ Mạch bẹn bắt yếu: có hay khơng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Siêu âm tim thai là một khám nghiệm đặc biệt cần được thực hiện bởi các chuyên gia đã quen thuộc với các chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước sinh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×