Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thần kinh bì bắp chân trong (medial sural cutaneous nerve). Thần kinh này tách ra ở khoeo, đi xuống giữa hai đầu cơ bụng chân, xuyên qua mạc cẳng chân ở chỗ nối 1/3 trên và 1/3 giữa và tiếp nhận nhánh nối mác (nhánh nối bắp chân) của thần kinh mác chung t

Thần kinh bì bắp chân trong (medial sural cutaneous nerve). Thần kinh này tách ra ở khoeo, đi xuống giữa hai đầu cơ bụng chân, xuyên qua mạc cẳng chân ở chỗ nối 1/3 trên và 1/3 giữa và tiếp nhận nhánh nối mác (nhánh nối bắp chân) của thần kinh mác chung t

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



Thần kinh mác sâu (deep peroneal nerve). Từ nơi xuất phát (ở giữa

xương mác và cơ mác dài), thần kinh này đi chếch ra trước dưới mặt sâu cơ

duỗi các ngón chân dài tới mặt trước màng gian cốt, tiếp cận động mạch chày

trước ở phần ba trên cẳng chân.

Thần kinh mác nông (superficial peroneal nerve). Từ chỗ chẽ đôi của

thần kinh mác chung ở dưới mặt sâu cơ mác dài, thần kinh này đi xuống dưới

và ra trước ở giữa các cơ mác và cơ duỗi các ngón chân dài rồi xuyên qua

mạc cẳng chân ở phần ba dưới cẳng chân và chia thành các thần kinh bì mu

chân trong và trung gian. Trước khi chia đơi, nó phân nhánh vào cơ mác dài,

cơ mác ngắn và da phần dưới mặt ngoài cẳng chân [14].

3.



1.3. Siêu âm trong gây tê mổ khớp gối

Sóng siêu âm là sóng âm thanh có tần số 20.000 Hertz (Hz) hoặc cao



hơn, đầu dò sử dụng nhiều nhất trong gây tê vùng có tần số từ 7 - 15

Megahertz (MHz) [19]. Sóng siêu âm được tạo ra khi một tín hiệu điện được

đặt trên một vật bán dẫn và là các lực bán dẫn rung (sau đó rung được thực

hiện thơng qua cơ thể). Sóng siêu âm được đặc trưng bởi một bước sóng và

tần số. Mối quan hệ giữa các biến theo công thức sau: c = λ x f; trong đó c =

vận tốc lan truyền (coi là 1540 m/s trong cơ thể con người), λ là bước sóng, f

là tần số. Do đó nếu c là hằng số, khi đó tăng tần số của sóng siêu âm, các

bước sóng sẽ giảm tương ứng [19], [20].

Sự suy giảm là sự mất mát của năng lượng sóng siêu âm khi nó di

chuyển qua mơ, sóng siêu âm tần số thấp sẽ thâm nhập sâu vào cơ thể hơn

sóng siêu âm có tần số cao. Độ phân giải: tia siêu âm tần số thấp (có bước

sóng rộng) nên chùm tia siêu âm sẽ thâm nhập sâu hơn nhưng độ phân giải

kém hơn tia siêu âm tần số cao (có bước sóng hẹp hơn) [19], [20].



12



Các khái niệm về trở kháng và phản chiếu tạo thành “hình ảnh” cho gây

tê vùng dưới hướng dẫn siêu âm. Trở kháng có thể được gọi là xu hướng của

một phương tiện để tiến hành siêu âm. Khi một làn sóng âm thanh đi qua một

vật và tiếp xúc một vật liền kề với trở kháng âm khác nhau, một ranh giới

được hình thành (ví dụ mơ thần kinh được bao quanh bởi các mô mỡ). Phản

chiếu xảy ra tại giao diện giữa các vật có trở kháng âm thanh khác nhau. Độ

rộng khác nhau của các âm thanh trở kháng thì càng tăng phản chiếu. Vật

được phản chiếu cao được hiển thị màu trắng hoặc tăng âm (xương, gân, cân

và một số dây thần kinh). Các vật phản chiếu sóng siêu âm là tối hoặc giảm

âm (cơ, mơ mỡ, và một số dây thần kinh). Mạch máu không bắt sóng siêu và

xuất hiện màu đen [21].

Cơ bắp thường giảm âm với đường kẻ sọc bên trong, và hình dạng của

cơ bắp khác nhau và sự xuất hiện đặc trưng của lớp cân phân chia cơ ra thành

kiểu đặc trưng và trở nên dễ nhận biết tại mỗi vùng trên siêu âm. Xương phản

chiếu trên sóng siêu âm là một vật tăng âm, sáng kèm theo bóng cản sâu tới

cạnh đáy. Tĩnh mạch và động mạch là giảm âm, tròn, hoặc hình bầu dục ở trục

ngắn. Tĩnh mạch có thể dễ dàng bị xẹp khi ấn đầu dò và có sự thay đổi về

đường kính theo hơ hấp, trong khi khi động mạch nảy theo nhịp tim, sử dụng

doppler màu để xác định các cấu trúc mạch máu [20].

Một đầu dò có kích thước và tần số phù hợp là cần thiết trong gây tê vùng

dưới hướng dẫn siêu âm. Dựa vào tần số của đầu dò mà người ta chia đầu dò

ra làm 3 loại: tần số cao (8 - 12 MHz), trung bình (6 - 10 MHz), và thấp (2 - 5

MHz), thông thường người ta sử dụng đầu dò đa tần. Đầu dò có tần số cao để

dò các các dây thần kinh ở nơng: nhìn rõ trong độ sâu từ 2 - 4 cm. Đầu dò có

tần số trung bình để xem cấu trúc thần kinh ở sâu hơn: nhìn các cấu trúc trên 4

- 5 cm, ví dụ như gây tê thần kinh hơng to ở mơng, gây tê cạnh cột sống ngực.

Ngồi ra máy siêu âm có doppler màu là rất cần thiết trong gây tê vùng



13



4.



1.4. Các phương pháp giảm đau khớp gối



1.4.1. Giảm đau đường tồn thân

1.4.1.1. Thuốc paracetamol

Có tác dụng giảm đau nhẹ và trung bình, có tác dụng hạ sốt nhưng khơng

có tác dụng chống viêm [22].

- Chỉ định: sử dụng đơn độc sau các phẫu thuật nhỏ và đau ít, được dùng

phối hợp với các thuốc giảm đau họ morphin sau phẫu thuật thận - niệu quản.

1.4.1.2. Thuốc giảm đau chống viêm non-steroid (AINS)

- Ưu điểm: có tác dụng giảm đau trung ương và ngoại vi. Giảm đau nhẹ

và trung bình, khi phối hợp với morphin làm tiết kiệm 20 - 40% lượng

morphin.

- Nhược điểm: thời gian chờ tác dụng kéo dài và khơng đủ kiểm sốt đau

nhiều sau mổ. Tác dụng phụ trên tiêu hóa, đơng máu và thận [22].

1.4.1.3. Thuốc nepopam

-



Là thuốc giảm đau trung ương khơng thuộc nhóm họ morphin.

Chỉ định: sử dụng giảm đau sau mổ trong trường hợp đau mức độ nhẹ và



-



trung bình.

Chống chỉ định: động kinh, glocom góc đóng, u xơ tuyến tiền liệt [22].

1.4.1.4. Các thuốc giảm đau họ morphin

- Chuẩn độ morphin ở phòng hồi tỉnh: chiếm tỷ lệ 21%, đây là phương

pháp cho phép giảm đau nhanh thích nghi với nhu cầu của bệnh nhân. Chuẩn

liều morphin là tiêm tĩnh mạch trực tiếp 2 - 3 mg cách nhau 5 - 10 phút cho đến

khi điểm đau VAS ≤ 4. Biến chứng: buồn ngủ, suy hô hấp (1 - 2,5%) [22-23].

- Tiêm morphin dưới da:

+ Ưu điểm: đây là phương pháp dễ thực hiện, hiệu quả giảm đau khá tốt.

+ Nhược điểm: nồng độ của thuốc thay đổi rất lớn trong huyết tương, có

những giai đoạn nồng độ thuốc trên hoặc dưới ngưỡng giảm đau của bệnh

nhân, có thiếu sót trong chỉ định (liều khơng đủ, khoảng cách giữa hai lần

tiêm quá dài và không tôn trọng chỉ định bởi các điều dưỡng viên) [23].

- Giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát với các thuốc giảm đau họ

morphin bệnh nhân tự kiểm soát đường tĩnh mạch: chiếm tỷ lệ 21.4%.



14



+ Ưu điểm: đây là phương thức giảm đau tốt, nồng độ morphin trong

huyết tương luôn ổn định nên duy trì hiệu quả giảm đau, tránh được an thần

quá mức hoặc giảm đau không tốt [22-23].

+ Nhược điểm: PCA khơng có hiệu quả giảm đau gây ra bởi ho, khi

chuyển động, thay băng, khi làm vật lý trị liệu.

+ Chỉ định: giảm đau sau mổ trong trường hợp đau mức độ vừa và nhiều.

+ Chống chỉ định: suy gan, suy thận, suy hơ hấp nặng, bệnh phổi mạn

tính. Bệnh nhân khơng tỉnh táo hồn tồn, khơng hiểu và không hợp tác. Các

trường hợp không được theo dõi và khơng có phương tiện cấp cứu. Các bệnh

nhân béo phì có chỉ số BMI > 45, bệnh nhân có giảm khối lượng tuần hoàn và

chấn thương sọ não [23].

- Các thuốc họ morphin khác: tramadol, buprenorphin [23].

1.4.1.5. Các thuốc khác

Thuốc tác động lên thụ thể alpha - 2 - adrenergic, thuốc tác động lên thụ

thể NMDA (ketamin), thuốc họ pabapentin (gabapentin, pregabalin), thuốc tê

lidocain, thuốc glucocorticoid [22].

1.4.2. Giảm đau bằng gây tê vùng

1.4.2.1. Gây tê tủy sống

Là phương pháp đưa thuốc tê hoặc dẫn xuất họ morphin vào khoang dưới

nhện để mổ và giảm đau sau mổ ở các phẫu thuật bụng dưới và chi dưới [22].

- Ưu điểm: kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, độ tin cậy cao, tỷ lệ thất bại thấp,

độ mạnh phụ thuộc vào morphin thực hiện và giảm đau kéo dài trong 24 giờ.

- Chống chỉ định: khuyến cáo không nên dùng trong trường hợp (bệnh

nhân bị mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ hay có bệnh lý hơ hấp cấp và mạn

hoặc bệnh nhân béo phì) [22].

1.4.2.2. Gây tê ngồi màng cứng:

Là phương pháp đưa thuốc giảm đau hoặc thuốc tê hoặc phối hợp cả hai

thuốc vào khoang ngoài màng cứng để giảm đau sau mổ cho bệnh nhân [24].



15



- Ưu điểm: hiệu quả giảm đau tốt, đặc biệt có hiệu quả tốt đối với các

đau gây ra do chuyển động (ho, vận động sau mổ); làm giảm các biến chứng

về chuyển hóa, làm giảm đáp ứng đối với các kích thích phẫu thuật; làm giảm

tỷ lệ cortisol, catecholamin, aldosteron và hormon chống bài niệu [24].

- Nhược điểm: đòi hỏi phải có phương tiện, có kinh nghiệm gây tê ngồi

màng cứng tốt do vậy chỉ áp dụng ở cơ sở chuyên khoa.

- Chỉ định: đau nhiều sau mổ, đặc biệt là cơn đau gây ảnh hưởng đến hô

hấp và hiệu quả ho hoặc trong trường hợp cần vận động sớm sau mổ.

- Chống chỉ định: dị ứng thuốc tê, rối loạn đông máu, có các bệnh thần

kinh, huyết động khơng ổn định và sốc [24].

1.4.2.3. Gây tê thân thần kinh



-





-



Gây tê thần kinh đùi [25]:

Ưu điểm: Dễ dàng thực hiện

Chỉ định:

+ Tiêm một lần:

Phẫu thuật vùng trước đùi

Giảm đau trong mổ khi garo đùi

Giảm đau trong chấn thương xương đùi.

Những phẫu thuật vùng da do thần kinh hiển chi phối.

+ Gây tê liên tục

Phẫu thuật đùi và phẫu thuật gối

Phẫu thuật khớp háng

Giảm đau trước mổ cho gãy cổ xương đùi.

+ Kết hợp với các phương pháp gây tê khác

Gây tê thần kinh hông to và thần kinh bịt cho phẫu thuật khớp gối.

Gây tê thần kinh hông to cho các phẫu thuật cẳng chân, bàn chân và

mắt cá chân.

Chống chỉ định: nhiễm trùng tại chỗ vùng bẹn

Gây tê thần kinh hiển trong ống cơ khép [25].

Chỉ định

+ Tiêm một lần: các phẫu thuật vùng da thuộc chi phối của thần kinh hiển.

+ Truyền liên tục: giảm đau cho phẫu thuật gối ít gây ức chế vận động cơ

tứ đầu đùi hơn.

+ Kết hợp với các loại gây tê khác:

Gây tê thần kinh bịt và thần kinh hông to cho các phẫu thuật gối.



16



-



Gây tê thần kinh hông to cho phẫu thuật cẳng chân, bàn chân và mắt cá chân.

Chống chỉ định: nhiễm trùng tại chỗ.

5.



1.5. Kỹ thuật gây tê thần kinh hiển trong ống cơ khép



6.



1.6. Các phương pháp đánh giá đau sau mổ



1.6.1. Thang điểm tự lượng giá đau ở người lớn: bệnh nhân tự đánh giá

mức độ đau của mình, đơn giản, nhanh và dễ sử dụng.









Thang điểm đau bằng nhìn hình đồng dạng (Visual Analog Scale)

- Ưu điểm: kỹ thuật đơn giản, lặp lại, không cần phải nghĩ.

- Hạn chế: sự hiểu lầm của một số bệnh nhân (khoảng 10%), khó khăn

điều khiển thước ở thời điểm ngay sau khi phẫu thuật [26].

Thang điểm đau bằng số ( Echelle Numerique Simple- ENS)

- Bệnh nhân được hướng dẫn: điểm 0 tương ứng với không đau, điểm 10

là đau nhất. Bệnh nhân có thể tưởng tượng, rồi lượng giá và trả lời bằng số







tương ứng với mức đau của mình là bao nhiêu trong mức từ 0 – 10 [26], [27].

Thang điểm đau bằng lời nói đơn giản (Echelle Verbale Simple- EVS)

Độ 0: không đau

Độ 1: đau nhẹ

Độ 2: đau vừa

Độ 3: đau nhiều

Độ 4: Đau không thể chịu được [26].

1.6.2. Thang điểm đánh giá cơ lực bằng tay (Manual Muscule Testing) [28]

- Là phương pháp khách quan xác định khả năng của bệnh nhân điều

khiển một cơ hay một nhóm cơ hoạt động.

- Các bước tiến hành



-



Giải thích cho bệnh nhân các yêu cầu về kỹ thuật.



-



Đặt bệnh nhân ở tư thế thích hợp



-



Nâng đỡ chi thể ở đầu gần và/ hoặc phần xa



-



Hướng dẫn bệnh nhân co cơ chủ động cơ cần đánh giá



-



Nhìn, sờ sự co cơ hoặc tạo kháng trở nếu cần thiết.



-



So sánh với bên lành và đánh giá theo bảng

Bảng 1.1. Bảng phân loại cơ lực bằng tay



17



Cơ lực



Miêu tả



Bậc 0 Liệt hồn tồn, khơng có dấu hiệu co cơ

Bậc 1



Co cơ rất yếu, chỉ có thể nhìn hoặc sờ thấy co gân của cơ đó nhưng

khơng thể thực hiện động tác hết tầm



Bậc 2



Co cơ thực hiện được tầm vận động với điều kiện loại bỏ trọng lực

chi thể



Bậc 3 Co cơ thực hiện được tầm vận động và thắng được trọng lực chi thể

Bậc 4



Co cơ thực hiện được tầm vận động, thắng được trọng lực chi thể và

thắng được một phần sức cản bằng tay của người khám



Bậc 5 Co cơ hoàn tồn bình thường, thắng được sức cản mạnh từ bên ngoài

7.



1.7. Dược lý học của bupivacain và fentanyl



1.7.1. Dược lý học của bupivacain

Khi tiêm vào mơ, nhờ đặc tính dễ tan trong mỡ mà thuốc dễ dàng ngấm

qua màng phospholipids của tế bào thần kinh. Hơn nữa do bupivacain có pKa

cao (8,1) nên lượng thuốc dưới dạng ion hóa nhiều. Nhờ tác động của hệ kiềm

ở mô thuốc dễ chuyển sang dạng kiềm tự do để có thể ngấm vào qua màng tế

bào thần kinh, khi vào trong tế bào, dạng kiềm tự do của bupivacain lại kết

hợp với ion H+ để tạo ra dạng ion phân tử bupivacain. Dạng ion này có thể

gắn được vào các receptor để làm đóng cửa các kênh natri làm mất khử cực

màng (depolarization) hoặc làm cường khử cực màng (hyperdepolarisation)

đều làm cho màng tế bào phần kinh bị "trơ" mất dẫn truyền thần kinh [29]

Do bupivacain có ái tính với các receptor mạnh hơn và lâu hơn so với

lidocain; người ta đã đo được thời gian ngắn vào receptor gọi là thời gian cư

trú "dwell time" của lidocain chỉ là 0,15 giây, còn của bupivacain là 1,5 giây.

Điều đó làm cho tác dụng vô cảm của bupivacain kéo dài, nhưng cũng đồng

thời cũng làm độc tính của bupivacain trên tim kéo dài [29].



18



Ngồi ra, khác với lidocain, do bupivacain có pKa cao và tỷ lệ gắn với

protein cao nên lượng thuốc tự do khơng nhiều, do vậy khi bắt đầu có tác

dụng ta thấy có sự chênh lệch giữa ức chế cảm giác và vận động; đặc biệt ở

đậm độ thuốc thấp, bupivacain ức chế cảm giác nhiều hơn ức chế vận động,

mức ức chế vận động nhiều nhất ở đậm độ bupivacain 0,75%. Trong khi

lidocain ức chế cả thần kinh cảm giác và vận động gần như đồng đều.

Khi sử dụng bupivacain làm gây tê tủy sống do hệ đệm trong nước não

tủy hạn chế nên nếu dùng dung dịch thuốc tê có tỷ trọng cao (marcain heavy

0,5%) liều lượng thuốc vừa phải (dưới hoặc bằng 0,2mg/kg) thuốc sẽ phân bổ

chủ yếu tập trung quanh vị trí tiêm thuốc, vị trí tác dụng chủ yếu sẽ là ở các rễ

thần kinh nằm trong vùng có đậm độ thuốc cao. Tác dụng ức chế cảm giác và

vận động khác nhau không nhiều

1.7.2. Dược lý học của fentanyl





Tác dụng trên thần kinh trung ương

Khi tiêm tĩnh mạch thuốc có tác dụng giảm đau sau 30 giây, tác dụng tối



đa sau 3 phút và kéo dài khoảng 20 - 30 phút ở liều nhẹ và duy nhất. Thuốc có

tác dụng giảm đau mạnh hơn morphin 50 - 100 lần, có tác dụng làm dịu, thờ ơ

kín đáo. Khơng gây ngủ gà, tuy nhiên fentanyl làm tăng tác dụng gây ngủ của

các loại thuốc mê khác, ở liều cao thuốc có thể gây tình trạng qn nhưng

khơng thường xun





Tác dụng tim mạch

Fentanyl có tác dụng rất kín đáo lên huyết động ngay cả khi dùng liều



cao (75 µg/kg). Thuốc khơng làm mất sự ổn định về trương lực thành mạch

nên không gây tụt huyết áp lúc khởi mê. Vì thế nó được dùng để thay thế

morphin trong gây mê phẫu thuật tim mạch, tuy nhiên vẫn chưa loại bỏ hồn

tồn kích thích đau khi cưa xương ức.

+ Fentanyl làm chậm nhịp xoang nhất là lúc khởi mê, điều trị bằng

atropin thì hết.



19



+ Thuốc làm giảm nhẹ lưu lượng vành và tiêu thụ oxy cơ tim





Tác dụng trên hô hấp

+ Fentanyl gây ức chế hô hấp ở liều điều trị do ức chế trung tâm, làm



giảm tần số thở, giảm thể tích khí lưu thơng khi dùng liều cao.

+ Thuốc gây tăng trương lực cơ, giảm sự đàn hồi của phổi.

+ Khi dùng liều cao và nhắc lại nhiều lần sẽ gây co cứng cơ hô hấp, co

cứng lồng ngực, làm suy thở, điều trị bằng benzodiazepin thì hết





Các tác dụng khác

- Gây buồn nơn, nơn nhưng ít hơn morphin.

- Co đồng tử, giảm áp lực nhãn cầu khi PaCO2 bình thường.

- Gây hạ thân nhiệt, tăng đường máu do tăng catecholamin.

- Gây táo bón, bí đái giảm ho.



8.



1.8. Các nghiên cứu về gây tê ống cơ khép

- Năm 1993 Van der Wal và cộng sự đã nghiên cứu trên tử thi con đường tiếp



cận phong bế thần kinh hiển dưới cơ may. Mục đích nhằm vơ cảm cho các phẫu

thuật vùng cẳng chân và mắt cá. Điều này tạo nền tảng cho các bác sỹ lâm sàng

gây tê thần kinh hiển để giảm đau cho các phẫu thuật khớp gối [30], [31].

- Năm 2009 Horn và cộng sự báo cáo chuyên đề “cơ sở giải phẫu để áp dụng

siêu âm trong gây tê thần kinh hiển” đây là cơng trình sớm nhất áp dụng siêu âm

trong gây tê trong ống cơ khép [32]. Cùng năm này Manickam và cộng sự lần đầu

tiên gây tê thần kinh hiển trong ống cơ khép dưới hướng dẫn của siêu âm với mục

đích giảm đau khớp gối. Đây là kỹ thuật mới nhẵm nỗ lực tạo ra phương pháp giảm

đau mới cho các phẫu thuật khớp gối mà vẫn giữ được sức mạnh của cơ đùi [33].

- Năm 2011 Lund và cộng sự lần đầu tiên sử dụng khái niệm gây tê ống cơ

khép với mục đích giảm đau sau các phẫu thuật gối lớn và nhận định rằng với

30ml thuốc gây tê cục bộ sẽ có tác dụng làm đầy kênh [34]. Cùng năm đó

Saranteas và cộng sự đã nghiên cứu hiệu quả của việc đặt kim vào ống cơ khép



20



dưới hướng dẫn của siêu âm, ở giữa cơ may và động mạch đùi, nghiên cứu này đã

chứng minh được thần kinh hiển nằm giữa động mạch đùi và cơ may [35].

- Năm 2012 Jaeger và cộng sự đã nghiên cứu chứng minh gây tê thần kinh

ngoại vi làm giảm nhu cầu và liều lượng opioid được sử dụng trên các bệnh nhân

sau phẫu thuật khớp gối [36].

- Năm 2013 Henningsen và một số nhà nghiên cứu khác đã cho thấy rằng

bằng sự hướng dẫn của siêu âm, tỷ lệ thành công của gây tê ống cơ khép lên đến

80% và khơng có trường hợp tổn thương thần kinh nào được ghi nhận [37].

Mudumbai và cộng sự so sánh tác dụng của gây tê trong ống cơ khép liên tục với

tê thần kinh đùi liên tục, kết quả cho thấy hiệu quả giảm đau của 2 nhóm là tương

tự trong khi nhóm gây tê liên tục qua ống cơ khép cho phép bệnh nhân vận động

sớm hơn so với nhóm gây tê thần kinh đùi liên tục [38]. Jaeger và cộng sự thực

hiện nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi có giả dược kiểm tra chéo ở những người tình

ngun khỏe mạnh về tác động của gây tê ống cơ khép và gây tê thần kinh đùi

trên sức mạnh của cơ tứ đầu đùi, kết quả cho thấy gây tê trong ống cơ khép giúp

bảo toàn sức mạnh cơ tứ đầu đùi và do đó có thể làm giảm nguy cơ ngã trên

những bệnh nhân sau phẫu thuật khớp gối [39]. Trong một nghiên cứu tương tự,

Kwofie và cộng sự đã thu nhận thêm nhiều hơn số tình nguyện viên một lần nữa

nghiên cứu tác động của gây tê trong ống cơ khép lên sức mạnh của cơ tứ đầu đùi

và cho kết quả nghiên cứu tương tự Jaeger [40]. Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng

minh gây tê vùng có thể ức chế viêm ở nhiều vị trí khác nhau. Các nghiên cứu đều

cho thấy gây tê vùng thực hiện trước phẫu thuật có thể cho tác dụng giảm đau tốt

hơn [41], [42], [43].



21



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

9.



2.1. Đối tượng nghiên cứu



2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

-



Tuổi từ 16 trở lên



-



Không phân biệt nam, nữ



-



ASA I, II.



-



Các bệnh nhân có chỉ định mổ theo chương trình các phẫu thuật khớp gối.



-



Bệnh nhân đồng ý và hợp tác với nhân viên y tế thực hiện thủ thuật

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ



-



Nhiễm trùng tại vùng chọc kim



-



Bệnh nhân bị tổn thương tủy sống hoặc các dây thần kinh chi phối cho chi

dưới.



-



Bệnh nhân có chống chỉ định với bupivacain, fentanyl, adrenalin.



-



Tiền sử rối loạn tâm thần, khó khăn trong giao tiếp.



-



Chấn thương sọ não.



-



Có shock mất máu.

2.1.3. Tiêu chuẩn đưa ra khỏi nghiên cứu

- Bệnh nhân không muốn tiếp tục tham gia vào nghiên cứu

10.



2.2. Phương pháp nghiên cứu



2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

2.2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

-



Địa điểm: nghiên cứu được tiến hành tại khoa Gây mê hồi sức và chống đauBệnh viện Đại học Y Hà Nội.



-



Thời gian: từ tháng 02 năm 2018 đến tháng 08 năm 2018.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thần kinh bì bắp chân trong (medial sural cutaneous nerve). Thần kinh này tách ra ở khoeo, đi xuống giữa hai đầu cơ bụng chân, xuyên qua mạc cẳng chân ở chỗ nối 1/3 trên và 1/3 giữa và tiếp nhận nhánh nối mác (nhánh nối bắp chân) của thần kinh mác chung t

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×