Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỉ lệ HCCH theo trình độ học vấn.

Tỉ lệ HCCH theo trình độ học vấn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



ngược lại, người có trình độ học vấn thấp tăng nguy cơ mắc HCCH[116].

Theo một nghiên cứu trên 3914 người được tiến hành tại Trung Quốc, người

có trình độ trung học trở lên làm giảm nguy cơ mắc bệnh 0,85 lần[71]. Sự

khác biệt này do nhiều ảnh hưởng của quan điểm sống, tôn giáo, điều kiện ở

các quốc gia khác nhau. Trong nghiên cứu của chúng tôi, do cỡ mẫu còn nhỏ

nên kết quả nghiên cứu chưa có nhiều ý nghĩa, vì vậy cần có nhiều nghiên cứu

trên cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá ảnh hưởng của trình độ học vấn lên HCCH.

4.3. Đặc điểm HCCH ở người đến khám sức khỏe tại Bệnh Viện Bạch Mai.

4.3.1. Đặc điểm của nhóm đối tượng có HCCH.

Khi đánh giá tình trạng ĐTĐ và THA trước thời điểm đến khám, chúng

tôi nhận thấy giữa 2 nhóm có và khơng có HCCH, tỉ lệ mắc ĐTĐ (6,8% so

với 5,2%) và tăng huyết áp (20,5% so với 16,2%) ở những người có HCCH

cao hơn đáng kể so với nhóm khơng có HCCH. So với nghiên cứu của tác giả

Hoàng Kim Ước năm 2008 nghiên cứu tại viện Nội Tiết Trung Ương cho thấy

tỉ lệ mắc ĐTĐ tại một số thành phố dao động khoảng 7,0%[117], chúng tôi

thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trên nhóm người có HCCH

(9,1%) và ở nhóm khơng có HCCH (7,8%). Tương tự khi so với nghiên cứu

của Nguyễn Lân Việt năm 2010 trên đối tượng người ≥ 25 tuổi, cho tỉ lệ mắc

THA là 25,1%[118] chúng tôi cũng nhận thấy tỉ lệ mắc THA của chúng tơi

cao hơn ở nhóm có HCCH (26,1%) và thấp hơn ở nhóm khơng có HCCH

(20,4%). Kết quả này phù hợp với các đặc điểm của HCCH làm tăng nguy cơ

của ĐTĐ và THA.

Tại thời điểm nghiên cứu nhóm người có HCCH, tỉ lệ mới phát hiện

ĐTĐ là 2,3%, tỉ lệ THA là 5,6% so với nhóm khơng có HCCH là 2,6% và

4,2% chúng tôi nhận thấy sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ

mới phát hiện ĐTĐ và THA ở cả 2 nhóm đối tượng. Kết quả này có thể do

nguyên nhân các đối tượng của chúng tơi nghiên cứu là những đối tượng có tỉ



65



lệ mắc các bệnh phối hợp cao vì vậy trước khi đến với chúng tôi đã được

thăm khám tại các cơ sở khám bệnh tuyến dưới, vì vậy đã sàng lọc ĐTĐ và

THA từ trước.

4.3.2. Tỉ lệ mắc các thành tố của HCCH ở nhóm đối tượng có HCCH.

Kết quả nghiên cứu trong nhóm bệnh nhân có HCCH, tỷ lệ mắc các

thành tố của HCCH là tương tự như nhau tỉ lệ giảm HDL-C (73,9%), tăng

glucose máu (72,7%), tăng triglycerid (69,3%) và HATT tăng (68,2%). Kết

quả của một nghiên cứu tại vùng Amazon trên 787 người với tỉ lệ: giảm HDLC (56,2%), tăng huyết áp (47,6%) và tăng glucose máu (24,3%). Tỉ lệ mắc các

thành tố trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn với với nghiên cứu của tác

giả Heng Guo trên 15020 người tại Tân Cương Trung Quốc, tỉ lệ mắc HCCH

là 23,36% theo tiêu chuẩn IDF 2006 và tỷ lệ mắc các thành tố là tăng huyết

áp (44,05%), giảm HDL-C (41,0%), tăng triglycerid (23,3%), tăng glucose

máu (18%). So với nghiên cứu của Trần Quang Bình năm 2010 tại Hà Nam,

tỉ lệ mắc các thành tố của HCCH là tăng triglycerid (15.3%), giảm HDL-C

(14,3%), tăng huyết áp (13,6%) và tăng gluocse máu (8,7%). Như vậy trong

nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ mắc các thành tố của HCCH là cao hơn so

với các nghiên cứu trước đây tai Việt Nam, điều này cũng có nghĩa bệnh

nhân mắc HCCH trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi có nguy cơ tim

mạch cao hơn nhóm người trong cộng đồng. Kết quả này có thể do nghiên

cứu của chúng tơi thực hiện tại một bệnh viện lớn, các phương tiện chẩn đốn

chính xác hơn làm tăng khả năng phát hiện các thành tố của HCCH. Khi so

sánh giữa nam và nữ, kết quả cho thấy tỉ lệ giảm HDL-C huyết thanh ở nữ

giới cao hơn nam giới. Các nghiên cứu đã chứng minh HDL- C huyết thanh

có tác dụng bảo vệ thành mạch, nồng độ HDL-C huyết thanh càng thấp nguy

cơ xơ vữa mạch càng cao. Nguyên nhân chủ yếu của giảm nồng độ HDL-C

huyết thanh là thừa cân béo phì, trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ



66



số BMI ở nữ cao hơn nam (24,1 và 22,3), đây có thể là nguyên nhân dẫn đến sự

khác nhau trong tỉ lệ giảm HDL-C huyết thanh thấp hơn ở nam so với nữ.

4.3.3. Tần xuất mắc các thành tố của HCCH trên nhóm

đối tượng có HCCH.

Trong HCCH mỗi thành tố trong HCCH là một yếu tố nguy cơ tim

mạch, có nghĩa là người mắc càng nhiều thành tố của HCCH thì nguy cơ mắc

bệnh tim mạch càng cao.

Trong nghiên cứu của chúng tơi nhận thấy, phần lớn các đối tượng có

HCCH mắc 3-4 thành tố của HCCH; đặc biệt ở nữ giới có tới 29,4% mắc

đồng thời cả 5 thành tố của HCCH, trong khi ở nam khơng có người nào.

Những ngun nhân ảnh hưởng đã được chúng tơi phân tích ở những phần

trên: do tuổi trung bình lớn hơn và các rối loạn hormon do quá trình mãn kinh

gây ra. Kết quả này cho thấy, ở nữ có nguy cơ mắc đái tháo đường và những

rủi ro tim mạch cao hơn.

4.4. Một số yếu tố liên quan đến HCCH.

4.4.1. Liên quan giữa thừa cân, béo phì và HCCH.

Tỉ lệ thừa cân béo phì đang tăng nhanh trên thế giới, tại Mỹ tỉ lệ này tăng

từ 34,3% vào những năm 2005-2006 và tăng lên 37,7% trong khoảng năm

2013-2014[16]. Tại các nước châu Á tỉ lệ thừa cân, béo phì cũng tăng nhanh;

theo nghiên cứu tại Trung Quốc trong giai đoạn 1993-2009, giá trị chỉ số khối

cơ thể BMI trung bình tăng 1,6 kg/m 2 ở nam và 0,8 kg/m2 ở phụ nữ, chỉ số

vòng bụng cũng tăng 7,0 cm ở nam và 4,7 cm ở nữ, tỷ lệ béo phì nói chung

tăng từ 2,9% lên 11,4% ở nam giới và từ 5,0% đến 10,1% ở nữ giới. Theo

nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia năm 2017, ở nước ta tỷ lệ thừa

cân béo phì trong độ tuổi từ 25-64 là 16,3%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì trong

nghiên cứu là 14,7% kết quả thấp hơn kết quả nghiên cứu của viện Dinh



67



Dưỡng Quốc Gia 16,3%, tuy nhiên kết quả này có thể do nghiên cứu của

chúng tôi tiến hành trên những người ≤ 60 tuổi, trong khi những người > 60

tuổi lại có nguy cơ cao thừa cân, béo phì. Nguy cơ mắc HCCH với những

người thừa cân là 9,8 lần, những người béo phì là 8,7 lần so với người có chỉ

số khối cơ thể bình thường. Khi đánh giá ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên

HCCH, chúng tơi cũng nhận thấy rằng, ở những người có chỉ số khối cơ thể

BMI ≥ 25 kg/m2, các rối loạn của HCCH đều tăng lên đáng kể, đặc biệt là béo

bụng và tăng huyết áp. So với một nghiên cứu tại vùng Amazon nguy cơ mắc

HCCH tăng lên 1,93 lần ở những người thừa cân và 3,94 lần ở những người

béo phì. So với một nghiên cứu tai Trung Quốc của tác giả Yaling Zhao nguy

cơ măc bệnh tăng lên 5,94 lần ở những người thừa cân và ở những người béo

phì là 26,8 lần[19]. Thừa cân béo phì đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ

của ĐTĐ[20], THA[21], rối loạn lipid máu[22], tăng nguy cơ nhồi máu cơ

tim[23]. Nghiên cứu của Reeder và cộng sự tại Canada cho thấy chỉ số khối

cơ thể BMI cao đã gây ra những ảnh hưởng có hại đến các yếu tố nguy cơ tim

mạch, làm tăng huyết áp, tăng đường máu, tăng lipid máu và tăng kháng

insulin[24]. Nghiên cứu của Satish Kenchaiah trên 5881 người cũng cho thấy

tăng tỉ lệ suy tim ở những người có chỉ số khối cơ thể cao[25].

Chúng tơi cũng nhận thấy, nguy cơ mắc bệnh tăng cao ở cả nam và nữ có

béo bụng: 5,0 và 3,2 lần. Béo bụng làm tăng dòng chảy acid béo tự do (FFA)

và glycerol từ mô mỡ tạng đến gan thông qua tĩnh mạch cửa, kháng insulin có

thể làm gia tăng q trình này. Khi acid béo tự do đi vào trong gan chúng sẽ

kích thích hình thành lipoprotein và làm tăng rối loạn lipid máu. Nghiên cứu

của Kathryn trên 44702 phụ nữ cho thấy, ở những người béo bụng có gia tăng

đáng kể tỉ lệ xuất hiện các biến cố tim mạch, kể cả trên những đối tượng có

chỉ số khối cơ thể bình thường[28].



68



Khi đánh giá chỉ số eo – hơng, trong nghiên cứu của chúng tơi cho thấy:

nam giới có chỉ số eo-hông ≥ 0,9 tăng nguy cơ mắc HCCH 21,5 lần, đối với

nữ có chỉ số này ≥ 0,85 nguy cơ mắc bệnh tăng 26,8 lần. Mối liên quan giữa

chỉ số eo-hông và lượng mỡ tạng được chỉ ra trong nghiên cứu của Pouliot

trên 81 nam và 70 nữ[25] và một và nghiên cứu của các tác giả khác[29, 30].

Nghiên cứu của Dalton trên 11247 người ≥ 25 tuổi, tại Úc cho thấy chỉ số eohơng có cao có nguy cơ mắc ĐTĐ, THA và rối loạn mỡ máu cao hơn chỉ số

BMI và béo bụng[31]. Chỉ số eo-hông đã được chứng minh có liên quan đến

kháng insulin và phân bố mỡ của cơ thể[119].

Béo bụng và thừa cân béo phì là ln là những yếu tố nguy cơ của

HCCH, đái tháo đường và bệnh tim mạch, chúng gây ra những ảnh hưởng

trực tiếp lên lipid máu, tình trạng kháng insulin và huyết áp. Khi so sánh nguy

cơ mắc HCCH trên 3 chỉ số: béo bụng, chỉ số BMI và chỉ số eo-hông, chúng

tôi nhận thấy nguy cơ mắc HCCH cao nhất khi có tăng chỉ số eo-hơng và thấp

nhất khi béo bụng. Để giải thích cho kết quả này, có thể do tình trạng béo

bụng được đánh giá dựa trên số đo vòng bụng, tuy nhiên vòng bụng lớn hay

nhỏ tùy thuộc nhiều vào chiều cao, chủng tộc vì vậy có nhiều đánh giá sai

lệch ở những đối tượng khác nhau và mỗi chủng tộc có những tiêu chuẩn béo

bụng khác nhau; chỉ số khối cơ thể BMI đã loại trừ được ảnh hưởng của chiều

cao đến số đo vòng bụng, tuy nhiên vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều bởi chủng

tộc, khi mà tỉ lệ phân bố mỡ có sự khác nhau giữa người châu Âu và châu Á.

Chỉ số eo-hơng lại cho thấy đánh giá chính xác hơn 2 chỉ số còn lại trên nhiều

nghiên cứu, khi đánh giá tỉ lệ mỡ tạng[31]. Chúng tôi nhận thấy, so với các

nghiên cứu ở người da trắng thì nguy mắc HCCH ở người châu Á có thừa cân

béo phì cao hơn, điều này có thể liên quan đến sự khác biệt trong phân bố mỡ

của cơ thể khác nhau, trong khi người da trắng có tỷ lệ mỡ tạng thấp hơn

người châu Á. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu cho rằng kháng



69



insulin, rối loạn lipid máu có vai trò quan trọng của lượng mỡ tạng. Thừa cân

béo phì và số đo vòng bụng tăng có liên quan nhiều đến lối sống, đặc biệt là

chế độ ăn và hoạt động thể lực. Vì vậy việc thay đổi lối sống là cần thiết ngay

cả ở những người trẻ.

4.1.2. Liên quan giữa hoạt động thể lực và hoạt động giải trí ngồi giờ làm

việc đến HCCH.

4.1.2.1. Liên quan giữa hoạt động thể lực và HCCH.

Một phân tích gộp trên 21 nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động thể

lực lên ĐTĐ típ 2 đã cho thấy hoạt động thể lực làm giảm kháng insulin,

giảm cân, giảm chỉ số HbA1c [73]. Nghiên cứu trên đối tượng trung niên tại

Pháp cho thấy hoạt động thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ mắc HCCH

3.3 lần[120]. Một nghiên cứu tai Trung Quốc cũng cho thấy thời gian hoạt

động thể lực ít làm tăng nguy cơ mắc HCCH[120]. Nghiên cứu của Trương

Tuyết Mai tại Hà Nội cho thấy thời gian hoạt động tích lực < 60 phút/ngày có

tỉ lệ thừa cân, béo phì cao hơn. Nhiều khuyến cáo cho thấy tập thể dục 150

phút/tuần có ý nghĩa trong làm giảm kháng insulin, giảm nguy cơ ĐTĐ và

bệnh tim mạch[121].

Ảnh hưởng của luyện tập thể dục và giảm cân, nghiên cứu của tác giả

Robert Ross cho thấy tập thể dục làm giảm cân nặng và vòng bụng kể cả khi

khơng có chế độ ăn kiêng, còn trên những đối tượng khơng giảm cân cũng

làm giảm số đo vòng bụng[74].

Ảnh hưởng của luyện tập thể dục và kháng insulin, các nghiên cứu với

thời gian theo dõi dưới 12 tuần không thấy sự thay đổi đáng kể nồng độ

glucose lúc đói, insulin máu và chỉ số HbA1c[75, 76]. Một phân tích khi theo

dõi trên 12 tuần lại cho thấy , các chỉ số glucose máu đói, HbA1c có giảm,

điều này cho thấy có sự giảm kháng insulin ở những đối tượng này tuy nhiên

kết quả này được cho là do tác dụng của giảm cân[73].



70



Ảnh hưởng của luyện tập thể dục và rối loạn lipid máu, nghiên cứu của

tác giả Durstine và cộng sự cho thấy luyện tập thể dục khơng làm thay đổi

lipid máu, nó chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với chế độ ăn ít chất béo tạo ra tác

dụng giảm cân và giảm lượng mỡ cơ thể[77]. Nghiên cứu của tác giả

Stensvold tại Na Uy cũng cho thấy các bài tập thể dục trong 12 tuần không

làm thay đổi nồng độ triglycerid và HDL-C huyết thanh[75] .

Tuy nhiên, khi so sánh giữa ảnh hưởng của cường độ và thời gian hoạt

động thể lực đến HCCH còn có nhiều ý kiến khác nhau[72, 78].

Để đánh giá thời gian hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu, các

đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi đã được hỏi câu hỏi về thời gian

hoạt động thể lực, trong đó bao gồm cả thời gian lao động và thời gian tham

gia các hoạt động thể dục thể thao. Chúng tôi chia đối tượng nghiên cứu thành

2 nhóm: nhóm có thời gian hoạt động thể lực < 3 giờ/ngày và nhóm có thời

gian hoạt động thể lực ≥ 3 giờ/ngày. Chúng tơi nhận thấy nhóm đối tượng có

thời gian hoạt độngt hể lực ≥ 3 giờ/ngày làm giảm nguy cơ mắc HCCH 1,7

lần so với nhóm còn lại, có ý nghĩa thống kê. Để đánh giá cường độ hoạt động

thể lực, chúng tôi chia đối tượng nghiên cứu thành các nhóm theo cường độ

hoạt động thể lực trong cơng việc, chúng tơi nhận thấy khơng có thay đổi

nguy cơ mắc HCCH giữa nhóm lao động nhẹ và lao động vừa (OR=1,0).

Nghiên cứu của Ronald và cộng sự được thực hiện để đánh giá tác động

của các bài tâp hiếu khí (aerobic - thời gian hoạt động thể lực) và các bài tập

yếm khí (anaerobic - cường độ hoạt động thể lực) lên HCCH kết quả cho thấy

rằng hiệu quả hơn khi kết hợp cả 2 bài tập có tác dụng làm giảm cân nặng,

vòng eo, giảm rối loạn lipid máu, chỉ số HbA1c; nhưng khi so sánh độc lập

giữa 2 bài tập, nghiên cứu cho thấy các bài tập hiếu khí có vẻ cho thấy hiệu

quả cao hơn[79]. Theo một nghiên cứu của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa

Kỳ(ADA) đánh giá các bài tập hiếu khí cho thấy các lợi ích của các bài tập

lên nguy cơ tim mạch ở đối tượng nghiên cứu[122]. Một nghiên cứu can thiệp



71



so sánh giữa bài tập hiếu khí và yếu khí cho thấy các bài tập hiếu khí làm

giảm huyết áp tâm trương, huyết áp tâm thu, chỉ số vòng bụng, chỉ số khối cơ

thể BMI, chỉ số HbA1c, C-peptid và độ nhạy insulin thông qua đánh giá chỉ

số HOMA so với các bài tập yếm khí, tuy nhiên ở cả 2 bài tập không thấy

thay đổi các chỉ số lipid máu mặc dù sau 12 tuần nghiên cứu các đối tượng có

bài tập cơ bắp cho thấy lượng mỡ cơ thể ít hơn[75].

Như vậy, so với mức hoạt động thể lực tối thiểu được khuyến cáo 150

phút/tuần, chúng tôi nhận thấy, tăng thời gian hoạt động thể lực > 3 giờ/ ngày

tiếp tục làm giảm nguy cơ mắc HCCH và bệnh tim mạch. Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi cũng không thấy sự khác biệt về nguy cở mắc HCCH giữa

nhóm lao động nhẹ và lao động vừa, kết quả có thể do nhóm đối tượng lao

động vừa trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là làm ruộng và những

người lớn tuổi vẫn tham gia lao động, vì vậy làm tăng nguy cơ mắc HCCH

theo tuổi ở nhóm đối tượng này. Trong nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đối

tượng nghiên cứu chủ yếu là làm ruộng, tuy nhiên chúng tơi nhận thấy có đến

44.8% người có thời gian hoạt động thể lực ≤3 giờ/ngày, kết qủa này có thể

do đối tượng nghiên cứu của chúng tơi có nhiều đối tượng lớn tuổi, tuy vẫn

sống dựa vào làm ruộng tuy nhiên thời gian lao động khơng nhiều; cũng có

thê giải thích do đối tượng nghiên cứu của chúng tơi có nhiều bệnh lý kèm

theo gây ảnh hưởng đến hoạt động thể lực hoặc do ảnh hưởng của khoa học

kỹ thuật trong nông nghiệp làm giảm thời lao động trong cơng việc. Điều này

báo động những rối loạn chuyển hóa đang dần phổ biến ở cả vùng nông thôn,

kể cả những người làm ruộng, đây là những đối tượng có khả năng tiếp cận

với y tế thấp hơn so với những người sống ở thành thị, vì vậy khả năng tầm

sốt HCCH cũng như ĐTĐ típ 2, THA và bệnh lý tim mạch ở những đối

tượng này thấp hơn, khi đến khám thường các bệnh lý đã ở giai đoạn nặng,

nhiều biến chứng.



72



4.1.2.2. Liên quan đến hoạt động giải trí ngồi giờ làm và HCCH.

Sự phát triển của cơng nghệ đã làm thay đổi hoạt động giải trí ngồi giờ

làm việc của con người, xem các chương trình truyền hình và sử dụng internet

ngoài giờ làm việc ngày càng phổ biến ở cả người lớn và trẻ em. Điều này gây

ra ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thể lực và các yếu tố khác. Kết quả

nghiên cứu của chúng tơi cho thấy, xem tivi và sử dụng internet ngồi giờ làm

> 2 giờ/ ngày làm tăng nguy cơ mắc HCCH lên 1.3 lần. Một nghiên cứu được

tiến hành năm 2005 tại Hàn Quốc cho thấy, tăng thời gian xem tivi hằng ngày

làm tăng tỉ lệ mắc HCCH và tăng nguy cơ mắc HCCH 2,23 lần[81]. Nghiên

cứu của tác giả Rebekah Steele trên 2560 người trưởng thành tại Úc cho thấy

những người có thời gian xem tivi và sử dụng internet từ 2,5-5 giờ/ngày làm

tăng nguy cơ thừa cân lên 1,3 lần, béo phì 1,45 lần và > 5 giờ/ ngày làm tăng

nguy cơ thừa cân 1,46 lần, béo phì 2,55 lần[82]. Giảm thời gian hoạt động thể

lực và tăng nguy cơ thừa cân béo phì là nguyên nhân gây ra những rối loạn

của HCCH.

4.4.3. Liên quan giữa thói quen sống và HCCH.

4.4.3.1. Liên quan giữa thói quen ăn uống và HCCH.

Thói quen ăn uống có ảnh hưởng nhiều đến HCCH, nhiều nghiên cứu

được tiến hành cho thấy chế độ ăn nhiều năng lượng đặc biệt là chất béo và

thói quen ăn mặn có ảnh hưởng đến HCCH. Nghiên cứu của chúng tơi tập

trung vào ảnh hưởng của thói quen ăn mặn lên HCCH là thói quen xuất hiện

nhiều ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam. Chúng tơi nhận thấy nguy cơ

mắc HCCH trên những người có thói quen ăn mặn là 3,5 lần. Kết quả này cao

hơn so với nghiên cứu của Hồ Thị Kim Thanh tiến hành trên người cao tuổi

tại cộng đồng (OR=1,7). Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan

giữu ăn mặn và tăng huyết áp, các nghiên cứu can thiệp giảm lượng muối ăn

cũng có hiệu quả trong việc giảm huyết áp và các nguy cơ tim mạch. Nghiên



73



cứu DASH tiến hành trên 412 người cho thấy giảm mức natri xuống dưới 50

mmol/ngày làm giảm huyết áp tâm thu 11,5 mmHg ở những người bị tăng

huyết áp và 7,1 mmHg ở những người không bị tăng huyết áp. Nghiên cứu

của Hoffmann năm 2009 cũng cho thấy ăn mặn làm tăng huyết áp và tăng

cân, tuy nhiên không làm thay đổi glucose máu và lipid máu[57].

4.4.3.2. Liên quan giữa thói quen hút thuốc lá và HCCH.

Tình trạng hút thuốc lá ở nước ta, theo nghiên cứu của Phạm Xuân Đại,

tỉ lệ hút thuốc lá ở nam giới nước ta là 37,5%. Hút thuốc lá đã được chứng

minh làm tăng nguy cơ tim mạch trong nhiều nghiên cứu. Ba thành phần quan

trọng trong khói thuốc lá được nhắc đến là nicotin, carbonmonoxide và các

gốc tự do. Nicotin là một chất cường giao cảm làm tăng giải phóng

cathecholamin trong máu gây nhịp tim nhanh, tăng huyết áp. Carbonmonoxid

tăng trong máu 5-10% ở những người hút thuốc lá, khi gắn với hemoglobin

làm giảm lượng oxy trong máu, giảm oxy cho các mơ trong đó có cơ tim và

giảm thời gian hoạt động thể lực của những người này. Các gốc tự do làm

giảm nồng độ của các chất chống oxy hóa và bảo vệ nội mạch, điển hình là

HDL-C huyết thanh, như vậy làm tăng xơ vữa động mạch và tăng nguy cơ

bệnh tim mạch. Nghiên cứu mối liên quan giữa thuốc lá và bệnh mạch vành

cho thấy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành dù hút ít hay nhiều,

hút thuốc làm giảm chức năng vận mạch, gây xơ vữa mạch, tăng huyết áp và

hình thành huyết khối[68].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, hút thuốc lá không làm thay đổi nguy

cơ mắc HCCH ở cả 2 nhóm đã bỏ thuốc và hiện còn hút (OR= 0,73 và 1,02),

tuy nhiên khi phân tích ảnh hưởng của thuốc lá lên các thành tố của HCCH

chúng tôi nhận thấy rằng hút thuốc lá không làm thay đổi tỉ lệ béo bụng,

HATT tăng, cao hơn ở cả 2 nhóm hút thuốc lá đã bỏ và còn hút thuốc lá (41%

và 50% so với 35,3%). Mối liên hệ giữa hút thuốc và rối loạn lipid máu, tăng



74



tỉ lệ giảm HDL-C huyết thanh giữa nhóm hút thuốc lá đã bỏ, còn hút và nhóm

khơng hút thuốc lá (25,0% và 31,3% so với 7,8%). Nghiên cứu của Trần

Quang Bình năm 2011 cũng cho thấy những người hút thc lá có nguy cơ

mắc HCCH thấp hơn 1,4 lần so với không hút. Cũng theo một nghiên cứu tai

nông thôn Trung Quốc cho thấy nguy cơ măc bệnh của những người hút thuốc

lá không thay đổi đáng kể (OR: 0,87-1,1)[69]. So với nghiên cứu của Sang

Woo được tiến hành tại Hàn Quốc, hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc HCCH

đồng thời cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các thành tố của HCCH, nguy

cơ mắc HCCH tăng từ 1,07-1,77 lần phụ thuộc vào số lượng thuốc lá được sử

dụng hằng ngày của đối tượng[70].

Như vậy, có sự khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu về nguy cơ mắc

bệnh của những người có hút và khơng hút thuốc. Nhiều nghiên cứu cho thấy

có thể liên quan đến tình trạng giảm cân và giảm số đo vòng bụng ở người hút

thuốc lá[68]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không thấy tăng nguy cơ mắc

HCCH ở người hút thuốc lá; tuy nhiên do cỡ mẫu còn nhỏ, có nhiều ảnh

hưởng của yếu tố nhiễu lên kết quả nghiên cứu, trong đó có tình trạng sử dụng

rượu phổ biến ở trên nhóm đối tượng này; vì vậy chưa thể đưa ra kết luận về

nguy cơ mắc HCCH ở người hút thuốc lá. Khi phân tích ảnh hưởng của hút

thuốc lá lên từng yếu tố nguy cơ chúng tôi nhận thấy hút thuốc làm tăng huyết

áp và giảm nồng độ HDL-C huyết thanh kể cả khi đã bỏ thuốc.

4.4.3.3. Liên quan đến tình trạng sử dụng rượu và HCCH.

Việt Nam là một nước có mức tiêu thụ rượu hàng đầu trên thế giới, theo

cuộc điều tra y tế quốc gia năm 2001, tỉ lệ nam giới tuổi từ 15 trở lên uống

rượu ít nhất 1 lần trong tuần là 46%, trong đó tỷ lệ lạm dụng rượu ở thành phố

và nông thôn tương ứng là 5,0-10,4% và 0,5-1,2%. Ảnh hưởng của rượu lên

HCCH rất phức tạp. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sử dụng rượu

> 2 đơn vị/ngày làm tăng nguy cơ HCCH lên 2,2 lần, tuy nhiên chưa có ý

nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu của Trần Quang Bình trên đối tượng sử

dụng ≥ 2 đơn vị rượu/ngày làm tăng nguy cơ mắc HCCH 1.29 lần.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỉ lệ HCCH theo trình độ học vấn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×