Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tăng huyết áp và kháng insulin

Tăng huyết áp và kháng insulin

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



insulin và rối loạn gucose máu lúc đói (IGT) hoặc ĐTĐ típ 2. Ngồi ra 2

trong số các yếu tố sau đây cũng có thể có bao gồm: rối loạn lipid máu (giảm

nồng độ HDL-C huyết thanh và tăng triglycerid huyết thanh), THA, protein

niệu (Bảng 1,1).

Bảng 1.1: Một số tiêu chuẩn chẩn đốn HCCH.



WHO

1998

[37]



EGIR

1999

[38]

NCEP:

ATPIII

2001

[39]

AACE

2003

[40]

IDF

2006

[41]



Nồng độ insulin máu cao, ĐTĐ típ 2, IFG hoặc IGT và 2/4 tiêu

chuẩn sau:

- Béo bụng hoặc tỉ số eo-hông > 0,9 với nam hoặc 0,85 với nữ hoặc

BMI ≥ 30 kg/m2.

- Triglycerid > 1,7 mmol/l hoặc HDL-C < 0,9 mmol/l với nam và

1,0 mmol/l với nữ.

- HA>140/90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp.

- Microalbumin niệu.

Insulin máu lúc đói tăng > 25% và 2/4tiêu chuẩn sau:

- Béo bụng (vòng eo > 94 cm với nam, > 80 cm với nữ)

- Triglycerid ≥ 2,0 mmol/L hoặc HDL-C < 1,0 mmol/l hoặc đang điều

trị thuốc hạ lipid máu.

- HA ≥140/90 mmHg hoặc đang dung thuốc hạ huyết áp

- Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l.

≥ 3 tiêu chuẩn sau:

- Béo bụng(vòng eo > 102 cm với nam, > 88 cm với nữ).

- Triglyceride ≥ 1,7 mmol/l.

- HDL-C < 1,03 mmol/l với nam, < 1,3 mmo/l với nữ.

- Glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/l

Rối loạn glucose máu đói và 2/3 tiêu chuẩn sau:

- Triglycerid ≥1,7 mmol/l

- HDL-C < 1,03 mmol/l nam , <1,3 mmol/l với nữ.

- HA ≥130/85 mmHg

Béo bụng và 2/4 tiêu chuẩn sau:

- Triglycerid ≥1,7 mmol/l.

- HDL-C <1,03 mmol/l với nam hoặc < 1,3 mmo/l với nữ hoặc đang

điều trị thuốc hạ lipid máu.

- HA ≥130/85 mm Hg hoặc đang điều trị thuốc hạ HA.

- Glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/l hoặc đang điều trị thuốc ĐTĐ



*IGF: Rối loạn đường máu lúc đói, IGT: Rối loạn dung nạp glucose máu,

HA: huyết áp, WC: vòng bụng.



11



Bảng 1.2: Trị số vòng bụng đánh giá béo phì kiểu trung tâm theo chủng

tộc (IDF)

Dân tộc

Châu Âu



Nam Á, Việt Nam



Trung Quốc



Giới



Vòng bụng



Nam



≥ 94cm



Nữ



≥ 80cm



Nam



≥ 90cm



Nữ



≥ 80cm



Nam



≥ 90cm



Nữ



≥ 80cm



1.1.4. Tỉ lệ HCCH ở một số nhóm đối tượng.

1.1.4.1 Tỉ lệ HCCH theo tuổi.

Trong đa số các nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ HCCH tăng theo tuổi. Tỷ

lệ hiện mắc năm 2002 ở bệnh nhân trưởng thành người Mỹ là 23,7% trong đó

6,7 % ở nhóm tuổi 20-29 và 43,5% ở nhóm tuổi 60-69, 42% ở sau 70 tuổi[3].

Một nghiên cứu của Nord-Trondelag Health 1995-1997 đã cho kết quả : nam

giới trong độ tuổi 20-29 tỷ lệ mắc HCCH là 11,0%, trong độ 80-89 tỷ lệ mắc

là 47,2%; với nữ giới tương ứng với hai nhóm tuổi trên là 9,2% và 64,4%.

Tại châu Á, nghiên cứu của Yaling Zhao tỉ lệ mắc HCCH với nhóm tuổi tương

ứng là 25-30: 4,2%, 45-50:17,8%, 55-60:20,5%[19]. Nghiên cứu của Trần

Quang Bình tại cộng đồng Hà Nam năm 2011 với tỷ lệ HCCH theo nhóm tuổi

lần lượt là: 40-44: 7,9%, 55-59: 26,9%[42].

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mắc HCCH tăng theo tuổi: thay

đổi nội tiết tố ở cả nam và nữ theo lứa tuổi, rối loạn phân bố mỡ ở người cao

tuổi, giảm hoạt đông thể lực do tuổi và các bệnh lý kèm theo.



12



Hình 1.2. Tỷ lệ HCCH theo nhóm tuổi ở một số quốc gia[43]

1.1.4.2. Giới

Theo lí thuyết, trước tuổi tiền mãn kinh tỉ lệ béo bụng gặp ở nam nhiều

hơn nữ. Khác biệt này có liên quan đến sự khác nhau về nội tiết giữa nam và

nữ làm ảnh hưởng đến phân bố mỡ trong cơ thể và tăng cân. Khi so sánh

lượng mỡ của cơ thể và phân bố mỡ của cơ thể, trước giai đoạn tiền mãn kinh

nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mỡ tạng ở nữ giới thấp hơn nam giới [44],

điều này có thể do ảnh hưởng có lợi từ estrogen lên phân bố mỡ. Tuy nhiên từ

tuổi tiền mãn kinh tỉ lệ mỡ bụng và tăng cân ở nữ giới lại tăng nhanh chóng,

khi nghiên cứu kích thước tế bào mơ mỡ trên nam và nữ các nghiên cứu cho

thấy kích thước tế bào mô mỡ ở nam không thay đổi đáng kể theo tuổi thì ở

nữ giới lại cho thấy có sự tăng nhanh kích thước tế bào mơ mỡ từ giai đoạn

này [45].



13



Hình 1.3. Thay đổi kích thước tế bào mơ mỡ ở nam và nữ theo tuổi[45].

Nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ

khơng có sự khác biệt lớn; một nghiên cứu được tiến hành năm 2017 tại Hoa

Kỳ cho thấy tỉ lệ mắc bệnh của nam cao hơn không đáng kể so với nữ (24%

và 23,4%) [46]. Một phân tích khác được tiến hành tại Hoa Kỳ, năm 2005

trên 3601 người tham gia từ 20 tuổi, tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên định nghĩa

của IDF, tỷ lệ mắc HCCH chung là 39,0±1,1%, trong đó tỷ lệ nam giới là

39,9±1,1 %, nữ giới là 38,1±1,2%[47]. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu ở

châu Á đều cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn so với nam giới. Theo

nghiên cứu của tác giả Yhaling Zhao tại Trung Quốc tỉ lệ mắc bệnh ở nam so

nữ là 12,8% so với 17,1% [19], cũng theo một nghiên cứu tại Trung Quốc của

Lao XQ tỉ lệ mắc bệnh của nam so với nữ là 16,3% so với 30,9%[48]. Hầu hết

các nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á cũng cho kết quả tương tự.

Nghiên cứu tại Phlippin năm 2009, trên nhóm người từ 20-50 tuổi, theo tiêu

chuẩn IDF, tỷ lệ mắc HCCH là 19,7% trong đó tỉ lệ nam là 16,1% so với 22%

nữ[49]. Theo nghiên cứu của Tần Văn Huy tại Khánh Hòa tỉ lệ mắc bệnh của

nam so với nữ là 8,0% với 11,7%[50], một nghiên cứu khác tại Hà Nội, trên

312 người, tỉ lệ nam chiếm 46,8%, nữ chiếm 53,2%[51]. Mặc dù có sự khác

biệt giữa tỷ lệ HCCH ở phụ nữ và nam giới ở từng quốc gia, sự khác biệt này

có thể do việc sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau trong nghiên cứu , chủng tộc,

văn hóa và tôn giáo.



14



1.1.4.3. Chủng tộc/ dân tộc

Đa số các nghiên cứu đều cho kết quả, lệ mắc HCCH của người châu Á

thấp hơn so với người da trắng. Tỷ lệ hiện mắc năm 2002 ở người trưởng

thành người Mỹ là 23,7% [3] Theo một phân tích năm 2005, tỷ lệ hiện mắc

của Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan dao động từ 10-15%; tuy nhiên ở miền

Nam Trung Quốc tỷ lệ này thấp hơn(5%). Trong khi đó tỉ lệ hiện mắc của

người Ấn Độ cao hơn hẳn so với các nước châu Á khác gần bằng tỉ lệ hiện

mắc của người Mỹ [5].

Tuy nhiên một vài nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ HCCH ở người châu Á

cao hơn so với người da trắng khi so sánh cùng khu vực địa lí. Năm 2010 một

nghiên cứu được tiến hành trên 43507 người đã cho kết quả: tỷ lệ HCCH của

phụ nữ da trắng là 12%, trong khi đó ở người Mỹ gốc châu Á là 30%, tương tự

đối với nam giới là 22% và 43 %[52].



Hình 1.4: Tỷ lệ hiện mắc HCCH ở một số quốc gia[5].



15



1.1.4.4. Trình độ học vấn.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu dịch tễ học tồn cầu đánh giá tác động của

kinh tế xã hội và trình độ học vấn với HCCH, nhưng có sự khác nhau kết quả

giữa các nghiên cứu.

Nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy có sự liên quan nghịch giữa trình độ

học vấn và tỷ lệ HCCH[53], kết quả tương tự được nhận thấy ở phụ nữ và

nam giới Phần Lan[54]. Trong khi đó một nghiên cứu ở Anh lại thấy rằng tỉ lệ

HCCH tăng gấp 2-3 lần ở người có trình độ học vấn thấp[55]. Ở Hàn Quốc,

mối liên hệ này chỉ rõ ở phụ nữ. Tỷ lệ HCCH cao hơn ở nhóm phụ nữ có kinh

tế và trình độ học vấn cao hơn[56]. Sự khác biệt này do nhiều ảnh hưởng của

quan điểm sống, tôn giáo, điều kiện ở các quốc gia khác nhau.

1.1.5. Một số yếu tố liên quan đến HCCH.

1.1.5.1. Thói quen ăn mặn và HCCH.

Thói quen ăn uống có ảnh hưởng nhiều đến HCCH, nhiều nghiên cứu

được tiến hành cho thấy chế độ ăn nhiều năng lượng đặc biệt là chất béo và

thói quen ăn mặn có ảnh hưởng đến HCCH. Nghiên cứu của chúng tôi tập

trung vào thói quen ăn mặn lên HCCH là thói quen xuất hiện nhiều ở các

nước châu Á trong đó có Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Kim

Thanh tiến hành trên người cao tuổi tại cộng đồng cho thấy ăn mặn làm tăng

nguy cơ mắc HCCH (OR=1,7). Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên

quan giữa ăn mặn và THA, các nghiên cứu can thiệp giảm lượng muối ăn

cũng có hiệu quả trong việc giảm huyết áp và các nguy cơ tim mạch. Nghiên

cứu DASH tiến hành trên 412 người cho thấy giảm mức natri xuống dưới 50

mmol/ngày làm giảm huyết áp tâm thu 11,5 mmHg ở những người đã được

chẩn đoán tăng huyết áp và 7,1 mmHg ở những người không bi tăng huyết áp.

Nghiên cứu của Hoffmann năm 2009 cũng cho thấy ăn mặn làm tăng huyết áp

và tăng cân, tuy nhiên không làm thay đổi glucose máu và lipid máu[57]. Như

vậy, ăn mặn làm tăng nguy cơ mắc HCCH thông qua cơ chế tăng huyết áp.



16



1.1.5.2. Tình trạng sử dụng rượu bia và HCCH.

Mối liên quan giữa sử dụng rượu và HCCH rất phức tạp:

Liên quan giữa sử dụng rượu và chỉ số khối cơ thể, một nghiên cứu tại

Nhật Bản trên 2227 người tham gia nghiên cứu khơng thấy có sự liên quan

giữa lượng rượu sử dụng và chỉ số khối cơ thể cũng như chỉ số eo-hông[58].

Tuy nhiên nhiều nghiên cứu sâu hơn đã cho thấy tỉ lệ hút thuốc lá cao ở

những người uống rượu và hút thuốc lá làm giảm cân nặng, vì vậy đã gây ra

nhiều ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu[59]. Nghiên cứu giữa những người

uống > 2 đơn vị rượu/ngày và những người uống ≤ 2 đơn vị rượu/ngày đã cho

thấy những người uống ≤ 2 đơn vị rượu/ngày khơng gây tăng cân và số đo

vòng bụng, tuy nhiên những người uống > 2 đơn vị rượu/ngày lại tăng cân

đáng kể [60].

Một vài nghiên cứu cho thấy sử dụng rượu làm tăng nồng độ HDL-C

huyết thanh, tăng độ nhạy insulin tuy nhiên lại làm tăng huyết áp và

triglycerid huyết thanh [61-63]. Một phân tích gộp trên 42 nghiên cứu đã cho

thấy uống rượu với lượng vừa phải làm giảm nguy cơ mắc HCCH và các yếu

tố nguy cơ tim mạch [63].

Liên quan đến nồng độ triglycerid huyết thanh, đa số các nghiên cứu đều

cho thấy sử dụng rượu làm tăng triglycerid. Theo một phân tích gộp khi sử

dụng mỗi gam rượu làm tăng triglycerid 0,19 mmol/dl [63]. Theo một nghiên

cứu tại Thượng Hải trên 448 đối tượng tham gia nghiên cứu cho thấy khi

lượng rượu sử dụng tăng dần làm tăng huyết áp, triglycerid huyết thanh,

HDL-C huyết thanh, glucose máu đói; tuy nhiên LDL-C huyết thanh, số đo

vòng bụng và tỉ lệ mắc HCCH có xu hường giảm dần [64].

Nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng rượu và huyết áp, một phân tích gộp

trên 824 bài viết đã cho thấy sử dụng rượu làm tăng HATT 2,7 mmHg và

HATTr 1,4 mmHg [65]. Cũng theo một phân tích gộp khác trên 2234 người,



17



khi giảm lượng rượu đang sử dụng có thể giảm HATT 3,31 mmHg, HATTr

2,04 mmHg[66].

Nghiên cứu năm 2014 của tác giả Slagter vá cộng sự trên Plos One Staff

(2014) trên 64046 người đã cho thấy sử dụng rượu < 1 đơn vị/ngày làm giảm

nhẹ nồng độ triglycerid, tiêu thụ 2 đơn vị rượu/ngày cho số đo vòng eo nhỏ

hơn, tiêu thụ > 2 đơn vị rượu/ngày làm tăng huyết áp. Nếu đồng thời sử dụng

rượu và hút thuốc lá làm tăng nồng độ triglycerid máu đáng kể [67].

1.1.5.3. Hút thuốc lá và HCCH.

Tình trạng hút thuốc lá ở nước ta, theo nghiên cứu của Phạm Xuân Đại,

tỉ lệ hút thuốc lá ở nam giới nước ta là 37,5%. Hút thuốc lá đã được chứng

minh làm tăng nguy cơ tim mạch trong nhiều nghiên cứu. Ba thành phần quan

trọng trong khói thuốc lá được nhắc đến là nicotin, carbonmonoxide và các

gốc tự do. Nicotin là một chất cường giao cảm làm tăng giải phóng

cathecholamin trong máu gây nhịp tim nhanh, tăng huyết áp. Carbonmonoxid

tăng trong máu 5-10% ở những người hút thuốc, khi gắn với hemoglobin làm

giảm lượng oxy trong máu, giảm oxy cho các mô trong đó có cơ tim và giảm

thời gian hoạt động thể lực của những người này. Các gốc tự do làm giảm

nồng độ của các chất chống oxy hóa và bảo vệ nội mạch, điển hình là nồng độ

HDL-C huyết thanh, như vậy làm tăng xơ vữa động mạch và tăng nguy cơ

bệnh tim mạch. Nghiên cứu mối liên quan giữa thuốc lá và bệnh mạch vành

cho thấy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành dù hút ít hay nhiều,

hút thuốc làm giảm chức năng vận mạch, gây xơ vữa mạch, tăng huyết áp và

hình thành huyết khối[68].

Nghiên cứu năm 2014 của một nhóm tác giả Slagter và cộng sự trên Plos

One Staff (2014) với 64046 nồng độ HDL-C huyết thanh ở người hút thuốc

lá thấp hơn so với người không hút thuốc lá[67]. Nghiên cứu của Trần Quang

Bình cũng cho thấy những người hút thc lá có nguy cơ mắc HCCH thấp



18



hơn 1.4 lần so với không hút. Theo một nghiên cứu tại nông thôn Trung Quốc

cho thấy nguy cơ mắc HCCH của những người hút thuốc lá không thay đổi

đáng kể (OR: 0,87-1,1)[69]. Nghiên cứu của Sang Woo được tiến hành tại

Hàn Quốc, hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc HCCH đồng thời cũng ảnh

hưởng tiêu cực đến tất cả các thành tố của HCCH, nguy cơ mắc HCCH tăng

từ 1,07-1,77 lần phụ thuộc vào số lượng thuốc lá được sử dụng hằng ngày của

đối tượng[70].

1.1.5.4. Liên quan đến địa dư và HCCH.

Nông thôn và thành thị là 2 khu vực có điều kiện kiện kinh tế xã hội

khác nhau, ở nông thôn sản xuất vẫn dựa vào nông nghiệp, thời gian hoạt

động thể lực nhiều hơn và chế độ ăn nhiều rau xanh ít chất béo. Một nghiên

cứu tại Trung Quốc, người thành phố có nguy có mắc bệnh tăng 1,51 lần [71].

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vào

sản xuất làm giảm sức lao động chân tay và sự phát triển của đơ thị hóa đã

dần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.

1.1.5.5. Cường độ, thời gian hoạt động thể lực và HCCH.

Hoạt động thể lực có ảnh hưởng khơng nhỏ đến HCCH, phụ thuộc vào

cả cường độ và thời gian hoạt động thể lực[72]. Một phân tích gộp trên 21

nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động thể lực lên ĐTĐ típ 2 đã cho thấy các

bài tập làm giảm kháng insulin, giảm cân và giảm chỉ số HbA1c [73].

Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và giảm cân, nghiên cứu của tác giả

Robert Ross cho thấy tập thể dục làm giảm cân nặng và vòng bụng kể cả khi

khơng có chế độ ăn kiêng, còn trên những đối tượng khơng giảm cân cũng

làm giảm số đo vòng bụng[74].

Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và kháng insulin, các nghiên cứu với

thời gian theo dõi dưới 12 tuần không thấy sự thay đổi đáng kể nồng độ

glucose máu đói, insulin máu và chỉ số HbA1c[75, 76]. Một phân tích lại cho

thấy khi theo dõi trên 12 tuần, các chỉ số glucose máu đói, HbA1c có giảm,



19



điều này cho thấy có sự giảm kháng insulin ở những đối tượng này tuy nhiên

kết quả này được cho là do tác dụng của giảm cân[73].

Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và lipid máu, nghiên cứu của tác giả

Durstine và cộng sự cho thấy luyện tập thể dục không làm thay đổi nồng độ

lipid máu, nó chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với chế độ ăn ít chất béo tạo ra tác

dụng giảm cân và giảm lượng mỡ cơ thể[77]. Nghiên cứu của tác giả

Stensvold tại Na Uy cũng cho thấy các bài tập thể dục trong 12 tuần không

làm thay đổi nồng độ triglycerid và HDL-C huyết thanh[75] .

Tuy nhiên, khi so sánh giữa ảnh hưởng của cường độ và thời gian hoạt

động thể lực đến HCCH còn có nhiều ý kiến khác nhau[72, 78]. Nghiên cứu

của Ronald và cộng sự được thực hiện để đánh giá tác động của các bài tâp

hiếu khí (aerobic - thời gian hoạt động thể lực) và các bài tập yếm khí

(anaerobic - cường độ hoạt động thể lực) lên HCCH kết quả cho thấy hiệu quả

hơn khi kết hợp cả 2 bài tập có hiệu quả làm giảm cân nặng, vòng eo, giảm rối

loạn lipid máu, chỉ số HbA1c; nhưng khi so sánh độc lập giữa 2 bài tập,

nghiên cứu cho thấy các bài tập hiếu khí có vẻ cho hiệu quả cao hơn[79].

Có nhiều ý kiến cho rằng ảnh hưởng của hoạt động thể lực lên HCCH

liên quan đến mức năng lượng tiêu hao, vì vậy nhiều nghiên cứu được tiến

hành để đánh giá mức năng lượng tiêu hao và các rối loạn chuyển hóa. Một

đơn vị đã được đặt ra để đo lường mức tiêu hao năng lượng là MET-phút, mỗi

MET-phút tương đương với 1 phút chuyển hóa cơ bản. Như vậy, với khuyến

cáo 150 phút mỗi tuần hoạt động thể lực với mức tiêu hao năng lượng được

đề xuất bằng 4 MET-phút là 600 MET-phút mỗi tuần. Câu hỏi đặt ra là nếu

tăng mức tiêu hao năng lượng lên thì nguy cơ tim mạch có tiếp tục giảm

xuống khơng. Kết quả của một phân tích gộp năm 2016 trên 135 nghiên cứu

khác nhau đã cho thấy khi tăng mức tiêu hao năng lượng lên từ 600 lên 4000

MET-phút/tuần và 8000 MET-phút/tuần thì nguy cơ tim mạch tiếp tục giảm,

còn khi tăng từ trên 8000 MET-phút/tuần thì nguy cơ tim mạch giảm



20



chậm[80]. Kết quả cũng tương tự nghiên cứu của trên 132 người cho thấy, với

các mức năng lượng tiêu hao 600-3999, 4000-7999 và ≥ 8000 MET-phút thì

nguy cơ mắc ĐTĐ thấp hơn 0,92, 0,83 và 0,76 lần; nguy cơ tim mạch cũng

thấp hơn 0,86, 0,76 và 0,67 lần so với những người có mức tiêu hao năng

lượng < 600 MET-phút/tuần. Như vậy với mức 4000 MET-phút mỗi tuần sẽ

tương đương với 150 -180 phút hoạt động thể lực mức độ vừa và nhẹ[80].

1.1.5.6. Hoạt động giải trí ngồi giờ làm việc và HCCH.

Sự phát triển của công nghệ đã làm thay đổi các hoạt động giải trí ngồi

giờ làm việc của con người, xem các chương trình truyền hình và sử dụng

internet ngồi giờ làm việc ngày càng phổ biến ở cả người lớn và trẻ em. Điều

này gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thể lực và các yếu tố khác.

Nghiên cứu được tiến hành năm 2005 tại Hàn Quốc cho thấy, tăng thời gian

xem tivi hằng ngày làm tăng tỉ lệ mắc HCCH và tăng nguy cơ mắc HCCH

2,23 lần[81]. Nghiên cứu của tác giả Rebekah Steele trên 2560 người trưởng

thành tại Úc cho thấy những người có thời gian xem tivi và sử dụng internet

từ 2,5-5 giờ/ngày làm tăng nguy cơ thừa cân lên 1,3 lần, béo phì 1,45 lần và >

5 giờ/ngày làm tăng nguy cơ thừa cân 1,46 lần, béo phì 2,55 lần[82]. Giảm

thời gian hoạt động thể lực và tăng nguy cơ thừa cân béo phì là nguyên nhân

gây ra những rối loạn của HCCH.

1.2. Ảnh hưởng của hcch lên một số bệnh lý.

1.2.1. Bệnh lý tim mạch.

HCCH có liên quan chặt chẽ với các bệnh lý tim mạch. Trong đó, bệnh

lý phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhất liên quan đến HCCH là bệnh mạch

vành và nhồi máu cơ tim.

Phần lớn các nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng bệnh mạch vành và

các bệnh lý tim mạch khác ở người có HCCH. Một phân tích gộp của

Gamietal bao gồm 36 nghiên cứu khác nhau đã cho thấy tỉ lệ bệnh mạch vành



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tăng huyết áp và kháng insulin

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×