Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Tác dụng lên các tuyến nội tiết khác

- Tác dụng lên các tuyến nội tiết khác

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



- Năm 1976, Mundy và cộng sự cũng thấy rằng hormone giáp tác động

trực tiếp lên mơ xương, kích thích hủy xương [42]. Tiếp đó là các nghiên cứu

của Mose Kilde và Christiansen (năm 1977), Kaptein (năm 1979) Bouillon và

cộng sự (năm 1980) [43].

- Meunier PJ, năm 1990 thấy rằng có sự mất xương bè và đặc biệt xương

vỏ của những bệnh nhân cường giáp. Ở cột sống và cổ xương đùi mật độ

xương mất vừa phải, ở xương quay mất xương nhiều hơn [44].

- Ongphiphadhanakul (1993), cho thấy bisphosphonate có thể dự phòng

được tác hại bất lợi của hormone giáp trên hệ xương [45].

- Năm 1993, Rosen và cộng sự nghiên cứu thấy bisphosphonate phòng

được sự gia tăng của thơng số sinh hóa phản ánh hoạt động của tạo cốt bào và

hủy cốt bào xảy ra sau điều trị hormone giáp ở người [46].

- Năm 1994, Diamond, Mudde và cộng sự cho thấy sau khi điều trị kháng

giáp ít nhất khoảng 12 tháng có tăng khối xương so với trước điều trị [47].

- Năm 1996, Rosen CJ ở Mỹ, cho rằng mất xương và nguy cơ gãy xương

tăng ở bệnh nhân cường giáp .

- Nghiên cứu của Jodar E và cộng sự (Tây Ban Nha) vào năm 1997: đo

mật độ xương ở cột sống thắt lưng (L2 - L4), cổ xương đùi và tam giác

Ward’s bằng hấp thụ tia X năng lượng kép thấy giảm toàn bộ khối xương và

chỉ hồi phục sự mất xương ở một số vị trí sau khi đạt được bình giáp, với thời

gian trung bình 7,5 tháng [48].

- Năm 1997, Gomez Acotto C, Meunier PJ, so sánh mật độ xương đo

bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép và phương pháp siêu âm ở

24 bệnh nhân bệnh Basedow trong đó có 8 sau mãn kinh, cho thấy cường giáp

ảnh hưởng đến xương vỏ và xương bè [49].

- Furlanetto RP (năm 2001) đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ

photon kép ở vị trí cột sống ở 14 bệnh nhân mắc bệnh basedow và định lượng

calci ion hóa, PTH máu. Tác giả thấy: tăng mật độ xương, nồng độ calci và

PTH máu giảm ở bệnh nhân có điều trị kháng giáp và kết luận cường giáp gây

mất xương [50].



26



1.4.4. Biểu hiện xương trong cường giáp

Khi nồng độ hormone tuyến giáp lưu hành trong máu tăng cao sẽ tác

động gây rối loạn chức năng của các cơ quan và tổ chức trong cơ thể dẫn đến

nhiễm độc hormone tuyến giáp.

1.4.5. Sinh bệnh học của loãng xương ở cường giáp.

Hormone giáp tăng hủy xương và tạo xương. Thyroxine ức chế

phosphodiesterase và tăng AMP vòng ở trong tế bào không tương tác với

PTH, tăng hoạt hóa proteinkinase ở trong tế bào, ức chế hoạt động của 1α –

hydroxylase ở thận và làm giảm nồng độ 1,25 (OH) 2D3 gây nên giảm hấp

thu calci ở ruột [51], [37].

Peter Vestergaard ở Đan Mạch thấy rằng sự dư thừa hormone giáp kích thích

hủy xương, tăng đổi mới xương vỏ và xương bè và làm giảm mật độ xương [52].

Xương là một mơ sống, nó ln biến đổi và khơng ngừng được thay thế.

Bình thường mỗi chu chuyển của xương khoảng 200 ngày, sự dư thừa

hormone giáp làm gia tăng sự luân chuyển của xương và tăng sự mất xương

một cách đều đặn [53]. Hormon giáp tăng quá cao và q kéo dài, có nguy cơ

rất lớn bị lỗng xương, do vậy cường giáp cần được chẩn đoán sớm và điều

trị. Mặc dù điều trị có thể dẫn đến nồng độ hormone giáp dưới mức bình

thường và phải điều trị thyroxine bổ sung. Liều điều trị thích hợp của

thyroxine khơng gây lỗng xương [52].

Tóm lại hormone giáp tác động lên tạo cốt bào và hủy cốt bào, kết quả

làm biến đổi chuyển hóa chất khống và chu chuyển xương, sự thay đổi về tế

bào học và các phân tử xương, được phản ánh qua mật độ xương [53].

1.4.6. Các yếu tố liên quan tới mật độ xương của bệnh

nhân bị Basedow [11].



-



Các yếu tố liên quan tới mật độ xương.

Tuổi: tuổi càng cao mật độ xương càng giảm. Ở người già có sự mất cân

bằng giữa tạo xương và hủy xương, chức năng của tạo cốt bào bị suy

giảm là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất xương ở tuổi già.



27



Giảm hấp thu calci ở ruột và sự giảm tái hấp thu calci ở ống thận. Tham

gia vào q trình hấp thu calci ở ruột có vai trò của 1 – 25

dihydroxycholecalciferol.

Ở người già nồng độ 25 Hydroxycholecalciferol (tiền chất của 1 – 25

dihydroxycholecalciferol) trong máu cũng giảm do chế độ dinh dưỡng do

giảm tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

- Oestrogen: năm 1940 Albright là người đầu tiên đã tìm thấy được mối

liên hệ giữa bệnh lỗng xương và giảm chức năng của buồng trứng ở phụ nữ,

mặc dù mất xương là hiện tượng sinh lý xuất hiện từ sau tuổi 40 ở cả hai giới

song rõ ràng tốc độ mất xương ở cả nam và nữ là hồn tồn khác nhau. Ở tuổi 70

có tới 50% phụ nữ sau mãn kinh có biểu hiện mất xương trong khi ở nam giới

chỉ có 25% có năm so với nam giới là do hậu quả của sự suy giảm chức năng

buồng trứng một cách nhanh chóng. Như vậy, mãn kinh chính là nguyên nhân

trực tiếp gây ra sự khác biệt giữa nguy cơ loãng xương của cả nam và nữ giới.

Có thể nói estrogen có vai trò quan trọng trong việc duy trì khối lượng xương.

- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của

bộ xương, chế độ ăn không đầy đủ calci sẽ ảnh hưởng đến sự đạt được đỉnh

cao của khối xương và sự mất xương sau này .

- Yếu tố cân nặng: ở phụ nữ nhẹ cân sự mất xương xảy ra nhanh hơn và

tần suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do loãng xương cao hơn. Ngược

lại, cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thơng

qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển hóa Androgen của tuyến thượng thận

thành estron ở mô mỡ.

- Yếu tố chiều cao: những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương

thấp hơn nên dễ có nguy cơ lỗng xương.

- Tình trạng vận động: tình trạng giảm vận động ở những người lớn tuổi

cũng là yếu tố nguy cơ dẫn đến sự mất xương. Ngược lại, sự giảm vận động

dẫn tới mất xương nhanh.



28



- Các yếu tố khác: một số yếu tố như sử dụng một số thuốc

(glucocorticoid, heparin…), yếu tố di truyền, uống rượu, hút thuốc lá, số lần

sinh đẻ … đều có liên quan tới loãng xương.

- Các bệnh lý liên quan tới loãng xương: cường giáp, cường cận giáp,

cushing, đái tháo đường, sau cắt dạ dày, ruột, rối loạn tiêu hóa kéo dài, suy

thận, xơ gan, suy giáp, viêm khớp mạn tính.





Một số yếu tố có thể tham gia vào cơ chế gây loãng xương.

- Yếu tố cơ học: bất động kéo dài trên 6 tháng, hoặc các du hành vũ trụ

khi ở trạng thái không trọng lượng.

- Yếu tố di truyền: người da đen ít bị lỗng xương hơn người da trắng,

người gầy và cao hay bị loãng xương hơn, một số lỗng xương có tính chất

gia đình.

- Yếu tố chuyển hóa: thiếu calci hoặc vitamin D và khả năng giảm tạo 1

–25 dihydroxyvitamin D ở người lớn tuổi là vấn đề đang được tranh cãi.

- Yếu tố hormone: tăng tiết hormone cận giáp trạng hoặc corticoid vỏ

thượng thận có thể dẫn đến loãng xương thứ phát, giảm tiết oestrogen đóng vai

trò quan trọng trong lỗng xương: sau mãn kinh, các trường hợp cắt buồng trứng

trước 45 tuổi, mãn kinh sớm (thời gian có kinh dưới 35 năm). Ngun nhân

lỗng xương ở nam giới do giảm testosterone máu ngoại vi, giảm prolactin máu.

- Loãng xương do thuốc: sử dụng glucocorticoid, heparin kéo dài.

- Các yếu tố khác: hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ít hoạt động thể lực,

chế độ ăn ít calci (dưới 800mg/ngày) trước 20 tuổi, thiếu VitaminD…

1.5.Tình hình nghiên cứu loãng xương.

Trong những năm gần đây, vấn đề lỗng xương đã có nhiều nghiên cứu:



-



Trần Ngọc Ân đã đề cập nhiều tới bệnh lý loãng xương trong những tài liệu

giảng dạy và tìm hiểu ngun nhân của lỗng xương thứ phát trong các

bệnh nội tiết [7], [54].



-



Trong chuyên mục sức khỏe, Trần Đức Thọ đã nói về tình trạng mất calci và

loãng xương ở người già [55].



29



-



Vũ Thị Thanh Thủy, năm 1996 trong luận án đã xác định các yếu tố liên

quan tới loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh, cùng năm đó Vũ Đình

Chính cũng đề cập đến các yếu tố liên quan tới loãng xương ở phụ nữ nông

thôn – tỉnh Hải Hưng [56].



-



Năm 1996, Nguyễn Đình Khoa nghiên cứu đánh giá tình trạng lỗng xương

ở bệnh nhân mắc bệnh khớp mãn tính sử dụng glucocorticoid kéo dài bằng



-



phương pháp X quang quy ước cho thấy tỉ lệ loãng xương là 42,6% [57].

Nguyễn Thị Ngọc Phượng, và cộng sự năm 2000, sử dụng phương pháp

DEXA đánh giá mối tương quann giữa loãng xương và tuổi, chỉ số BMI phụ nữ,

tác giả thấy phụ nữ sau mãn kinh có tỷ lệ lỗng xương rất cao 62,6% so với

phụ nữ tiền mãn kinh 30,5 %.

- Nguyễn Thị Thanh Phương 2001, đánh giá mật độ loãng xương ở nữ

tuổi 20 – 39 với phương pháp DEXA [58].

- Phạm Hồng Huệ (năm 2001) bằng phương pháp chụp cắt lớp vi tính

cột sống đã đánh giá lượng khống xương ở cột sống.

- Năm 2002, Đoàn Thị Tuyết đánh giá mật độ xương ở bệnh nhân nữ

viêm khớp dạng thấp có sử dụng glucocorticoid, bằng phương pháp DEXA

nhận thấy mật độ xương gót và xương cẳng tay giảm hơn nhóm chứng [59].

- Phạm Văn Tú 2002, nhận xét mật độ xương ở nam giới tuổi trên 50,

bằng phương pháp DEXA [60].

- Bệnh lý loãng xương được PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan đề cập nhiều

trong “Bệnh học cơ xương khớp nội khoa” [11].

- Vũ Thị Thanh Thủy và cộng sự đã nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ

xẹp đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh, đã khuyến cáo cần có

một chế độ theo dõi và dự phòng lún đốt sống do loãng xương ở những phụ

nữ đã mãn kinh, đặc biệt là những đối tượng có những yếu tố sau: chiều cao ≤

145cm, cân nặng < 40 kg, mãn kinh ≥ 20 năm có tiền sử gẫy xương sau 45

tuổi. Tác giả đã kết luận yếu tố tuổi và yếu tố mãn kinh là nguyên nhân gây

loãng xương chủ yếu ở những người trên 50 tuổi [61].



30



Như vậy, vấn đề loãng xương đã được nghiên cứu bằng nhiều phương

pháp, quan tâm đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng lỗng xương do các

bệnh nội tiết còn ít được chú ý đến



31



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Đối tượng nghiên cứu cả hai giới tương đồng tuổi, giới đến khám bệnh

và khám sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng

10/2017 đến tháng 7/2018. Các đối tượng này được chia thành 2 nhóm:







Nhóm bị Basedow (nhóm bệnh):

Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Bạch Mai thời gian từ tháng 10/2017 đến

tháng 7/2018, đáp ứng theo tiêu chuẩn:

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định Basedow (hướng dẫn chẩn đoán và

điều trị bệnh nội tiết – chuyển hóa) của bộ y tế năm 2015.

Tuy bệnh nhân Basedow có nhiều triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

song chẩn đoán xác định dựa vào một số triệu chứng chủ yếu:



-



Bướu giáp to lan tỏa (hoặc hỗn hợp)

Nhịp tim nhanh thường xun

Lồi mắt

Mệt mỏi, nóng bức ra nhiều mơ hơi, ăn nhiều, uống nhiều, sút cân.

Thay đổi tính tình, dễ cáu gắt, rối loạn giấc ngủ, yếu hoặc liệt cơ chu kỳ, run







tay đầu ngón.

Tăng nồng độ hormone tuyến giáp FT4, giảm TSH.

TRAb dương tính hoặc tăng nồng độ.

Các bệnh nhân này được chẩn đoán Basedow mới phát hiện chưa được dùng









thuốc bình giáp bao giờ.

Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Nhóm khơng bị Basedow (nhóm chứng):

- Bệnh nhân khỏe mạnh đến khám sức khỏe định kỳ tại khoa khám bệnh

theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng

7/2018 với tiểu chuẩn:

- Khám lâm sàng khơng có triệu chứng bệnh lý Basedow và các bệnh lý khác



32



- Cận lâm sàng: sinh hóa máu, cơng thức máu, hormone tuyến giáp

bình thường.

- Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ .

Các bệnh nhân bị Basedow đã được điều trị thuốc kháng giáp trạng.

























Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến loãng xương:

Sử dụng các thuốc glucocorticoid kéo dài với liều cao, Heparin,

phenobacbital.

Bất động lâu, mãn kinh rất sớm trước 40 tuổi, cắt buồng trứng, cắt dạ dày

Mắc các bệnh nội khoa khác kèm theo:

Suy thận mạn tính

Suy gan mạn tính

Bệnh đa u tủy xương

Bệnh cường cận giáp

Bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulin

Hội chứng Cushing

Ung thư di căn

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính …

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu.

2.2.1.Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2017 đến tháng 7/2018 tại Bệnh

viện Bạch Mai

2.2.2.Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang

2.2.3.Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu.

2.2.3.1.Cỡ mẫu

Áp dụng cỡ mẫu thuận tiện

2.2.3.2. Cách chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

Các bệnh nhân được phát hiện lần đầu điều trị tại khoa nội tiết và khoa khám



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Tác dụng lên các tuyến nội tiết khác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×