Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Xương là một mô liên kết đặc biệt bao gồm các tế bào xương và chất căn bản (bone matrix).

- Xương là một mô liên kết đặc biệt bao gồm các tế bào xương và chất căn bản (bone matrix).

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



- Giai đoạn mãn kinh (mất xương chậm): sự mất xương lên 1 - 3% mỗi

năm và kéo dài 5 - 10 năm sau khi ngừng hoạt động kinh nguyệt. Từ tuổi 60

sự mất xương chậm lại, đến ngoài 70 tuổi do thiếu calci và vitamin D dẫn đến

cường cận giáp, sự dư thừa PTH làm tăng hủy xương và tái tạo xương (đặc



-



biệt xương đặc) làm tăng nguy cơ gẫy xương.

Chu kỳ tái tạo xương [13].

Quá trình tạo xương và hủy xương được điều hòa chặt chẽ, là cần thiết

trong quá trình đổi mới xương để đạt được và duy trì hình dạng và độ

chắc của xương để duy trì số lượng bình thường, quá trình tạo xương và hủy

xương cần tương đương nhau. Tạo xương được phân biệt với đổi mới xương,

đổi mới xương là q trình mơ xương được liên tục tiêu và thay thế để duy trì

khối lượng hình dáng và sự tồn vẹn của xương.

- Chu kì đổi mới xương bắt đầu với hủy xương do hủy cốt bào, tiếp theo

là giai đoạn đổi chiều với sự kết thúc hủy xương và khởi đầu quá trình tạo

xương, trong giai đoạn đổi chiều các hốc xương tạo ra trong q trình hủy

xương được lót bởi các tế bào đơn nhân, giai đoạn 3 là giai đoạn tạo xương

khi các tế bào đơn nhân được thay thế bởi các tế bào nguồn gốc xương, các tế

bào này sau đó biệt hóa thành tạo cốt bào chất căn bản chứa calci được lắng

đọng, các hốc được làm đầy dần với xương mới.

1.1.4. Hormon tham gia chuyển hóa xương [14].

Điều hòa sự cân bằng giữa tạo xương và tiêu xương có những hormone

tham gia: PTH, vitamin D, hormon sinh dục, hormone tăng trưởng, hormone

vỏ thượng thận, calcitonin …















Parathyroid hormone (PTH) [5], [14] , [16]

Calcitonin(CT)

Hormon tăng trưởng (GH)

Hormon sinh dục

Vitamin D (1,25 dihydroxy Vitamin D3)



10









Hormon tuyến giáp.

Glucocorticoid

1.2. Loãng xương và các phương pháp chẩn đốn lỗng xương.

1.2.1.Định nghĩa và phân loại [7], [11]

1.2.1.1.Định nghĩa.

Năm 2001, tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống nhất đưa ra định nghĩa

loãng xương là: loãng xương được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của

xương, sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của

xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của

xương, chu chuyển xương, độ khống hóa, tổn thương tích lũy, tính chất của

các chất cơ bản của xương [11].

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1994 đã định nghĩa lỗng xương:



-



Khối lượng xương bình thường khi mật độ xương (Bone mineral density)

không thấp hơn 1 độ lệch chuẩn SD (Standard deviation).

Tương đương với T - score > -1



-



Khối lượng xương thấp hay giảm mật độ xương khi mật độ xương thấp hơn từ

1 đến 2,5 so với độ lệch chuẩn SD.

Tương đương với: - 2,5 ≤T - score ≤ -1



-



Loãng xương được xác định khi mật độ xương < -2,5 SD.

Tương đương với: T - score < -2,5

- Loãng xương nặng khi mật độ xương < 2,5 gẫy xương vị trí xương hay

gãy ở: đốt sống, cổ xương đùi.

1.2.1.2. Phân loại

Theo nguyên nhân, loãng xương được chia làm 2 loại là loãng nguyên

phát và loãng xương thứ phát. Loãng xương nguyên phát được chia thành 2

typ: loãng xương sau mãn kinh (typ 1) và loãng xương tuổi già (typ 2). Loãng

sau mãn kinh thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh hoặc phụ nữ sau cắt bỏ

buồng trứng khoảng 5 - 10 năm.



11







Loãng xương nguyên phát: là loại lỗng xương khơng tìm thấy ngun nhân

khác ngồi tuổi và tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Nguyên nhân do q trình

lão hóa của tạo cốt bào, làm xuất hiện tình trạng mất cân bằng giữa hủy và tạo

xương, gây nên thiểu sản xương, gồm 2 typ:

- Typ 1 (loãng xương sau mãn kinh): nguyên nhân do sự thiếu hụt

estrogen. Thường gặp ở phụ nữ khoảng từ 50 - 60 tuổi, đã mãn kinh, tổn

thương chủ yếu là mất chất khoáng ở xương xốp (xương bè) biểu hiện bằng

sự lún các đốt sống hoặc gãy xương Pouteau – Colles, loãng xương nhóm này

thường xuất hiện sau mãn kinh từ 5 – 15 năm, ngun nhân của lỗng xương

typ 1, ngồi sự thiếu hụt estrogen ra, còn có sự giảm tiết hormone cận giáp

trạng, tăng thải calci qua nước tiểu, suy giảm hoạt động enzyme 25 – OH –

Vitamin D1α hydroxylase.

- Typ 2 (lỗng xương tuổi già): tình trạng lỗng xương liên quan tới tuổi

và sự mất cân bằng tạo xương. Loại này xuất hiện cả nam và nữ, thường trên

70 tuổi, mất chất khống tồn thể cả xương xốp (xương bè) và xương đặc

(xương vỏ). Biểu hiện chủ yếu là gãy cổ xương đùi, xuất hiện muộn thường sau

75 tuổi cả nam và nữ, loại loãng xương này liên quan tới hai yếu tố quan trọng là

giảm hấp thu calci, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cường cận giáp thứ phát.







Loãng xương thứ phát.

Loãng xương thứ phát là loại lỗng xương tìm thấy ngun nhân do một

số bệnh hoặc một số thuốc gây nên, thường gặp triệu chứng loãng xương

trong các bệnh suy sinh dục, cường vỏ thượng thận, dung nội tiết tố vỏ

thượng thận kéo dài. Cường cận giáp, cường giáp, rối loạn hấp thu, thiếu calci

bất động dài ngày, điều trị bằng heparin kéo dài.

1.2.2. Các phương pháp chẩn đốn lỗng xương

1.2.2.1. Xét nghiệm sinh hóa



12



Xét nghiệm cho phép đánh giá sự đổi mới xương: loãng xương xảy ra

khi hủy xương nhiều hơn tạo xương. Bằng phương pháp sinh hóa người ta có

thể định lượng được một số chất đặc trưng cho quá trình hủy xương và q

trình tạo xương qua đó đánh giá sự đổi mới xương.

Lưu ý: trong loãng xương nguyên phát, các xét nghiệm về hội chứng

viêm (tốc độ máu lắng, CRP, điện di protein máu …) và bilan phosphor - calci

(calci máu, niệu, phosphatase kiềm …) phải bình thường.

Ngày sau khi có một lún đốt sống mới, tốc độ máu lắng giờ đầu có thể

tăng tới 30mm và phosphatase kiềm tăng thống qua, song các chỉ số này sẽ

trở lại bình thường trong vòng một tuần.





Các thơng số phản ánh q trình tạo xương:

- Osteocalcin: gồm một protein có 49 acid amin, phân tử lượng là 5800,

là một protein đặc hiệu được tổng hợp từ tạo cốt bào và nguyên bào xương,

nồng độ osteocalcin liên quan đến tốc độ tạo xương và sự calci hóa. Trong

bệnh lỗng xương nồng độ osteocalcin tăng có giá trị trong đánh giá sự mất

xương chậm. Đây là xét nghiệm đặc hiệu trong điều trị loãng xương.

- Phosphatase kiềm của xương: là một enzyme có ở màng tạo cốt bào

của xương. Hoạt tính của phosphatase kiềm trong huyết thanh được sử dụng

để đánh giá sự tạo xương nhưng độ đặc hiệu không cao do phụ thuộc vào tuổi

nhất là phụ nữ mãn kinh. Trong bệnh loãng xương, phosphatase kiềm có thể

bình thường hoặc hơi tăng.







Các thơng số phản ánh quá trình hủy xương:

- Calci niệu: là một thông số để đánh giá sự hủy xương, tỉ lệ calci

/creatinine niệu khi đói tăng tức là sự hủy xương tăng, phương pháp này có độ

tin cậy khơng cao.

- Pyridinoline và Desoxypyridinolin: hai thành phần này được tạo ra từ

quá trình hủy xương bởi các hủy cốt bào, nó có thể tăng từ 50 - 100% trong



13



thời kỳ mãn kinh so với thời kỳ tiền mãn kinh hoặc bị loãng xương, chúng có

giá trị cao trong nghiên cứu và theo dõi điều trị loãng xương.

- Phosphatase kiềm Tartrate: là sản phẩm của hủy cốt bào [17], [18], [6].

1.2.2.2. Phương pháp chụp X quang quy ước [7], [17], [18].

Có nhiều tiêu chuẩn để đánh giá mật độ xương bằng phương pháp x

quang: tính chỉ số Barnett - Nordin,chỉ số Meunier và chỉ số Singh.





Đo chỉ số Barnett - Nordin (đo chỉ số tủy – vỏ): chụp xương đốt bàn tay thứ







hai, đo đường kính của thân xương D và đường kính của phần tủy xương d.

Chỉ số Barnett - Nordin

Chỉ số này < 0,45 được coi là loãng xương

Chỉ số cột sống Meunier: Chụp nghiêng cột sống lưng và thắt lưng (từ D6 D12 và D12 - L5). Sử dụng thuốc và compa đo các chiều cao trước, giữa và

sau của 10 thân đốt sống từ D7 - L4. Dựa vào kết quả đo đạc và quan sát hình













thái cột sống cho điểm từng đốt theo phương pháp của Meunier.

Đốt sống bình thường:

1 điểm

Đốt sống lõm một hoặc hai mặt

2 điểm

Đốt sống hình chêm

3 điểm

(chiều cao trước dưới 80% chiều cao sau)

Đốt sống xẹp tồn bộ (hình lưỡi)

4 điểm

Tính tổng số điểm của 10 đốt sống (từ D7 đến L4) ta có chỉ số Meunier,

khi tất cả các đốt sống bình thường chỉ số Meunier bằng 10 (khơng có lỗng

xương), khi có một hoặc nhiều đốt sống biến dạng chỉ số Meunier lớn hơn 10







(có lỗng xương).

Chỉ số Singh: chụp đầu trên xương đùi với tư thể thẳng. Bình thường 4 hệ

thống các dải xương bị đứt gãy, mất đi ít hay nhiều, người ta cho điểm từ 1

đến 7 (7 điểm là bình thường,1 điểm là rất nặng).

1.2.2.3. Các phương pháp đo mật độ xương







Đo hấp thụ pho ton đơn (Single Photon Absorptionmetry - SPA) [19], [20],

[21].

Năm 1963, Cameron và cộng sự phát minh ra kỹ thuật này, đánh dấu sự

tiến bộ trong lĩnh vực thăm dò trọng lượng chất khoáng của xương.



14



-



Nguyên lý: Sử dụng nguồn tia gama phát ra từ iode 125 chiếu vào vùng xương

cần thăm dò. Sự hấp thu năng lượng khác nhau của xương và phần mơ mềm

cho phép tính được khối lượng chất khống trên vùng tia chiếu qua. Kết quả

được tính bằng g/cm. Thời gian thăm dò trong 15 phút, tỉ lệ sai số 4 – 5%.

Kỹ thuật này áp dụng để đo khối lượng ở vị trí ngoại vi như: xương

quay, xương gót.

- Ưu điểm: liều tia xạ thấp, thể tích máy gọn nhẹ, cho phép sử dụng

thuận lợi trong các nghiên cứu ở cộng đồng.

- Nhược điểm: Kỹ thuật này chỉ cho phép đo được mật độ xương ở ngoại

vi, không đo được vị trí xương đùi và xương cột sống.







Đo hấp thụ photon kép (Dual Photon Absorptionmetry - DPA) [19], [22], [23],

[24].

Kỹ thuật này được tìm ra từ những thập niên 1960 - 1970 và được

Mazess và cộng sự phát triển.

- Nguyên lý: sử dụng hai nguồn photon có mức năng lượng khác nhau 44

kev và 100 kev. Nguồn phát xạ thường là Gadolinium 153. Với hai nguồn

photon này, hệ số hấp thu của xương và mô mềm khác nhau cho phép đánh

giá được chính xác khối lượng xương. Kết quả được biểu diễn bằng lượng

chất khoáng trên một đơn vị diện tích vùng được quét (g/cm). Liều tia 5

mrem, thời gian thăm dò khoảng 20 phút, sai số 3 – 6% tùy từng vị trí đo.

- Ưu điểm: cho phép đo mật độ xương ở những vị trí trung tâm như cột

sống, đầu trên xương đùi và toàn bộ cơ thể, sai số giữa các lần đo thấp và liều

tia xạ thấp.

- Nhược điểm: thời gian thăm dò kéo dài và không đánh giá được một

cách biệt lập giữa xương đặc và xương xốp.







Đo khối lượng xương bằng chụp cắt lớp vi tính (Quantitative Computed

Tomogaphy – QCT) [19], [22].

Ruegsegger và cộng sự đã tìm ra phương pháp này năm 1976 khi thăm

dò mật độ xương cánh tay.



15



- Nguyên lý: dựa vào đặc tính hấp thụ khác nhau của tổ chức calci ion

hóa với nguồn tia xạ ion hóa với những lát cắt 8 – 10mm đi qua trung tâm các

thân đốt sống từ L1 đến L5. Tỷ trọng khoáng của xương được so sánh với một

phantom đi kèm chứa K2HPO4 hoặc CaCO3 ở các nồng độ khác nhau. Kết

quả được tính bằng g/cm. Thời gian thăm dò 15 phút, tỷ lệ sai số 5 – 10%.

- Ưu điểm: phương pháp này cho biết tỷ trọng khoáng thực theo ba chiều

của xương. Thành phần xương đặc và xương xốp được đánh giá một cách biệt

lập . Phương pháp này có thể đo được mật độ xương tại xương cẳng tay, cột sống

và toàn bộ cơ thể. Tuy nhiên thường dung đánh giá mật độ xương ở cột sống.

- Nhược điểm: giá thành cao, nguồn tia xạ cao (200 – 1500mrem) tùy

từng vị trí, tổ chức tủy xương và mơ dạng xương có thể tạo ra sai số.





Đo bằng siêu âm định lượng [22], [4].

Đây là phương pháp mới được áp dụng để đánh giá chất lượng xương.

- Nguyên lý: theo nguyên tắc phát chùm tia sóng siêu âm có tần số từ

200 – 1000kHz qua vị trí xương gót, xương chày, xương cẳng tay hoặc xương

ngón tay để đánh giá chất lượng xương. Khi xương bị xốp do loãng xương,

khả năng dẫn truyền tia siêu âm qua xương sẽ kém đi và khả năng hấp thụ tia

của xương cũng giảm đi.

- Ưu điểm: khơng liên quan đến tia xạ, chí phí thấp, thể tích máy gọn, dễ

sử dụng, dễ áp dụng trong nghiên cứu dịch tễ học.

- Nhược điểm: độ chính xác bị hạn chế bởi phần mơ mềm xung quanh,

tính ổn định của kết quả còn đang được tiếp tục nghiên cứu.







Đo hấp thụ tia X năng lượng đơn (Single - Energy X - ray Absorptionmetry SXA [20], [25]

Kỹ thuật này được Kelly và cộng sự sử dụng từ những năm 1994, dùng

để đo mật độ xương ở những vị trí xương ngoại vi. Kỹ thuật này cho phép đo

ở những vị trí tránh dùng chất phóng xạ. Người ta thường áp dụng phương

pháp này để thay thế phương pháp đo hấp thụ photon đơn. Tuy nhiên, kỹ thuật

này khó thực hiện ở phần xương đùi và cột sống.



16







Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual - Energy X - ray Absorptiometry

-DEXA) [21], [25], [26].

Trong những năm gần đây Mazess và Wahner (1988), Stein và cộng sự

(1988) đã công bố phương pháp đánh giá mật độ xương bằng đo hấp thụ tia X

năng lượng kép. Đây là kỹ thuật tiên tiến, giá trị chẩn đoán cao đã được nhiều

nước trên thế giới sử dụng.

- Nguyên lý: tương tự như DPA, nhưng nguồn tia gama phát ra từ

Gadonilium 153 trong DPA được thay thế bởi nguồn phát ra tia X. Nguồn tia

X có thể tạo ra luồng phóng xạ cao hơn nhiều so với nguồn chất đồng vị

phóng xạ dung trong DPA (gấp 500 - 1000). Vì vậy, độ chính xác cao so với

DPA thời gian tiến hành đo khoảng dưới 5 phút.

- Ưu điểm: độ chính xác cao, thời gian thăm dò ngắn, liều tia xạ thấp (2

– 4 mrem), khả năng tái lập kỹ thuật tốt. Phương pháp này cho phép đo mật

độ xương ở nhiều vị trí như: xương cột sống, xương đùi, các xương ngoại vi

và toàn cơ thể. Đây là phương pháp dùng trong chẩn đốn lỗng xương và

được sử dụng rộng rãi trong các thử nghiệm lâm sàng và trong các nghiên cứu

dịch tễ học.

- Các thiết bị DEXA ngày càng được phát triển hồn thiện hơn, phần

mềm của máy có thể tự động xác định khu vực cần đo một cách riêng rẽ.

Ngồi ra, còn có thể đo mật độ xương cột sống ở mặt chiếu phía sau, do đó

đánh giá chính xác được phần bè của xương đốt sống mà kết quả không bị sai

lệch bởi các yếu tố như gai xương, calci hóa của động mạch chủ…







Sóng quang phổ cộng hưởng từ với P31 (Spectroscosipie de Resonance

Magnetique - PRM [22], [26].

Là phương pháp xác định độ muối khoáng xương bằng quang phổ cộng

hưởng từ hạt nhân với P31, phương pháp khá chính xác giúp phân biệt mơ

xương và phân mềm bao quanh khá rõ ràng.

Lựa chọn phương pháp thăm dò mật độ xương.



17



Có nhiều phương pháp đánh giá mật độ xương. Tuy nhiên, để lựa chọn

một phương pháp có nhiều ưu điểm phải dựa trên một số tiêu chí như: độ

chính xác cao, tiện lợi, chí phí thấp, ít ảnh hưởng đến sức khỏe đối tượng

nghiên cứu. Chúng tôi lựa chọn phương pháp đo mật độ xương dựa trên

nguyên lý hấp thu tia X năng lượng kép (DEXA).

Tiêu chuẩn vàng để chẩn đốn lỗng xương theo tổ chức y tế thế giới

(WHO) là đo mật độ xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi. Để đáp ứng

tiêu chuẩn trên .

1.3. Đại cương bệnh Basedow

1.3.1. Khái niệm về cường giáp và bệnh Basedow

Định nghĩa: Cường giáp (hyperthyroidism) là một hội chứng do tình

trạng tuyến giáp hoạt động quá mức dẫn đến sản xuất hormon giáp nhiều hơn

bình thường. Hậu quả làm gia tăng nồng độ hormone lưu hành trong máu, gây

ra những tổn hại về mơ và chuyển hóa [27].

Bệnh Basedow là một trong những bệnh cường chức năng tuyến giáp

tiên phát thường gặp trên lâm sàng.

Bệnh Basedow mang nhiều tên gọi khác nhau: Bệnh Graves (Graves’

disease), bệnh bướu giáp có lồi mắt (Exophthalmic goiter), bệnh Basedow

(Basedow’s disease), bệnh Parry (Parry’s disease), bệnh cường chức năng

tuyến giáp do miễn dịch (immunogenic hyperthyroidism).

Nguyên nhân của cường giáp:

- Basedow là nguyên nhân thường gặp nhất, điền hình nhất thường gặp ở

nữ nhiều hơn.

- Bướu tuyến giáp có đơn nhân hoặc đa nhân có cường giáp.

- Ung thư tuyến giáp.

- Viêm tuyến giáp.

- Sử dụng quá nhiều hormone tuyến giáp.

- Do dùng quá nhiều iod.

- Dùng thuốc (Amiodaron) [28]

- Adenom thùy trước tuyến yên tiết quá nhiều TSH.



18



Trong các nguyên nhân gây cường giáp kể trên thì bệnh Basedow là một

nguyên nhân chủ yếu của cường giáp (60 – 80% các trường hợp ngộ độc

giáp), đặc biệt ở những người trẻ [29].

1.3.2. Sinh lý bệnh học Basedow

1.3.2.1. Bệnh nguyên

Có nhiều giả thuyết về nguyên nhân. Trước đây, Basedow được coi là

hậu quả của tổn thương trục điều hòa tuyến giáp – tuyến yên – dưới đồi. Ngày

nay, nhờ những tiến bộ miễn dịch học người ta đã hiểu khá chi tiết về nguyên

nhân sinh bệnh của Basedow.

Ở người có cơ địa di truyền những rối loạn tự miễn dịch xảy ra do tác

động của các yếu tố môi trường như: nhiễm trùng, stress … Các rối loạn miễn

dịch này gây ra tổn thương tế bào tuyến giáp.

Một số các yếu tố nguy cơ:

- Thai nghén đặc biệt giai đoạn chu sinh.

- Dùng nhiều chế phẩm thuốc hoặc thực phẩm chứa nhiều iod.

- Muối Lithium có thể thay đổi đáp ứng miễn dịch.

- Nhiễm vi khuẩn virus.

- Ngừng corticoid đột ngột.

- Stress tâm lý ở các giai đoạn đặc biệt của cuộc sống: dậy thì, mãn kinh

- Có HLA – B8 DRW3, HLA – BW36, HLA – BW46, B5 [30], [31].

1.3.2.2. Cơ chế bệnh sinh

Bệnh Basedow là bệnh có cơ chế tự miễn, biểu hiện bằng rối loạn miễn

dịch tế bào và miễn dịch dịch thể.

Rối loạn miễn dịch tế bào đặc trưng bởi giảm số lượng và chức năng tế

bào lympho T ức chế (Ts - T suppresser), tăng tế bào lympho T hỗ trợ (Th – T

helper). Các kháng nguyên lớp I của hệ HLA - DR trên bề mặt tế bào tuyến

giáp là điều kiện tiên quyết để khởi động các rối loạn miễn dịch. Các tế bào

Th với sự có mặt của monocyte và kháng nguyên đặc hiệu, một mặt sản xuất

ra y interferon(IFNy), mặt khác kích thích tế bào lympho B đặc hiệu sản xuất

ra kháng thể kích thích tuyến giáp mà quan trọng nhất là kháng thể kháng thụ

thể TSH (TRAb). Đây là kháng thể kích thích tế bào tuyến giáp tăng tổng



19



hợp và giải phóng hormone giáp T3, T4 vào máu gây cường chức năng ở

người bệnh Basedow [28].

1.3.3. Dịch tễ học

1.3.3.1. Tỷ lệ mắc bệnh

Basedow là bệnh lý khá phổ biến ở các nước trên thế giới cũng như tại

Việt Nam.

Trên thế giới: trong số những người bị cường giáp, bệnh Basedow cũng

phổ biến nhất chiếm 60 – 90% các trường hợp cường giáp [29].

Tại Việt Nam: BN cường giáp chiếm khoảng 5,8 số BN được điều trị

nội trú tại khoa Nội tiết – BV Bạch Mai [32].

1.3.3.2. Tỷ lệ phân bố nam – nữ và tuổi

Bệnh gặp chủ yếu gặp ở nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ nữ/nam: 7 - 8/1

Lứa tuổi hay gặp từ 20 – 40 tuổi. Trường hợp điển hình: bệnh gặp ở nữ

người trẻ tuổi, tuy nhiên cũng có gặp ở bất cứ tuổi nào [29], [33].

1.3.4. Triệu chứng lâm sàng

1.3.4.1. Hội chứng cường giáp.





Triệu chứng tim mạch: hồi hộp đánh trống ngực nhịp tim nhanh thường

xuyên 90 chu kỳ / phút, tăng lên khi xúc động. Nghe tim có thể thấy tiếng thổi















tâm thu cơ năng do tăng cung lượng.

Các dấu hiệu toàn thân: gầy sút cân, dù ăn nhiều …

Triệu chứng vận mạch:

Sợ nóng, có thể có rối loạn điều nhiệt, có cảm giác ngây ngất sốt.

Ra mồ hơi nhiều, bàn tay bệnh nhân ln nóng ẩm.

BN ln có cảm giác khát, uống nhiều để bù lại lượng nước mất qua da.

Triệu chứng tiêu hóa: ăn nhiều, nhanh đói, đi ngồi phân nát kéo dài…

Triệu chứng thần kinh – cơ:

Run đầu chi biên độ nhanh nhỏ, run tăng khi xúc động.

BN hay bồn chồn lo âu, thay đổi tính tình, dễ cáu gắt xúc động, mất ngủ…

BN có thể bị teo và yếu cơ, rõ nhất ở cơ gốc chi (có dấu hiệu ghế đẩu).

Có thể gặp hạ kali máu ở BN nam giới trẻ tuổi gây liệt hai chi dưới.

Rối loạn tâm thần: kích thích, trầm cảm, rối loạn chức năng sinh dục, giảm

ham muốn…



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Xương là một mô liên kết đặc biệt bao gồm các tế bào xương và chất căn bản (bone matrix).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×