Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Thể giải phẫu bệnh lý theo WHO

b. Thể giải phẫu bệnh lý theo WHO

Tải bản đầy đủ - 0trang

60



Theo kết quả bảng 3.7, thể giải phẫu bệnh lý hay gặp nhất theo phân loại

WHO là u lympho lan tỏa tế bào B lớn (chiếm 53,3%), sau đó là thể tế bào T

ngoại biên, u lympho tế bào T/NK ngoài hạch, tuýp mũi với tỷ lệ lần lượt là

20% và 16,7%. U lympho tế bào B vùng rìa ngồi hạch của tổ chức lympho

niêm mạc và u lympho tế bào áo nang chiếm tỷ lệ thấp hơn, lần lượt là 6,7%

và 3,3%. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của Nguyễn Trần Lâm

năm 2008: Trong 50 bệnh nhân ULKH ngoài hạch vùng đầu cổ, u lympho tế

bào B lớn lan tỏa chiếm 44%, u lympho tế bào T/NK ngoài hạch tuýp mũi

chiếm 26%, u lympho tế bào B vùng rìa ngồi hạch của tổ chức lympho niêm

mạc chiến 16%, các thể giải phẫu bệnh khác chiếm tỷ lệ dưới 10%. Kết quả

của Mehdi Dehghani cho thấy u lympho tế bào B lớn lan tỏa chiếm 60%. Như

vậy, dù tỷ lệ có khác nhau, ULKH ngồi hạch hay ULKH nói chung thì u

lympho tế bào B lớn lan tỏa vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong nghiên cứu của

chúng tơi u lympho tế bào T/NK ngồi hạch tp mũi chiếm tỷ lệ thấp hơn so

với các nghiên cứu khác. Lý do là vì trung tâm Ung bướu và phẫu thuật đầu

cổ chưa triển khai phương pháp điều trị xạ trị, là phương pháp điều trị chính

cho u lympho tế bào T/NK ngoài hạch tuýp mũi.

4.2. Xác định tỷ lệ nhiễm EBV trong mô sinh thiết ULKH vùng đầu cổ

4.2.1. Tỷ lệ nhiễm EBV

Từ lâu EBV được coi là yếu tố nguy cơ của ULKH. Nhiễm EBV liên

quan đến nhiều thể của ULKH, bao gồm u lympho Burkitt’s, u lympho tế bào

T/NK, u lympho tế bào B lớn lan tỏa, bệnh lý rối loạn đời sống lympho, EBV

có mặt ở 2/3 trường hợp u lympho có liên quan đến AIDS, và người ta tin

rằng chúng có một vai trò trong cơ chế bệnh sinh. Năm 2006, bằng phương

pháp PCR, A Bahnassy phát hiện 70% mẫu sinh thiết khối u ở bệnh nhân

ULKH tại Hi Lạp dương tính với EBV [46]. Trong khi đó, ở Iran, tỷ lệ này là



61



26,5% [39]. Iona Tuling Leong đã thống kê kết quả các nghiên cứu trước đó

và thấy rằng tỷ lệ nhiễm EBV ở mô sinh thiết bệnh nhân ULKH là 0 - 83%

tùy nghiên cứu [47]. Tỷ lệ này phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch của bệnh

nhân, thể giải phẫu bệnh lý, vị trí biểu hiện và độ nhạy của phương pháp phát

hiện EBV.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, EBV - DNA được tìm thấy ở 25/30

bệnh nhân, chiếm 83,3%. Tỷ lệ nhiễm EBV cao trong mô sinh thiết của bệnh

nhân ULKH ngoài hạch vùng đầu cổ gợi ý mối liên quan giữa EBV và

ULKH. Kết quả này không khác biệt có ý nghĩa thống kê với kết quả của A

Bahnassy [46] (p >0,05), tuy nhiên lại cao hơn so với kết quả của Reza

Mahmood [39]. Sự khác nhau này có thể do sự khác biệt về vị trí địa lý.

So với một số loại ung thư khác, năm 2006, Nguyễn Đình Phúc khi

nghiên cứu trên 91 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng cho thấy có 95,6% mẫu

bệnh phẩm sinh thiết u dương tính với EBV. Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với tỷ phát hiện EBV trong mơ sinh thiết của bệnh nhân ung thư

vòm mũi họng trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Phúc với tỷ lệ phát

hiện EBV trong bệnh phẩm ULKH trong nghiên cứu của chúng tôi (p =

0.009) [48]. Tuy nhiên, năm 2013, Phan Thị Minh Phương khi nghiên cứu

trên 32 bệnh nhân ung thư đầu cổ khác không phải ung thư vòm mũi họng

(ung thư amidan, ung thư hạ họng, thanh quản…), chỉ có 6/32 bệnh nhân có

mẫu bệnh phẩm dương tính với EBV, chiếm tỷ lệ 18,75% [49]. Tỷ lệ này khác

biệt có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ mẫu bệnh phẩm EBV dương tính trong

mẫu sinh thiết khối u bệnh nhân ULKH vùng đầu cổ của chúng tơi (p <

0.005). Như vậy, EBV có thể có mối liên quan đến ULKH nhiều hơn so với

các ung thư đầu cổ khác không phải là ung thư biểu mơ vòm mũi họng.



62



A. Bahnassy cũng phát hiện EBV - DNA ở 40% mơ sinh thiết vòm và

amidan khẩu cái người khỏe mạnh ở Hi Lạp [46]. Như vậy, tỷ lệ nhiễm EBV

trong mơ sinh thiết ULKH ngồi hạch vùng đầu cổ cao hơn ở người khỏe

mạnh (p <0,05).

4.2.2. Tỷ lệ nhiễm EBV theo nguồn gốc tế bào

Trong 19 bệnh nhân u lympho tế bào B, 15 bệnh nhân có mẫu sinh thiết

dương tính với EBV, chiếm tỷ lệ 78,9%. Năm 2007, khi nghiên cứu trên 26

bệnh nhân u lympho tế bào B, Zabel cũng cho kết quả tương tự (77%) [50].

Tuy nhiên tỷ lệ này trong nghiên cứu của Reza Zare Mahmood Abadi là 29%,

thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi (p < 0.05) [39].

Đối với bệnh nhân u lympho tế bào T, T/NK có 90,9% mẫu

bệnh phẩm dương tính với EBV. Kết quả này tương đồng với

kết quả của Kanavaros năm 1993 [31] tuy nhiên lại cao hơn so

với kết quả của S C Peh năm 2002 là 70,9% (p < 0,05) [30].

Tỷ lệ EBV dương tính của u lympho tế bào B và u lympho tế bào T,

T/NK trong nghiên cứu của chúng tôi lần lượt là 78,9% và 90,9%. Bằng kiểm

định Fisher exact test, khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai tỷ

lệ này (p = 0,381). Năm 2001, Leong đưa ra nhận định rằng EBV có mối liên

quan chặt chẽ với u lympho tế bào T hơn là tế bào B [47], ngược lại nghiên

cứu của Reza Zare Mahmood Abadi lại chỉ ra rằng tỷ lệ EBV trong u lympho

tế bào B cao hơn so với u lympho tế bào T [39].

Lý do có sự khác biệt trong các nghiên cứu này có thể là do tỷ lệ EBV

dương tính trong mơ sinh thiết phụ thuộc vào thể mơ bệnh học nhiều hơn là

nguồn gốc tế bào.

4.2.3. Kết quả định tính EBV theo một số thể mơ bệnh học WHO



63



* U lympho tế bào B lớn lan tỏa

Nhiều công trình nghiên cứu về EBV đã nhận định rằng EBV là loại

virus ái tế bào biểu mô và lympho bào B. EBV lây truyền chủ yếu qua nước

bọt, sau đó xâm nhập vào các tế bào lympho B, tế bào biểu mơ vòm họng, liên

bào tuyến nước bọt trực tiếp qua thụ thể CD21 và gián tiếp qua IgA nhờ các

phân tử gp350/250 của EBV.

Năm 2008, u lympho tế bào B lớn lan tỏa EBV dương tính ở người già

được phân loại là một dưới tuýp trong ULKH, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ở

những bệnh nhân này, tiên lượng và đáp ứng điều trị hóa chất kém hơn so với

nhóm EBV âm tính.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 75% mẫu bệnh phẩm u lympho tế

bào B lớn lan tỏa dương tính với EBV. Reza Zare Mahmood Abadi báo

cáo tỷ lệ này là 50% (Iran) [39]. Iona Tuling Leong khi nghiên

cứu trên 24 bệnh nhân u lympho tế bào B lớn lan tỏa ở

khoang miệng tại Trung Quốc cho kết quả 4/24 mẫu bệnh

phẩm dương tính với EBV (17%) [47]. Kết quả chúng tôi tương

đồng với kết quả của Reza Zare nhưng cao hơn so với kết quả

của Iona Tuling Leong. Lý do có thể vì vấn đề số lượng bệnh

nhân, cũng như vị trí lấy bệnh phẩm. Chúng tơi lấy bệnh

phẩm ở tất cả các vị trí ULKH ngoài hạch vùng đầu cổ, trong

khi Iona Tuling Leong chỉ lấy bệnh phẩm ULKH ở khoang

miệng. Marinho Marques năm 2012 khi nghiên cứu 26 bệnh nhân u lympho

tế bào B lớn lan tỏa tại amidan khẩu cái ở bệnh nhân Brazil lại cho thấy

khơng có mối liên quan nào giữa EBV với u lympho tế bào B lớn lan tỏa [51].

Có lẽ mối liên quan giữa EBV với u lympho tế bào B lớn lan tỏa còn phụ

thuộc vào yếu tố địa lý.



64



Theo IARC năm 2012, tỷ lệ nhiễm EBV ở bệnh nhân u lympho tế bào B

lớn lan tỏa ở tất cả các vị trí, tại hạch và ngồi hạch là 8 - 10%. Như vậy, so

với các vị trí khác, u lympho tế bào B lớn lan tỏa ngồi hạch vùng đầu cổ có

tỷ lệ nhiễm EBV cao hơn. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0.005).

* U lympho tế bào T ngoại biên

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 5/6 bệnh nhân u lympho tế bào T

ngoại biên có mẫu bệnh phẩm dương tính với EBV. Trong nghiên cứu của

Tan, 57% mẫu bệnh phẩm khối u lympho tế bào T ngoại biên dương tính với

EBV [52]. Có sự khác biệt này là do số lượng bệnh nhân u trong nghiên cứu

của chúng tơi còn q ít.

* U lympho tế bào T/NK ngoài hạch tuýp mũi

Người ta thấy rằng EBV có mặt ở hầu hết các bệnh nhân u lympho tế bào

T/NK ngoài hạch tuýp mũi, không phân biệt chủng tộc [53]. Năm 2002, S C Peh

báo cáo 18/19 bệnh nhân u lympho tế bào T/NK ngồi hạch tp mũi có mẫu

bệnh phẩm dương tính với EBV, chiếm tỷ lệ 95% [30]. NCCN khuyến cáo đo tải

lượng virus EBV - DNA là yếu tố quan trọng trong theo dõi quá trình tiến triển u

lympho tế bào T/NK ngoài hạch tuýp mũi. Sự tăng tải lượng virus theo tháng

chứng tỏ bệnh đang tiến triển, dai dẳng hoặc tái phát [22].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 5/5 bệnh nhân u lympho tế bào

T/NK ngoài hạch tuýp mũi có mẫu bệnh phẩm dương tính với EBV. Kết quả

này phù hợp với kết quả của tác giả S C Peh.

Từ lâu EBV được xem là nguyên nhân gây ra u lympho tế bào T/NK

ngoài hạch tuýp mũi. Người ta thấy rằng tỷ lệ u lympho tế bào T/NK ngoài

hạch tuýp mũi cao hơn ở các nước Đông Á và Nam Mỹ so với các nước châu

Âu. EBV được cho là nguyên nhân gây ra sự khác biệt này [54].



65



66



KẾT LUẬN

1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

 Đặc điểm lâm sàng

- Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 49,57 ± 12,89. Bệnh nhân nhỏ

tuổi nhất là 14, lớn nhất là 68. Nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 50 - 60 tuổi

(43,33%).

- Số bệnh nhân nam chiếm 73,3%, bệnh nhân nữ chiếm 26,7%, tỷ lệ

nam : nữ là 2,75:1.

- ULKH ngồi hạch vùng đầu cổ có thể gặp ở bất cứ vị trí nào ở vùng

đầu cổ. Tuy nhiên, vị trí hay gặp nhất là vòng Waldeyer (56,7%), mũi

xoang là vị trí hay gặp thứ 2 với tỷ lệ 36,7%. Ngồi ra chúng tơi còn

gặp các vị trí: hạ họng (1 bệnh nhân), thanh quản (1 bệnh nhân).

- Triệu chứng lâm sàng của ULKH ngoài hạch vùng đầu cổ đa dạng tùy

thuộc vào vị trí xuất phát u.

- Bệnh ít có triệu chứng tồn thân.

- Đa số bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm.

 Cận lâm sàng

-



Về đặc điểm mơ bệnh học: theo phân loại WF, có 10% bệnh nhân

thuộc nhóm có độ ác tính thấp, 90% bệnh nhân thuộc nhóm có độ ác

tính trung bình. Khơng có bệnh nhân nào thuộc nhóm có độ ác tính cao.



- Về đặc điểm HMMD: theo phân loại WHO 2016, thể bệnh hay gặp

nhất là u lympho lan tỏa tế bào B lớn, 53,3 %. Tiếp theo là thể u

lympho tế bào T ngoại biên 20%, u lympho tế bào NK/T ngoài hạch,

tuýp mũi (16,7%), u lympho tế bào B vùng rìa ngồi hạch của tổ chức

lympho niêm mạc, u lympho tế bào áo nang (3,3%).

- Đánh giá yếu tố nguy cơ theo thang điểm tiên lượng quốc tế IPI, 100%

bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều có yêu tố nguy cơ thấp.



67



2. Tỷ lệ nhiễm EBV trong mô sinh thiết ULKH vùng đầu cổ

- Tỷ lệ EBV dương tính trong mơ sinh thiết ULKH ngồi hạch vùng đầu

cổ là 83,3%.

- Tỷ lệ EBV dương tính đối với u lympho tế bào B và u lympho tế bào T

lần lượt là 78,9% và 90,9%.

- Trong 16 mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân u lympho tế bào B lớn lan tỏa,

có 12 mẫu (75%) dương tính với EBV. Trong 6 bệnh nhân u lympho tế

bào T ngoại biên, có 5 bệnh nhân có mẫu bệnh phẩm dương tính với

EBV. Tất cả các bệnh nhân thể T/NK, tuýp mũi (5 bệnh nhân), tế bào B

vùng rìa (2 bệnh nhân), tế bào áo nang (1 bệnh nhân) đều dương tính

với EBV.



68



KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu trên 30 bệnh nhân được chẩn đốn ULKH ngồi hạch

vùng đầu cổ điều trị tại trung tâm Ung Bướu và phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện

Tai Mũi Họng Trung Ương, chúng tơi có kiến nghị sau:

Với những số liệu đã thu thập được, chúng tôi kiến nghị thực hiện tiếp

đề tài với số lượng mẫu lớn hơn, đặc biệt với từng thể mơ bệnh học ULKH,

từ đó đưa ra nhận định về mối liên quan giữa EBV với từng thể mô bệnh

học ULKH.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Huh J. (2012). Epidemiologic overview of malignant lymphoma. The

Korean Journal of Hematology, 47(2), 92-104.



2.



Ferlay J., Soerjomataram I., Dikshit R. et al (2015). Cancer incidence

and mortality worldwide: sources, methods and major patterns in

GLOBOCAN 2012. International journal of cancer,136(5), 59-86.



3.



Vega F., Lin P., Medeiros L.J. (2005). Extranodal lymphomas of the head

and neck. Annals of diagnostic pathology, 9(6), 40-50.



4.



Zhang Y., Dai Y., Zheng T. et al (2011). Risk Factors of Non-Hodgkin

Lymphoma. Expert opinion on medical diagnostics, 5(6), 39-50.



5.



Castillo J. J., Beltran B. E., Miranda R.N. et al (2016). EBV-positive

diffuse large B-cell lymphoma of the elderly: 2016 update on diagnosis,

risk-stratification, and management. Am J Hematol, 91 (5), 529-537.



6.



Swerdlow S.H., Campo E., Pileri S.A. et al (2016). The 2016 revision of

the World Health Organization classification of lymphoid neoplasms.

Blood, 127(20), 75-90.



7.



Lê Đình Roanh (2004). Nghiên cứu phát triển kỹ thuật hóa mơ miễn

dịch trong chẩn đốn một số bệnh ung thư, Đề tài cấp bộ, Trường Đại

học Y Hà Nội.



8.



Trần Thị Mai (2006), Nghiên cứu chẩn đoán U lympho khơng Hodgkin

ngun phát ngồi hạch vùng đầu cổ, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Nội

trú, Trường Đại học Y Hà Nội.



9.



Nguyễn Trần Lâm (2008), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học

và đánh giá kết quả điều trị U lympho ác tính khơng Hodgkin ngun

phát ngồi hạch vùng đầu cổ, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, trường

Đại học Y Hà Nội.



10. Lê Minh Kỳ (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mơ bệnh học của

ULAKH ngồi hạch vùng đầu cổ, Tạp chí Y học Việt Nam. 2(2), 12-26.

11.



Nguyễn Xuân Quang (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số

đặc điểm cận lâm sàng của ULAKH vùng mũi xoang, Luận văn tốt

nghiệp bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội.X12.



Văn



Đình



Hoa, Nguyễn Ngọc Lanh (2007), Sinh lý bệnh và miễn dịch học - phần

Miễn dịch, Nhà xuất bản Y học.

13.



Trần Phương Hạnh, Nguyễn Sào Trung (2010). "Bệnh hạch

lympho", Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt

Nam, Hà Nội, 384 - 404.



14. Knowles D. (1985). Lymphoid cell markers: Their distribution and

usefulness in the immunophenotypic analysis of lymphoid neoplasms.

Am J Surg Pathol, 9 (1), 85-108.

15. Raymond L. C., Andrew B. T., Seungwon K. (2014), "Lymphomas of the

Head and Neck", Bailey's Head and Neck Surgery Otolaryngology,

Lippincott Williams and Wilkins, 2032-2043.

16. Grulich A.E., Vajdic C.M., Cozen W. (2007). Altered immunity as a risk

factor for non-Hodgkin lymphoma.



Cancer Epidemiology and



Prevention Biomarkers,16(3), 5-8.

17. Hatta C., Ogasawara H., Okita J. et al (2001). Non-Hodgkin's malignant

lymphoma of the sinonasal tract—treatment outcome for 53 patients

according to REAL classification. Auris Nasus Larynx, 28(1), 55-60.

18. Skarin A.T., Dorfman D.M. (1997). Non-Hodgkin's lymphomas: current

classification and management. CA: a cancer journal for clinicians,

47(6), 51-72.

19. Bộ Y tế (2015). "U lympho khơng Hodgkin", Hướng dẫn chẩn đốn và

điều trị một số bệnh lý huyết học, Nhà xuất bản Y học, 62-69.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Thể giải phẫu bệnh lý theo WHO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×