Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Triệu chứng toàn thân

a. Triệu chứng toàn thân

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



Trên thực tế, người ta đánh giá giai đoạn khu trú: giai đoạn I, II theo Ann

Arbor ; khơng có khối u lớn hơn 10 cm và khơng có triệu chứng B. Ngoài ra

là bệnh ở giai đoạn lan tràn. Tuy nhiên, theo phân loại giai đoạn mới nhất,

phân loại Lugano 2014, việc phân loại giai đoạn khu trú và lan tràn là khơng

cần thiết vì chúng khơng ảnh hưởng đến phương pháp điều trị [21].

Triệu chứng của ULKH đa dạng phụ thuộc vào vị trí biểu hiện.

b. Triệu chứng lâm sàng của ULKH tại vòng Waldeyer

 Triệu chứng cơ năng

Theo nghiên cứu của chúng tôi, đối với ULKH tại vòng Waldeyer, bệnh

nhân thường than phiền về các triệu chứng nuốt khó, nuốt đau, thay đổi giọng

nói. Trong đó nuốt vướng là triệu chứng nổi bật nhất xảy ra ở hầu hết bệnh

nhân (16/17 bệnh nhân). Ở nhiều bệnh nhân, đó là triệu chứng cơ năng duy

nhất. Ngồi ra nuốt đau cũng xảy ra ở 58,82% bệnh nhân. Có 2 bệnh nhân có

thay đổi giọng nói vì amidan q phát quá to, gây ra triệu chứng giọng nói

ngậm hột thị. Các triệu chứng này khơng đặc hiệu, có thể gặp ở hầu hết các

tổn thương khối u tại amidan khẩu cái hay amidan đáy lưỡi. Kết quả này cũng

tương đồng với kết quả của Nguyễn Trần Lâm năm 2008: 85% bệnh nhân có

triệu chứng nuốt vướng [9].

 Triệu chứng thực thể

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổn thương dạng quá phát là hay gặp

nhất (70,59%), tiếp theo mới là dạng sùi kết hợp loét và sùi đơn thuần.

Nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Mai [8], Nguyễn Trần Lâm [9] cũng cho

kết quả tương tự. Điều này giải thích tại sao triệu chứng nuốt vướng là dấu

hiệu nổi bật, có ở hầu hết các bệnh nhân. Hình thái u quá phát là một dấu hiệu

quan trọng giúp gợi ý phân biệt ULKH vùng họng với ung thư biểu mô vảy

vùng họng vì những tổn thương bệnh này lại chủ yếu dưới dạng sùi, loét,

thâm nhiễm hoặc kết hợp những dạng trên mà ít khi gặp dạng quá phát.



56



c. Triệu chứng lâm sàng của ULKH tại mũi xoang

 Triệu chứng cơ năng

Ngạt mũi và chảy mũi 1 bên là các triệu chứng thường gặp trong

ULKH tại mũi xoang. Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 90,9% bệnh nhân

xuất hiện ngạt mũi. Ngạt mũi có đặc điểm ngạt từ từ tăng dần cho đến ngạt

hoàn toàn khi khối u phát triển che kín hốc mũi. Chảy mũi là triệu chứng phổ

biến thứ 2 khi có tới 72,73% bệnh nhân có triệu chứng này với đặc điểm chảy

mũi 1 bên, hôi. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của một số tác giả trong

và ngoài nước:

Bảng 4.2. Tỷ lệ triệu chứng cơ năng theo nghiên cứu của các tác giả khác

Tác giả



Ngạt mũi (%)



Chảy mũi (%)



Trần Thị Mai [8]



81,0



47,6



Nguyễn Trần Lâm [9]



84,0



72,0



71,7



93,5



90,9



72,73



Nguyễn Xuân Quang

[7]

Hà Thị Cúc



Ngoài ra trong nghiên cứu của chúng tơi còn gặp triệu chứng chảy máu

mũi (27,27%), đây là triệu chứng gợi ý sự ác tính của khối u. Các triệu chứng

mất ngửi, đau nhức vùng mặt gặp với tỷ lệ lần lượt là 36,36 và 27,27%.

Những triệu chứng này là các triệu chứng không đặc hiệu, thường gặp trong

các bệnh lý mũi xoang khác. Đặc biệt, có 2 trường hợp trong nghiên cứu có

triệu chứng sưng nề vùng mặt sau phẫu thuật. Cả hai bệnh nhân đều được

chẩn đoán trước phẫu thuật là viêm mũi xoang mạn tính, polyp mũi 1 bên.

Sau phẫu thuật nội soi mũi xoang, cả hai đều xuất hiện các triệu chứng sưng

nề vùng mặt, sốt. Các triệu chứng diễn ra nhanh chóng. Khi đến với chúng tơi,

bệnh nhân được sinh thiết lại và nhuộm HMMD, kết quả là ULKH. Trên thế



57



giới đã báo cáo các trường hợp tương tự mà sinh thiết lần đầu bỏ qua chẩn

đoán [42]. Đứng trước một bệnh nhân viêm mũi xoang một bên xuất hiện

sưng nề vùng mặt sau phẫu thuật, cần phải nghĩ đến các bệnh lý ác tính, trong

đó có ULKH.





Triệu chứng thực thể

Qua nghiên cứu hình ảnh tổn thương qua nội soi, chúng



tơi



thấy



tổn



thương dạng khối sùi thường phối hợp với loét hoại tử chiếm

54,54%. Khối loét sùi thường có màu hồng nhạt có múi hoặc

trắng mờ, được bao phủ bởi 1 lớp giả mạc trắng hoặc tổ chức

hoại tử, u dễ chảy máu khi chạm phải hoặc khi sinh thiết

nhưng chảy máu không nhiều và có thể tự cầm. Tổn thương ở

dạng khối khu trú ở khe giữa gặp ở 2/11 bệnh nhân. Khối này

có đặc điểm gây tắc các lỗ thơng xoang, gây viêm xoang biểu

hiện bằng hình ảnh có mủ trắng đặc ở các khe xoang. Tổn

thương dạng thâm nhiễm gặp ở 1 bệnh nhân gây dày vách

ngăn với đặc điểm khơng hình thành khối chốn chỗ trong hốc

mũi mà biểu hiện bằng hình ảnh hốc mũi khơ rộng, niêm mạc

vách ngăn viêm dày, bề mặt có tổ chức hạt sần sùi, màu hồng

nhạt rớm máu.

d. Triệu chứng lâm sàng của ULKH ở các vị trí khác

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 1 bệnh nhân ULKH tại

thanh quản và 1 bệnh nhân ULKH tại vùng sau nhẫn phễu.

Nhìn chung đặc điểm cơ năng và thực thể của ULKH các vị trí

này khơng đặc hiệu, dễ nhầm với 1 số tổn thương ác tính

khác. Việc chẩn đốn cần dựa vào giải phẫu bệnh và HMMD.



58



4.1.4. Phân loại theo giai đoạn Ann - Arbor

Hầu hết các bệnh nhân của chúng tôi đều ở giai đoạn sớm: 86,7% ở giai

đoạn I, 10% ở giai đoạn II, 3,3% ở giai đoạn III và không có bệnh nhân nào ở

giai đoạn IV. So sánh với 1 số tác giả khác, Lê Minh Kỳ nghiên cứu trên 39

bệnh nhân ULKH ngoài hạch vùng đầu cổ thấy rằng có 76,9% bệnh nhân

được chẩn đốn ở giai đoạn I, 23,1% được chẩn đoán ở giai đoạn II [6]. Theo

Jacob trong tổng số 156 bệnh nhân ULKH vùng đầu cổ, có 40% bệnh nhân

được phát hiện ở giai đoạn I, 29% bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn II và

31% bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn III - IV [43]. Có sự khác nhau này là do

khác biệt về cỡ mẫu. Số lượng bệnh nhân càng lớn thì tỷ lệ gặp bệnh nhân ở

giai đoạn sau càng tăng lên.

4.1.5. Phân loại theo WF

Thể giải phẫu bệnh theo phân loại WF là một yếu tố quan trọng. WF chia

ULKH thành 3 nhóm: nhóm độ ác tính thấp, trung bình và cao. Theo đó,

nhóm độ ác tính thấp được coi là nhóm khơng gây đau, đáp ứng với điều trị,

có tỷ lệ sống thêm 5 năm là 50 - 60 %, nhóm có độ ác tính trung bình là nhóm

có khả năng chữa trị bằng đa hóa chất, có tỷ lệ sống thêm 5 năm là 30 - 45%

và nhóm có độ ác tính cao là nhóm tiến triển nhanh và có xu hướng đề kháng

với các phương pháp điều trị, tỷ lệ sống thêm 5 năm ở nhóm này là 20 - 30%.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 90% bệnh nhân có độ ác tính

trung bình. Chỉ có 10% bệnh nhân ở nhóm độ ác tính thấp và khơng có bệnh

nhân nào có độ ác tính cao. Năm 2008, Nguyễn Trần Lâm báo cáo kết quả

96% bệnh nhân có độ ác tính trung bình, 2% bệnh nhân có độ ác tính thấp và

2% bệnh nhân có độ ác tính cao. Năm 2011, Deepti Aggarwal thấy rằng có

25% bệnh nhân ở nhóm độ ác tính thấp, 65,3% bệnh nhân ở nhóm độ ác tính

trung bình và 9,6% bệnh nhân nhóm có độ ác tính cao [44]. Có thể thấy rằng,



59



dù tỷ lệ có khác nhau nhưng nhóm có độ ác tính trung bình vẫn chiếm tỷ lệ

cao nhất.



4.1.6. Phân loại theo WHO

a. Nguồn gốc tế bào

Phân loại thể mô bệnh học ULKH của WHO dựa trên nguồn gốc tế bào

theo kết quả nhuộm hóa mơ miễn dịch. Hiện nay, đây là phân loại mới nhất và

đầy đủ nhất, có ý nghĩa trong việc quyết định phương pháp điều trị cho bệnh

nhân ULKH.

Chúng tơi thấy rằng có 63,33% bệnh nhân ULKH là u lympho ác tính tế

bào B và 36,67% bệnh nhân u lympho ác tính tế bào T, T/NK.

Theo nghiên cứu của Lu và cộng sự (2005), nghiên cứu trên 256 bệnh

nhân ULKH, có 172 trường hợp (67,2%) bệnh nhân u lympho ác tính tế bào B

và 78 trường hợp (30,5%) bệnh nhân u lympho tế bào T, T/NK. Theo nghiên

cứu của Nguyễn Trần Lâm năm 2008, tỷ lệ này lần lượt là 66% và 33% [4].

Nghiên cứu của Trần Thị Mai: trong 23 bệnh nhân ULKH ngun phát ngồi

hạch vùng đầu cổ có 73,91% là u lympho tế bào B, 26,09% u lympho tế bào

T, T/NK. Mehdi Dehghani (2015) khi nghiên cứu trên 110 bệnh nhân ULKH

thấy rằng có 88,9% u lympho tế bào B và 11,1% u lympho tế bào T, T/NK

[45]. Bằng kiểm định khi bình phương, các kết quả này tương đồng với kết

quả của chúng tôi.

b. Thể giải phẫu bệnh lý theo WHO



60



Theo kết quả bảng 3.7, thể giải phẫu bệnh lý hay gặp nhất theo phân loại

WHO là u lympho lan tỏa tế bào B lớn (chiếm 53,3%), sau đó là thể tế bào T

ngoại biên, u lympho tế bào T/NK ngoài hạch, tuýp mũi với tỷ lệ lần lượt là

20% và 16,7%. U lympho tế bào B vùng rìa ngồi hạch của tổ chức lympho

niêm mạc và u lympho tế bào áo nang chiếm tỷ lệ thấp hơn, lần lượt là 6,7%

và 3,3%. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của Nguyễn Trần Lâm

năm 2008: Trong 50 bệnh nhân ULKH ngoài hạch vùng đầu cổ, u lympho tế

bào B lớn lan tỏa chiếm 44%, u lympho tế bào T/NK ngoài hạch tuýp mũi

chiếm 26%, u lympho tế bào B vùng rìa ngồi hạch của tổ chức lympho niêm

mạc chiến 16%, các thể giải phẫu bệnh khác chiếm tỷ lệ dưới 10%. Kết quả

của Mehdi Dehghani cho thấy u lympho tế bào B lớn lan tỏa chiếm 60%. Như

vậy, dù tỷ lệ có khác nhau, ULKH ngồi hạch hay ULKH nói chung thì u

lympho tế bào B lớn lan tỏa vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong nghiên cứu của

chúng tơi u lympho tế bào T/NK ngồi hạch tp mũi chiếm tỷ lệ thấp hơn so

với các nghiên cứu khác. Lý do là vì trung tâm Ung bướu và phẫu thuật đầu

cổ chưa triển khai phương pháp điều trị xạ trị, là phương pháp điều trị chính

cho u lympho tế bào T/NK ngoài hạch tuýp mũi.

4.2. Xác định tỷ lệ nhiễm EBV trong mô sinh thiết ULKH vùng đầu cổ

4.2.1. Tỷ lệ nhiễm EBV

Từ lâu EBV được coi là yếu tố nguy cơ của ULKH. Nhiễm EBV liên

quan đến nhiều thể của ULKH, bao gồm u lympho Burkitt’s, u lympho tế bào

T/NK, u lympho tế bào B lớn lan tỏa, bệnh lý rối loạn đời sống lympho, EBV

có mặt ở 2/3 trường hợp u lympho có liên quan đến AIDS, và người ta tin

rằng chúng có một vai trò trong cơ chế bệnh sinh. Năm 2006, bằng phương

pháp PCR, A Bahnassy phát hiện 70% mẫu sinh thiết khối u ở bệnh nhân

ULKH tại Hi Lạp dương tính với EBV [46]. Trong khi đó, ở Iran, tỷ lệ này là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Triệu chứng toàn thân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×