Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chỉ định xạ trị phối hợp sau mổ theo chúng tôi là một chỉ định khó khăn, chưa có tiêu chí rõ ràng, nhất là khi hạch cổ đều âm tính và mô bệnh học vùng rìa cũng âm tính. Những trường hợp này chủ yếu chúng tôi dựa vào mức độ tổn thương tại chỗ, khi khối u l

Chỉ định xạ trị phối hợp sau mổ theo chúng tôi là một chỉ định khó khăn, chưa có tiêu chí rõ ràng, nhất là khi hạch cổ đều âm tính và mô bệnh học vùng rìa cũng âm tính. Những trường hợp này chủ yếu chúng tôi dựa vào mức độ tổn thương tại chỗ, khi khối u l

Tải bản đầy đủ - 0trang

67



năm chiếm 96,8%; sống trên 5 năm chiếm 90,3%. Bệnh nhân ở giai đoạn T3

sống trên 3 năm chiếm 100% và sống trên 5 năm chiếm 66,7%. Tỷ lệ này

trong nghiên cứu của Yu P và các cộng sự khi nghiên cứu 127 bệnh nhân phẫu

thuật Tucker thì tỷ lệ sống thêm toàn bộ 5 năm lần lượt ở các giai đoạn là

91%, 86% và 64%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [64]. Tuy nhiên ở nghiên

cứu của chúng tơi thì sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê do số liệu

nghiên cứu của chúng tôi còn ít và thời gian theo dõi chưa đủ dài như của tác

giả trên. Trong nghiên cứu của Tống Xuân Thắng thì cũng khơng có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian sống thêm giữa các giai đoạn.

Nhìn chung các kết quả nghiên cứu khác nhau nhưng đều cho thấy

UTTQ ở giai đoạn đầu khi điều trị phẫu thuật có kết quả tốt hơn,do nguy cơ

tái phát và di căn ít hơn .

4.2.8.3. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ theo tỷ lệ nạo hạch.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 12 trường hợp khơng nạo hạch và có

30 trường hợp được nạo hạch và tỉ lệ sống thêm tồn bộ 5 năm của hai nhóm

này lần lượt là 100% và 81,1%, sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê

với p = 0,234> 0,05.

Theo nhiều các nghiên cứu khác nhau tỷ lệ hạch cổ dương tính sau mổ

từ 5-20%, Laccourreye trong nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ thất bại do di căn hạch

khi không nạo vét hạch cổ trong ung thư thanh quản lên tới 20%, ngay cả với

nhóm bệnh nhân N0, trong khi đó với nhóm nạo vét hạch thì tỷ lệ thất bại

giảm xuống còn 1% [53]. Tuy vậy thì việc thời gian sống thêm tồn bộ nó

liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ di căn hạch, khi có di căn hạch thì đây là một yếu

tố tiên lượng xấu, nó làm tỷ lệ sống 5 năm giảm đi một nửa. Thế nhưng việc

nạo vét hạch là một phẫu thuật nên bản thân nó cũng kèm theo những nguy

hiểm, những biến chứng nhất định, trong khi đó tỷ lệ dự phòng của nạo vét

mới chỉ đạt độ 20%. Nên đối với giai đoạn sớm thì việc nạo vét hạch cũng cần



68



cân nhắc, đặc biệt với hỗ trợ của MRI và PET- CT thì ta có thể giảm thiểu tỷ

lệ nạo vét hạch cổ một cách vơ ích mà khơng ảnh hưởng đến tỷ lệ tái phát.

4.2.8.4. Sống thêm toàn bộ theo phương pháp điều trị phối hợp sau mổ

Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm và 5 năm của nhóm có tia xạ sau phẫu

thuật là 92,9% và 64,3% thấp hơn rõ rệt so với nhóm chỉ phẫu thuật là 100%

sau 5 năm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,008.

Điều này có thể dễ dàng giải thích được bởi những bệnh nhân có tia xạ

bổ trợ sau mổ là những bệnh nhân có kích thước khối u lớn, khối u thâm

nhiễm sâu, khối u lan xuống hạ thanh môn...nên nhóm bệnh nhân này có tỷ lệ

sống thêm tồn bộ 5 năm thấp hơn nhóm khơng tia xạ.

4.2.9. Tỷ lệ tái phát tại chô

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân trên 5 năm có tái phát 3

bệnh nhân chiếm (7,1%); tỷ lệ kiểm soát tại chỗ đạt 92,9%.

Tương tự với chúng tôi, tác giả Tao L và các CS nghiên cứu 298 bệnh

nhân từ 1/ 2005 đến 12/ 2013 thì thấy tỉ lệ kiểm sốt tại chỗ là 90%, tác giả

nhân định phẫu thuật cắt thanh quản bán phần bảo tồn các chức năng nuốt, hô

hấp và phát âm có tỷ lệ sống còn tồn bộ và kiểm soát tại chỗ là rất tốt, phẫu

thuật này được coi là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho các khối ung thư

thanh quản từ T1b đến T3 [65].

Mantsopoulos trong nghiên cứu phẫu thuật trên 163 bệnh nhân ung thư

thanh quản giai đoạn T2, tỷ lệ kiểm soát tại chỗ đạt 87% [63].

Motta 2005, qua phẫu thuật 236 bệnh nhân ung thư thanh quản giai đoạn

T2, tỷ lệ kiểm soát tại chỗ là 66% [66].

Peretti năm 2010, qua phẫu thuật 109 bệnh nhân giai đoạn T2, tỷ lệ kiểm

soát tại chỗ là 86 % [67].

Grant (2007) qua 21 bệnh nhân, tỷ lệ kiểm soát tại chỗ là 93%.

4.2.10. Tỷ lệ tái phát theo vị trí.



69



Trong số 3 trường hợp tái phát mà chúng tơi ghi nhận được thì chúng tơi

thấy 2 trường hợp tái phát tại chỗ, tại vùng còn 1 trường hợp di căn xa cụ thể

là di căn não chiếm 33,3%. Tác giả Phạm Minh Tuấn cũng gặp 2 trường hợp

tái phất và cũng thấy 1 trường hợp di căn xa. Có thể nói rằng tỷ lệ di căn xa

của ung thư thanh quản giai đoạn sớm là khá thấp mà chủ yếu gặp tái phát tại

chỗ tại vùng [46].

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 42 bệnh nhân ung thư thanh quản được điều trị phẫu

thuật cắt bán phần thanh quản kiểu Tucker, theo dõi diễn biến tại trung tâm

ung bướu và phẫu thuật đầu cổ- Bệnh viện TMH trung ương từ tháng 1/2012

đến tháng 7/2017, chúng tôi rút ra kết luận:

1. Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của UTTQ

- Tuổi: gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 40 – 60, tuổi mắc bệnh trung bình là 55,6.

- Bệnh hay gặp ở nam giới với 97,6%.

- Yếu tố nguy cơ: hút thuốc 90,5%, uống rượu 61,9%; vừa hút thuốc vừa

uống rượu chiếm 57,14%.

- 100% bệnh nhân đến viện vì dấu hiệu khàn tiếng

- Thời gian diễn biến bệnh: trung bình 5,43 tháng, sớm nhất là 1 tháng và

muộn nhất là 14 tháng, khoảng thời gian 3-6 tháng chiếm nhiều nhất 50%.

- Vị trí tổn thương: Soi bằng optic 70 0 đánh giá đại thể tổn thương, di

động dây thanh và sụn phễu, đánh giá tương đối vị trí tổn thương. Soi thanh

quản trực tiếp (Panendoscopy) đánh giá chính xác vị trí tổn thương, mép

trước, chân sụn thanh thiệt, buồng Morgani và hạ thanh mơn.

- Hình thái tổn thương: đa số là dạng sùi (90,5%)

- Di động dây thanh: 16/42 BN có hạn chế (57,1%), 16/42 BN bình

thường (38,1%) và 2/42 BN có cố định (4,8%)



70



- Mức độ lan trên CLVT: đa phần khối u thuộc phạm vi một tầng

(57,1%).

- Có 7,1% trường hợp có hạch trên CLVT, và trên lâm sàng 100% khám

khơng có hạch

- MBH khối u: 100% ung thư biểu mơ vảy

- MBH lát cắt rìa: 1/42 trường hợp dương tính thuộc T2

- MBH hạch: 1/42 trường hợp dương tính thuộc T2.

2. Kết quả điều trị

- Chỉ định PT: chủ yếu là giai đoạn T2 với 73,8%; còn lại là 16,7% giai

đoạn T1b và 9,5% giai đoạn T3.

- 11/42 trường hợp cắt sụn phễu (26,2%), 31/42 trường hợp không cắt

sụn phễu (73,8%).

- Chỉ gặp duy nhất 1 biến chứng chảy máu sau phẫu thuật (2,4%).

- Chức năng: Đa số phát âm như cũ với 69% và 31% khàn tiếng hơn. Có

2 TH khó thở sau phẫu thuật chiếm 4,8%.

- Thời gian nằm viện trung bình là 24 ngày với phạm vi từ 15- 57 ngày

- Di chứng sau PT: 2/42 BN vạt niêm mạc (4,8%) và 1/42 BN không rút

được canule (2,4%).

- Sau PT đa phần được xạ trị bổ trợ với 66,7% số trường hợp (28/42).

- Thời gian sống thêm tồn bộ trung bình là 70,1±2,4 tháng với tỷ lệ

sống thêm toàn bộ 3 năm là 97,6%; 5 năm là 85,7%.

+ Giai đoạn T1b: 68,2±6,3; tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm là 80%; 5

năm là 80%.

+ Giai đoạn T2: 69,8±2,5; tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm là 96,8%; 5

năm là 90,3%

+ Giai đoạn T3: 56,2±4,4; tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm là 100%; 5 năm

là 66,7%.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ định xạ trị phối hợp sau mổ theo chúng tôi là một chỉ định khó khăn, chưa có tiêu chí rõ ràng, nhất là khi hạch cổ đều âm tính và mô bệnh học vùng rìa cũng âm tính. Những trường hợp này chủ yếu chúng tôi dựa vào mức độ tổn thương tại chỗ, khi khối u l

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×