Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Việc xuất hiện biến chứng sau phẫu thuật không chỉ phụ thuộc vào tính chất- giai đoạn bệnh, kinh nghiệm của phẫu thuật viên, mà còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp và phương tiện phẫu thuật. Phạm Văn Hữu tiến hành phẫu thuật UTTQ giai đoạn T1 thì không có

Việc xuất hiện biến chứng sau phẫu thuật không chỉ phụ thuộc vào tính chất- giai đoạn bệnh, kinh nghiệm của phẫu thuật viên, mà còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp và phương tiện phẫu thuật. Phạm Văn Hữu tiến hành phẫu thuật UTTQ giai đoạn T1 thì không có

Tải bản đầy đủ - 0trang

63



nghiên cứu của các tác giả nước ngồi cũng khơng khác biệt nhiều như của

Bron sau cắt thanh quản bán phần trên nhẫn tỷ lệ nuốt bình thường chiếm

92,7%; Naudo tỷ lệ nuốt bình thường là 91% [57], [58].

Chức năng phát âm: chúng tôi đánh giá một cách khách quan thì thấy

rằng đa số các bệnh nhân có được giọng nói thỏa đáng, phát âm có thể hiểu

được lời qua phỏng vấn trực tiếp và đàm thoại điện thoại. Trong cuộc sống,

họ có thể hồ nhập tốt. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh

nhân sau phẫu thuật khả năng phát âm được như cũ với 34 trường hợp chiếm

81%. Có 8 trường hợp khàn tiếng hơn chiếm 19%.

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu trên 139 bệnh nhân UTTQ

được Yu và cộng sự nghiên cứu: có 121 bệnh nhân (87%) có giọng nói thỏa

đáng, 18 bệnh nhân (13%) có giọng nói trung bình. Với nghiên cứu của Quản

Thành Nam, trên 30 bệnh nhân có 24 bệnh nhân (80%) có giọng nói hiểu

được lời và 6 bệnh nhân (20%) có giọng nói trung bình. Tuy nhiên, chất lượng

giọng nói phụ thuộc vào việc lấy bệnh tích rộng rãi hay khơng, giữ được mấy

sụn phễu, có tia xạ phối hợp hay không và việc luyện tập phục hồi của bệnh

nhân sau phẫu thuật như thế nào nữa [37].

Chức năng thở: Đa số bệnh nhân sau phẫu thuật đều thở tốt qua đường

tự nhiên, bệnh nhân không thiếu thở khi phải đi bộ và khi làm các cơng việc

thơng thường. Chỉ gặp 2 trường hợp khó thở chiếm 2,4%. Trong đó, một

trường hợp xảy ra trên bệnh nhân phải điều trị tia xạ phối hợp sau phẫu thuật.

Có khả năng tia xạ làm tăng nguy cơ phù nề, gây sẹo hẹp vùng thanh quản sau

mổ. Một trường hợp khác sau khi ra viện có triệu chứng phải nhập lại viện mở

lại khí quản. Với phương pháp phẫu thuật bảo tồn nhất là phẫu thuật theo

đường ngoài vùng phẫu thuật dễ bị phù nề, chít hẹp nên dễ dẫn đến tình trạng

khó thở. Tỷ lệ này cao hơn nghiên cứu của Quản Thành Nam về phẫu thuật



64



Tucker và của Lê Minh Kỳ về phẫu thuật cắt dây thanh bằng laser (khơng có

bệnh nhân nào gặp khó thở ngay sau phẫu thuật) và ít hơn với nghiên cứu của

Szyfter có 17/145 bệnh nhân còn đeo ống thở sau phẫu thuật [37],[59],[51].

Thời gian nằm viện: Thời gian nằm viện trung bình là 24,21 ngày trong

phạm vi từ 15 đến 57 ngày. Thời gian này tương đồng với các tác giả :

Guerrier (23 ngày), Piquet (25 ngày) [52], [10].

Thời gian này dài hơn khá nhiều so với các nghiên cứu khác trên thế giới

như của Lawson thì nhóm bệnh nhân UTTQ được phẫu thuật Tucker có thời

gian nằm điều trị trung bình là 16 ngày [60].

Điều này được giải thích do ở Việt Nam vấn đề theo dõi bệnh nhân sau

mổ còn hạn chế, do đó để tránh những biến chứng và di chứng ở 1 số trường hợp

cho bệnh nhân ngoại trú, sau khi ổn định về mặt chức năng (nuốt và thở tốt) mới

cho ra viện, cho nên thời gian này vẫn được tính vào thời gian nằm viện.

4.2.6. Các di chứng sau phẫu thuật

Trong nhóm nghiên cứu này có một số ca bị di chứng: 2 trường hợp có

vạt niêm mạc chiếm 4,8%; 1 trường hợp khơng rút được canula chiếm 2,4%.

Bệnh nhân khơng rút được canula có liên quan với vấn đề xạ trị sau phẫu

thuật. Thật vậy, sau xạ trị thanh quản thường bị hẹp do phần còn lại của

thanh quản nhất là niêm mạc vùng sụn phễu bị phù nề che vào tầng thanh

môn. Do niêm mạc của xoang lê bị kéo đổ về phía thanh môn do vùng sụn

phễu bị lấy bỏ, nếu ko cắt sớm phần niêm mạc này thì sẹo hẹp sẽ xuất hiện.

Do sự khơng thích nghi của niêm mạc đường ăn lạc vào vị trí tầng thanh

mơn. Các di chứng vạt niêm mạc đã được phẫu thuật cắt vạt niêm mạc bằng

vi phẫu thanh quản Laser CO2.

Tác giả Tống Xuân Thắng nghiên cứu trên 39 bệnh nhân cắt thanh quản

bán phần trên nhẫn kiểu CHEP có 15,6% di chứng sau phẫu thuật (trong đó

sẹo hẹp và phù nề 5,2%,vạt niêm mạc 7,8%; mở lại khí quản 2,6%). Quản

Thành Nam nghiên cứu trên 30 bệnh nhân cắt thanh quản bán phần kiểu



65



Tucker có một số ca bị di chứng: vạt niêm mạc (3 trường hợp) và không rút

được canula (1 trường hợp), khơng có trường hợp nào bị sẹo hẹp [23], [37].

Di chứng sẹo hẹp là một di chứng thường gặp trong các phẫu thuật cắt

thanh quản bán phần, đây là một di chứng rất khó khăn để xử lý, bệnh nhân

tuy khỏi bệnh nhưng vẫn phải mang canula suốt đời. Phẫu thuật cắt thanh quản

bán phần kiểu Tucker cho thấy có thể hạn chế được di chứng sẹo hẹp sau mổ

dựa trên thực tế cũng như dựa trên kỹ thuật phẫu thuật, thanh quản mới vẫn giữ

được một cấu trúc sụn xung quanh nên có thể sẽ hạn chế sẹo hẹp. Bên cạnh đó

cũng cần điều trị sớm những nguy cơ gây ra sẹo hẹp như cho bệnh nhân tập nói

sớm, cắt bỏ ngay những vạt niêm mạc.

4.2.7. Vấn đề xạ trị sau phẫu thuật

Trong 42 bệnh nhân được phẫu thuật chúng tôi cho xạ trị sau phẫu thuật 28

trường hợp, trong đó có 1 trường hợp MBH lát cắt rìa dương tính, 1 trường hợp

có MBH hạch dương tính. Những trường hợp còn lại tùy thuộc vào đánh giá

của phẫu thuật viên trong lúc mổ mà quyết định có xạ trị hay không. Các

trường hợp phải xạ trị do mơ bệnh học lát cắt rìa dương tính chủ yếu xảy

ra trong những năm trước khi mà quy trình phẫu thuật của chúng tơi chưa

được hồn thiện, bệnh nhân chưa được sinh thiết tức thì vùng rìa trong

phẫu thuật nên sau phẫu thuật có 1 số trường hợp lát cắt rìa dương tính.

Còn trong thời gian gần đây tất cả các bệnh nhân đều được làm giải phẫu

bệnh vùng rìa ngay trong phẫu thuật nên chúng tôi không gặp những

trường hợp như trên nữa.

Quản Thành Nam nghiên cứu về phẫu thuật cắt thanh quản bán phần

kiểu Tucker tỷ lệ xạ trị sau phẫu thuật là 8/30 trường hợp. Bron nghiên

cứu trên 69 trường hợp cắt thanh quản bán phần có 9 trường hợp xạ trị

phối hợp sau phẫu thuật (trong đó 2 trường hợp MBH vùng rìa dương

tính, 6 trường hợp khối u lan tràn và 1 trường hợp kết hợp cả 2 yếu tố

trên) [37], [61].



66



Chỉ định xạ trị phối hợp sau mổ theo chúng tôi là một chỉ định khó khăn,

chưa có tiêu chí rõ ràng, nhất là khi hạch cổ đều âm tính và mơ bệnh học vùng

rìa cũng âm tính. Những trường hợp này chủ yếu chúng tôi dựa vào mức độ

tổn thương tại chỗ, khi khối u lớn, khối u thâm nhiễm sâu, khối u lan xuống

hạ thanh môn… để chỉ định phối hợp xạ trị sau mổ. Vì vậy cần có những

nghiên cứu thêm về vấn đề này.

4.2.8. Khảo sát thời gian sống thêm toàn bộ

4.2.8.1. Thời gian sống thêm toàn bộ

Trong nghiên cứu của chúng tơi, thời gian sống thêm tồn bộ trung bình

là 70,1 tháng. Sau 3 năm, có 41 bệnh nhân vẫn còn sống chiếm tỷ lệ 97,6%;

có 1 bệnh nhân tử vong chiếm tỷ lệ 2,4%. Thời gian theo dõi trên 5 năm, có

38 bệnh nhân còn sống chiếm tỷ lệ 85,7%. Thời gian sống thêm toàn bộ trong

nghiên cứu của tác giả Tống Xuân Thắng là 57,07 tháng có thấp hơn do tác

giả có nhiều bệnh nhân ở giai đoạn T3 hơn. Về tỉ lệ sống thêm 3 năm và 5 năm

của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Saraniti và cộng sự khi

nghiên cứu 139 bệnh nhân là 92,4% sau 3 năm và 85,91% sau 5 năm [23], [62].

Do hồi cứu nên chúng tôi không nhận định chính xác được nguyên nhân

chết do các bệnh lý khác hay do khối u tái phát.. Tuy nhiên qua kết quả trên

có thể nói rằng ung thư thanh quản có tiên lượng rất tốt, đặc biệt khi phát hiện

giai đoạn sớm có thể kéo dài sự sống sau 5 năm lên đến xấp xỉ 90%.

Mantsopoulos trong nghiên cứu phẫu thuật trên 120 bệnh nhân ung thư

thanh quản giai đoạn T3, tỷ lệ sống thô là 78,3% [63].

Patel trên một nghiên cứu trên 73 bệnh nhân ung thư thanh quản giai

đoạn T2, tỷ lệ sống thô là 85,1 % sau 2 năm và 56,5% sau 5 năm [30].

4.2.8.2. Sống thêm theo các giai đoạn bệnh

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy bệnh nhân ở giai đoạn T1b sống

trên 3 năm và 5 năm đều chiếm 80%. Bệnh nhân ở giai đoạn T2 sống trên 3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Việc xuất hiện biến chứng sau phẫu thuật không chỉ phụ thuộc vào tính chất- giai đoạn bệnh, kinh nghiệm của phẫu thuật viên, mà còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp và phương tiện phẫu thuật. Phạm Văn Hữu tiến hành phẫu thuật UTTQ giai đoạn T1 thì không có

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×