Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các bệnh nhân UTTQ trong nghiên cứu này, sau phẫu thuật ít gặp biến chứng. Chỉ phát hiện thấy biến chứng chảy máu với 1 trường hợp (2,4%). Các trường hợp khác đều không gặp các biến chứng như khó thở, tràn khí, nhiễm trùng, viêm phổi, dò…

Các bệnh nhân UTTQ trong nghiên cứu này, sau phẫu thuật ít gặp biến chứng. Chỉ phát hiện thấy biến chứng chảy máu với 1 trường hợp (2,4%). Các trường hợp khác đều không gặp các biến chứng như khó thở, tràn khí, nhiễm trùng, viêm phổi, dò…

Tải bản đầy đủ - 0trang

44



3.2.6. Các di chứng sau phẫu thuật:

Biểu đồ 3.10.Tỷ lệ di chứng sau phẫu thuật

Nhận xét:

Có 39/42 (92,9%) bệnh nhân khơng có di chứng gì, 2/42 (4,8%) bệnh

nhân có vạt niêm mạc, 1/42 (2,4%) bệnh nhân không rút được canula.

3.2.7. Đánh giá về chức năng phát âm

Bảng 3.10: Đánh giá về chức năng phát âm

Tình trạng phát âm

Khàn hơn

Như cũ

Đỡ khàn

Tổng



n

8

34

0

42



%

19

81

0

100



Nhận xét:

Đa phần bệnh nhân sau phẫu thuật khả năng phát âm như cũ với 29

trường hợp chiếm 69%. Có 13 trường hợp khàn tiếng hơn chiếm 31%

3.2.8. Đặc điểm triệu chứng khó thở sau phẫu thuật

Bảng 3.11: Đặc điểm triệu chứng thở sau phẫu thuật

Triệu chứng khó thở



Khơng

Tổng



n

2

40

42



%

4,8

95,2

100



Nhận xét:

42 bệnh nhân sau phẫu thuật chúng tôi gặp 2 trường hợp khó thở chiếm 4,8%.

3.2.9. Tình trạng nuốt sau phẫu thuật

Bảng 3.12: Tình trạng nuốt sau phẫu thuật

Tình trạng nuốt

Bình thường

Nuốt khó

Tổng



n

37

5

42



%

88,1

11,9

100



45



Nhận xét:

Bệnh nhân sau phẫu thuật tình trạng ăn uống đa số bình thường với 37

trường hợp chiếm 88,1 %, có 5 trường hợp nuốt khó chiếm 11,9%.

3.2.10. Tia xạ sau phẫu thuật

Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ xạ trị sau phẫu thuật

Nhận xét:

Có 28 trường hợp sau phẫu thuật phải phối hợp tia xạ chiếm 66,7% và 14

trường hợp không phối hợp tia xạ sau phẫu thuật chiếm 33,3%.

3.2.11. Khảo sát thời gian sống thêm toàn bộ

Bảng 3.13: Thời gian sống thêm toàn bộ

Thời gian



Số BN



Tỉ lệ % sống



3 năm



41



97,6%



5 năm



38



85,7%



Thời gian sống tồn bộ

(tháng)

Trung bình: 70,1 ± 2,4

Min: 3,6

Max: 75,3

95% CI (65,3 – 75,0)



Biểu đồ 3.12.Thời gian sống thêm tồn bộ



46



Nhận xét:

- Trung bình thời gian sống thêm toàn bộ: 70,1 ± 2,4 tháng (95% dao động từ

65,3 đến 75,0 tháng).

- Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm 97,6%, 5 năm là 85,7%.

Bảng 3.14: Sống thêm toàn bộ theo phân độ tổn thương

Giai

đoạn

bệnh

T1b

T2

T3



Thời gian sống thêm

> 3 năm

> 5 năm

n

%

n

%

6

80%

6

80%

30

96,8%

29

90,3%

4

100%

3

66,7%



Trung

bình

(tháng)

68,2±6,3

69,8±2,5

56,2±4,4



p

0,571



Biểu đờ 3.13. Thời gian sống thêm tồn bộ theo phân độ tổn thương

Nhận xét:

- Với giai đoạn T1b, thời gian sống thêm trung bình là 68,2±6,3, tỷ lệ sống 3

năm là 80%, 5 năm là 80%.

- Với giai đoạn T2, thời gian sống thêm trung bình là 69,8±2,5, tỷ lệ sống 3

năm là 96,8%, 5 năm là 90,3%.



47



- Với giai đoạn T3, thời gian sống thêm trung bình là 56,2±4,4, tỷ lệ sống 3

năm là 100%, 5 năm là 66,7%.

- Sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê với p >0,05.

Bảng 3.15: Sống thêm toàn bộ theo tỷ lệ nạo hạch

Nạo vét hạch Số bệnh nhân Tỉ lệ sống 3 năm



Tỉ lệ sống 5 năm







30



96,7%



81,1%



Khơng



12



100%



100%



p

0,234



Biểu đờ 3.14: Thời gian sống thêm tồn bộ theo tỷ lệ nạo hạch

Nhận xét:

Tỉ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm và 5 năm của nhóm bệnh nhân có nạo vét

hạch lần lượt là 96,7%; 81,1%, còn nhóm khơng nạo vét hạch là 100%. Tuy

nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P= 0,234 > 0,05.



48



49



Bảng 3.16: Sống thêm toàn bộ theo phương pháp điều tri

phối hợp sau mô

Phương pháp



Số bệnh nhân Tỉ lệ sống 3 năm Tỉ lệ sống 5 năm



Chỉ phẫu thuật



28



100%



100%



Tia xạ



14



92,9%



64,3%



P

0,008



Biểu đồ 3.15: Sống thêm toàn bộ theo phương pháp điều trị phối hợp

Nhận xét:

Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm và 5 năm của nhóm có tia xạ sau phẫu

thuật là 92,9% và 64,3% thấp hơn rõ rệt so với nhóm chỉ phẫu thuật là 100%

sau 5 năm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,008



50



3.2.12. Tái phát, di căn

Bảng 3.17: Tỷ lệ tái phát

Tái phát



Số BN



Tỷ lệ %



Khơng



39



92,9







3



7,1



Tổng



42



100



Nhận xét:

Trong nghiên cứu của chúng tơi, số bệnh nhân trên 5 năm có tái phát 3

bệnh nhân chiếm (7,1%); tỷ lệ kiểm soát tại chỗ đạt 92,9%.

Bảng 3.18: Vị trí tái phát, di căn

Tái phát



Số BN



Tỷ lệ %



Tại chỗ



1



33,33



Hạch vùng



1



33,33



Di căn xa



1



33,33



Tổng



3



100



Nhận xét:

Trong 42 bệnh nhân được khảo sát, có 3 trường hợp có tái phát. Trong đó

tái phát tại chỗ có 1 bệnh nhân chiếm 33,33%; tái phát hạch 1 bệnh nhân

chiếm 33,33%. Và 1 trường hợp tái phát di căn xa mà không thấy tái phát tại

chỗ chiếm 33,33%.



51



Chương 4

BÀN LUẬN



4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG



4.1.1. Các đặc điểm dịch tễ học

4.1.1.1. Về tuổi

Trong số 42 bệnh nhân khảo sát, chúng tôi thấy độ tuổi mắc bệnh trung

bình là 55,6 tuổi. Kết quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu gần đây

của các tác giả trong nước như Bùi Thế Anh là 55,7 tuổi; Nguyễn Hoàng Huy

là 58,4 tuổi; Quản Thanh Nam là 54,2. Trong nghiên cứu của chúng tơi thấy

nhóm tuổi chiếm ưu thế là 51-60 với 50% số trường hợp. Tỉ lệ này cũng

tương tự với các nghiên cứu của Nguyễn Vĩnh Toàn độ tuổi này chiếm 66,6%

[5], [36], [37], [3].

Ở các tác giả nước ngoài như Adams, Marandas,và Brasnu, thì lứa tuổi

chiếm ưu thế cũng là 51-60. Điều này chúng tơi thấy cũng hồn tồn có sự

phù hợp của độ tuổi với dịch tễ các yếu tố nguy cơ, bởi vì độ tuổi này đã tích

lỹ đầy đủ thời gian phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ đặc biệt là thuốc lá và

rượu nên dễ bộc phát các tổn thương ung thư [38], [39], [40].

4.1.1.2. Về giới.

Trong UTTQ bệnh nhân nam chiếm ưu thế hơn nữ, trong nghiên cứu của

chúng tôi cũng vậy bệnh nhân nam chiếm 98% , chỉ có1 trường hợp là nữ, với

tỉ lệ nam : nữ là 41:1. Kết quả này của chúng tôi phù hợp với Phạm Văn Hữu

với nam giới chiếm 94,3%, Karatzanis và cộng sự nghiên cứu trên 438 bệnh

nhân UTTQ giai đoạn sớm tỉ lệ nam:nữ là 16:1. Tuy nhiên cũng thấy có sự

khác biệt rõ về tỉ lệ gới tính so với các tác giả Âu- Mỹ khác như Brasnu là

10:1 , Eusternan là 8:1 và Weisman là 4,5:1. Điều này cũng dễ hiểu bởi ở các

nước Âu- Mỹ có tỉ lệ phụ nữ hút thuốc và uống rượu ở các nước này cao hơn

hẳn do vậy tỉ lệ phụ nữ mắc UTTQ cao hơn so với phụ nữ á đông [41], [42],

[40], [43], [32].



52



4.1.1.3. Yếu tố nguy cơ.

Các công bố trước đây của các tác giả trong và ngồi nước đều cho thấy

rằng UTTQ có liên quan chặt chẽ đến thói quen hút thuốc lá và uống rượu,

đặc biệt là thuốc lá. Trong nghiên cứu của Rene Flurin, người hút thuốc lá

trên 10 năm có nguy cơ ung thư gấp 50 lần người không hút thuốc ở cùng độ

tuổi. Theo Beutter hút thuốc lá trên 10 năm có nguy cơ ung thư gấp 20 lần

người không hút thuốc cùng độ tuổi. Theo Weisman thì chỉ có 1% ung thư dây

thanh xảy ra ở người không hút thuốc và nguy cơ ung thư ở người vừa hút

thuốc vừa uống rượu cao gấp 25 lần so với người không hút thuốc và uống

rượu [32].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thấy hầu hết các bệnh nhân đều có hút

thuốc lá với tỉ lệ 90,5%, 61,9% số bệnh nhân có uống rượu và có đến 57,1%

số bệnh nhân vừa hút thuốc vừa uống rượu. Các kết quả này khá tương đồng

với nghiên cứu của các tác giả trong nước đã công bố trước đó. Trần Văn

Thiệp cơng bố tỉ lệ bệnh nhân UTTQ có tiền sử hút thuốc là 91% và uống

rượu là 73%, kết hợp cả hai yếu tố trên là 48%. Các tỉ lệ này trong nghiên cứu

của Phạm Văn Hữu lần lượt là 83,3%; 66,67% và 56,67% [44], [45].

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.1.2.1. Lý do vào viện.

Trong UTTQ giai đoạn muộn các triệu chứng khá phong phú và dễ chẩn

đoán với các triệu chứng về hô hấp và chèn ép. Ngược lại ở giai đoạn sớm thì

các triệu chứng thường rất nghèo nàn , chủ yếu là do dấu hiệu khàn tiếng kéo

dài, đã điều trị ở tuyến cơ sở không đỡ, triệu chứng ngày càng tăng dần khi đó

mới đến khám bệnh, lý do khàn tiếng chiếm 100%. Đây là một triệu chứng

sớm và ln có đối với bệnh nhân có khối u xuất phát từ vị trí dây thanh. Có

thể nói đây là một dấu hiệu lâm sàng có ý nghĩa, gợi ý người bệnh khi có dấu

hiệu khàn tiếng kéo dài khơng rõ nguyên nhân cần phải được kiểm tra khả



53



năng có UTTQ . Trong nghiên cứu của Phạm Minh Tuấn cũng cho thấy tất cả

các bệnh nhân tới viện có dấu hiệu khàn tiếng (100%) . Phạm Văn Hữu 100%

các bệnh nhân đến khám chỉ có dấu hiệu duy nhất là khàn tiếng . Điều này

cho thấy trong giai đoạn sớm của UTTQ, khi khối u chưa phát triển mạnh và

xâm lấn thì chỉ ảnh hưởng tới vận động của dây thanh. Rất hiếm có hiện

tượng khó thở, rối loạn nuốt…Trong tất cả bệnh lý ung thư nói chung và trong

ung thư thanh quản nói riêng, phát hiện càng sớm điều trị càng hiệu quả, thời

gian sống kéo dài hơn. Theo tác giả Nguyễn Đình Phúc thì khàn tiếng bao giờ

cũng là dấu hiệu sớm và duy nhất trong ung thư dây thanh giai đoạn sớm.

Trong ung thư thanh quản, do thanh quản có vai trò phát âm là một phương

tiện không thể thiếu được trong hoạt động xã hội, nên nếu được phát hiện sớm

ở giai đoạn sớm có thể bảo tồn được cơ quan phát âm vừa giúp bệnh nhân tái

hồ nhập với xã hội mà khơng có cảm giác mình bị tàn tật đảm bảo chất

lượng cuộc sống tốt hơn. Do vậy khi có khàn tiếng kéo dài khoảng 3 tuần,

hoặc bất cứ có một dấu hiệu nghi ngờ nào khác như nuốt đau, nuốt vướng, ho

khạc máu, đau lên tai… bắt buộc phải được khám nội soi để được phát hiện

sớm những dấu hiệu bất thường [46], [45],[2].

4.1.2.2.Thời gian khởi phát bệnh đến khi vào viện

Thời gian trung bình xuất hiện triệu chứng đầu tiên cho đến lúc đi khám

là 5,43 tháng, thấp nhất là 1 tháng và cao nhất là 14 tháng. Kết quả này trong

nghiên cứu của Phạm Minh Tuấn, thời gian trung bình là 5,2 tháng, thấp nhất

là 1 tháng và dài nhất là 18 tháng. Trong giai đoạn đầu triệu chứng còn mơ

hồ, mặt khác ở tuyến cơ sở tại Việt Nam trình độ chuyên môn hạn chế. Trong

mẫu nghiên cứu của chúng tơi khơng có bệnh nhân nào đến khám trước

một tháng khi có dấu hiệu khàn tiếng. Qua đây cho thấ y rằng việc tuyên

truyền cho bệnh nhân hiểu về bệnh UTTQ là điều cực kỳ quan trọng, và ở

tuyến cơ sở cần mở rộng hơn nữa việc khám sàng lọc phát hiện sớm bệnh

lý UTTQ bằng khám nội soi [46].



54



4.1.2.3. Đánh giá vị trí tổn thương

 Vị trí tổn thương khi soi bằng optic 700

Khi soi bằng Optic 700 cho thấy khối u giới hạn chủ yếu ở tầng thanh

môn, chiếm tới 66,7%, khối u lan lên thượng thanh môn (26,2%) và khối u

thanh môn lan xuống hạ thanh môn (7,1%. Trong nghiên cứu của Quản Thanh

Nam cũng thấy kết quả tương tự: u giới hạn ở tầng thanh môn, chiếm tới 60%,

khối u lan lên thượng thanh môn (33,3%) và khối u thanh môn lan xuống hạ

thanh môn (6,7%). Điều này có thể được giải thích bởi việc dùng optic 700 chỉ

cho chúng ta cái nhìn từ phía trên xuống, chỉ quan sát được ở một khoảng

cách nhất định, đánh giá một cách tương đối về vị trí tổn thương, khơng thể

đánh giá chính xác được vị trí xuất phát cũng như sựu lan tràn của tổn thương

đặc biệt là với những bệnh nhân khó soi do cổ ngắn, hay phản xạ hoặc do sụn

thanh thiệt đổ ra sau nhiều. Do vậy chủ yếu đánh giá được tổn thương thượng

thanh môn và thanh môn, hạn chế đánh giá tổn thương hạ thanh môn, buồng

Morgani và mép trước. Song lại đánh giá về sự di động của dây thanh rất tốt [37].

 Vị trí tổn thương khi soi trực tiếp (panendoscopy)

Panendoscopy được thực hiện ngay trước PT trên tất cả các bệnh nhân

nghiên cứu. Bệnh nhân được soi thanh khí phế quản ống mềm gây tê và thanh

quản, hạ họng và thực quản ống cứng khi đã gây mê.

Khi soi thanh quản bằng ống mềm và ống cứng chúng tôi có thể đánh giá

tốt sự lan tràn của u qua các tầng thanh quản và tiếp cận các vị trí khó đánh

giá như buồng thanh thất, mép trước, mép sau, hạ thanh môn.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy sự khác biệt khi soi trực

tiếp, có 20 ca (47,6%) có vị trí tổn thương khu trú ở thanh môn đơn thuần, ở

thanh môn lan lên thượng thanh môn chiếm 31% (13 trường hợp) và thanh

môn lan xuống hạ thanh môn là 21,4% (9 trường hợp).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các bệnh nhân UTTQ trong nghiên cứu này, sau phẫu thuật ít gặp biến chứng. Chỉ phát hiện thấy biến chứng chảy máu với 1 trường hợp (2,4%). Các trường hợp khác đều không gặp các biến chứng như khó thở, tràn khí, nhiễm trùng, viêm phổi, dò…

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×