Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Giải phẫu tuyến nước bọt mang tai:

2 Giải phẫu tuyến nước bọt mang tai:

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Hình 1.1: Giải phẫu tuyến mang tai [19]

1.2.1.2. Mặt sau

Liên quan với mỏm chũm (trên đó có cơ ức đòn chũm và cơ nhị thân

bám) và với mỏm châm (trên dó có cụm hoa Riolan bám).

Các cơ đó được lá sâu của của cân cổ nông bao phủ và nối liền với

nhau, để tạo nên một phần của hoành đi từ cơ ức đòn chũm đến hầu (hồnh

trâm hàm hầu). Hoành này gồm ba khe:

- Khe trong (khe trước trâm móng) ở giữa cơ trâm móng (ở ngồi) và

các cơ hay dây chằng khác của cụm Riolan (ở trong).

- Khe ở giữa cơ trâm móng và cơ nhị thân (khe sau trâm móng), ở khe

này, tuyến liên quan với tĩnh mạch cảnh trong, dây VII cùng lách qua khe này

vào trong tuyến nước bọt mang tai.

- Khe ngoài ở giữa cơ nhị thân và cơ ức đòn chũm. Tại đây có dây XI

bắt chéo tuyến nước bọt (đây là nơi được chọn làm thủ thuật nối dây VII và

XI cho bệnh nhân bị liệt mặt).

1.2.1.3. Mặt trước

Liên quan với quai hàm được đệm ở mặt ngoài bởi cơ cắn và mặt trong

bởi cơ chân bướm trong (điều này giải thích tại sao ung thư tuyến mang tai

giai đoạn muộn lai có khít hàm). Mặt trước có khuyết Juvara (khuyết sau lồi

cầu), chui qua đó có động mạch hàm trong và dây thần kinh thái dương.



15

1.2.1.4. Đầu trên

Liên quan với khớp thái dương hàm và ống tai ngoài. Tại đây liên quan

với động mạch thái dương nông ở trước, tĩnh mạch và dây thần kinh thái

dương ở sau.

1.2.1.5. Đầu dưới

Nằm trên dải ức hàm đi từ cơ ức đòn chũm tới góc hàm tạo vách ngăn

giữa. Dải này tạo nên một vách ở giữa tuyến mang tai và tuyến dưới hàm.

1.2.2. Tuyến mang tai

Tuyến mang tai hình lăng trụ tam giác, nằm trong khu mang tai nhưng

lại lấn cả ra ngoài khu mang tai ra trước, ra sau và nhất là vào trong để tạo 5

nên mẩu hầu của tuyến nước bọt mang tai có thể sờ thấy từ phía trong miệng

(Hình 1-2). Tuyến được bọc trong một vỏ; ở giữa vỏ và khu có tổ chức tế bào

nên tuyến dễ tách khỏi khu, trừ hai chỗ mà vỏ dính vào là: bờ trước cơ ức đòn

chũm và bao khớp thái dương hàm. Những u của tuyến nước bọt mang tai

phát triển trên hai vùng này thường dính và khi mổ lấy tuyến, hai vùng này

khơng bóc tách được mà phải cắt.

Tuyến mang tai có hai thùy, giữa hai thùy có các cấu trúc cầu nối sang

nhau làm cho hai thùy này tuy áp vào nhau nhưng có một diện bóc tách, dây

thần kinh VII nằm giữa hai thùy này như sợi chỉ đánh dấu nằm giữa hai trang

sách, gáy quay về phía trước. Thùy trên nằm lên trên cả thùy dưới và dây VII

như nắp của một chiếc hộp. Từ các nang tuyến, nước bọt được tiết ra sẽ đổ

vào các ống trong tiểu thuỳ, ống gian tiểu thuỳ, ống bài xuất, ống Stenon [20].

1.2.3. Ống Stenon

Ống Stenon là ống tiết dịch của tuyến nước bọt mang tai, dài độ 4 cm,

phát sinh ở trong tuyến và thốt ra ngồi tuyến ở dưới mỏm tiếp độ 15mm để

chạy ra phía trước. Khi tới bờ trước của cơ cắn (ở dưới mỏm tiếp độ 1 cm),



16

ơng Stenon chạy ở phía trước cục mỡ Bichat, rồi thọc qua cơ mút dể vào

miệng, ở ngang mức cổ của răng hàm lớn thứ hai trên.

1.2.4. Liên quan mạch máu-thần kinh-bạch huyết

Từ ngoài vào trong tuyến nước bọt mang tai có liên quan tới dây thần

kinh mặt, tĩnh mạch và động mạch cảnh ngoài, dây thần kinh tai - thái dương.



1.2.4.1. Thần kinh

♣ Dây thần kinh mặt (VII):

Sau khi ra khỏi lỗ châm chũm (1 tới 2cm) dây VII đi giữa cơ châm

móng và cơ nhị thân, chui vào giữa hai thùy của tuyến mang tai.

Dây thần kinh VII di trong diện bóc tách của hai thuỳ tuyến cùng với

một động mạch nhỏ kề bên với động mạch châm chũm (thắt dộng mạch này

để cầm máu sẽ giúp cho việc phẫu tích dễ dàng hơn nhiều). Ngay trong diện

này, dây thần kinh VII chia làm các nhánh là nhánh thái dương mặt và nhánh

cổ mặt.

Nhánh thái dương mặt: nối với dây thái dương và chia nhiều nhánh nhỏ

cho các cơ nông vùng cổ mặt. Giữa hai thuỳ, nhánh thái dương mặt và nhánh

cổ mặt lại cho nhiều nhánh nối với nhau tạo nên thần kinh mang tai. Những

nhánh cuối của thái dương mặt là:

- Thái dương: cho cơ tai trước và mặt trước vành tai ngồi

- Trán và mi mắt: cho cơ trán, lơng mày, vòng mi

- Dưới ổ mắt: cho cơ gò má to, nhỏ, nâng cánh mũi, môi trên, nanh,

chéo mũi, nở lỗ mũi.

- Trên miệng: cho cơ mút và nửa trên cơ vòng mơi. Nhánh cổ mặt: nối

liền với cành tai của đám rối cổ rồi chia thành nhiều nhánh nhỏ thường ở sau

và trên góc hàm, những nhánh tận là:

- Miệng dưới cho cơ cười và nửa dưới cơ vòng mơi - Cằm cho tam giác

môi, vuông cằm, chỏm cằm

- Cổ cho da nông cổ, nhánh này nối liền với cành ngang của đám rối cổ nông.



17

♣ Dây thần kinh thái dương:

Là nhánh của dây hàm dưới, chui qua khuuyết sau lồi cầu Juvara cùng

với động mạch hàm trong. Các sợi tiết dịch của tuyến là sợi đá sâu bé của dây

IX. Khi bị dò nước bọt do đứt ống Stenon, có thể làm lỗ dò ngừng chảy dịch

bằng cách làm đứt dây thái dương vì các sợi tiết dịch của dây IX mượn đường

đi của dây tai thái dương [20].

1.2.4.2. Liên quan mạch máu

♣ Động mạch:

Động mạch cảnh ngoài qua khe trước trâm móng đi vào phần sau của

tuyến nó xẻ một đường trong thuỳ sâu của tuyến tới trên góc hàm 4 cm thì

chia thành hai nhánh tận là thái dýõng nông và hàm trong. Ngay sau khi chui

vào tuyến, ðộng mạch còn tách ra một nhánh bên là động mạch tai sau nằm 7

trong ống tai, cho nhánh là động mạch trâm chũm thường đi kèm với thần

kinh mặt.



Hình 1.2: Động & Tĩnh mạch cảnh [21]

♣ Tĩnh mạch:



Hội lưu nơi tuyến đổ vào tĩnh mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch cảnh ngồi

được tạo thành do hai tĩnh mạch chính là tĩnh mạch thái dương nông và tĩnh

mạch hàm trong thoát ra từ khuyết Juvara ở trên động mạch và dưới thần

kinh. Tĩnh mạch cảnh ngồi thốt dần ra ngồi tuyến ở phía dứơi để chạy



18

ngay dưới cân cổ nơng, nó tiếp nối với thân giáp lưỡi mặt bởi nhánh nối trong

tuyến mang tai [21].

1.2.5. Một số điểm lưu ý về giải phẫu tuyến ngoại khoa

♣ Tuyến nằm tương đối trải rộng và sâu từ gò má tới góc hàm, từ trước

trên cơ ức đòn chũm tới tận cơ cắn, từ cân cổ vào tới tận hầu. Vì vậy, khối u

của tuyến thường lan rộng và sâu.

♣ Có những liên quan giải phẫu rất quan trọng:

- Động mạch cảnh ngoài: Có thể bị tổ chức ung thư phá huỷ hoặc chảy

máu khi phẫu thuật.

- Thần kinh VII: thường gây liệt mặt trong các khối u ác tính, các khối

u hỗn hợp chưa có tổn thương thì phẫu thuật bảo tồn dây VII được đặt ra.

- Liên quan với xương hàm dưới và khớp thái dương hàm: khít hàm khi

khối u thâm nhiễm vào các cơ cắn hoặc lan và khớp thái dương hàm.

- Liên quan với động mạch cảnh ngoài: Khối u ác tính có thể xâm lấn

vào thành động mạch gây chảy máu [21].

1.3



Dịch tễ học

Trên toàn thế giới, tỷ lệ mắc u tuyến nước bọt dao động



0,4-13,5/10

vạn dân [17]. Tỷ lệ ung thư tuyến nước bọt dao động 0,4 – 2,6

ca/10 vạn dân.

Ở Mỹ, ung thư tuyến nước bọt chiếm 6% các ung thư đầu- cổ,

0,3% tổng số

ung thư tồn cơ thể [17]. Tỷ lệ mắc các típ mô học khác nhau

theo vùng địa

dư. Trong quần thể bệnh nhân u tuyến mang tai có nguồn gốc

là người Đan-



19

mạch, Pensylvania có 30% là u Warthin, tỷ lệ này gấp 7 lần so

với các quần

thể khác. Tỷ lệ ung thư típ biểu bì nhày ở bệnh nhân thuộc

Vương quốc Anh

là 2,1%, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ chung trên tồn thế giới

(5-15%). Có

một nghiên cứu tỷ lệ mắc u tuyến nước bọt tại vùng Bắc Mỹ

rất cao, chỉ riêng

típ ung thư lympho-biểu mơ đã chiếm 25% tổng số ung thư tại

vùng địa dư

này [18]. Một điều tra khác chỉ ra rằng, tỷ lệ mắc ung thư

tuyến nước bọt

trong quần thể người gốc Malaysia cao hơn hẳn người gốc Trung hoa và Da

đỏ. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt tỷ lệ mắc và tỷ lệ các típ ung

thư giữa các thành phố [20].

1.4



Lâm sàng

U hỗn hợp tuyến thường gặp cả nam hay nữ, tỷ lệ tương đương nhau,



cũng có khi gặp ở tuổi thiếu nhi, thường bệnh nhân ở tuổi trung niên (thường

gặp ở lứa tuổi 30 – 45) đến khám bệnh với khối u hỗn hợp ở tuyến mang tai

hay tuyến dưới hàm, hoặc ở vòm miệng, Do u phát triển chậm và rất chậm

thường từ một vài năm có khi tới hai mươi năm. U thường được phát hiện khi

đã lớn, ảnh hưởng chức năng hoặc thẩm mỹ. U lành tính nhưng dễ tái phát và

có thể chuyển dạng ác tính nếu khơng được phát hiện sớm và điều trị triệt để.

Một u hỗn hợp tuyến mang tai điển hình có 3 giai đoạn lâm sàng khác nhau :

- Giai đoạn đầu: Giai đoạn đầu người bệnh không để ý, nhưng khi tự

sờ thấy khối u nhỏ ở tuyến mang tai hay dưới hàm mới chú ý đến nó và theo

dõi. Vị trí u rất đa dạng, u tuyến mang tai có thể xuất hiện trước nắp tai, sau



20

tai, dưới dái tai, hoặc ở vị trí cổ, cạnh hầu thậm chí lan cả vào vùng dưới hàm,

đường kính khoảng 1 cm, khơng đau, di động dễ. Tùy theo vị trí xuất phát

của khối u, nhất là u ở thùy sâu, đôi khi chúng xâm lấn tồn bộ các khu vực

trên. U khơng gây đau, chắc, cứng, di động, màu da trên u bình thường.

U tiến triển rất chậm, trong nhiều năm, thậm chí vài chục năm với giai đoạn

ổn định kéo dài, theo sau là giai đoạn tăng trưởng tạm thời.

- Giai đoạn toàn phát: sau một thời gian dài phát triển, u to dần lên,

nhìn thấy gồ ghề, da tại chỗ căng mỏng màu sẫm hơn xung quanh. Sờ u có

giới hạn rõ, có múi, chắc di động, ít dính vào tổ chức xung quanh. Độ chắc

của u khơng đều, có chỗ căng mỏng như nang dịch, có chỗ cứng chắc, có chỗ

lại mềm. U có thể bằng hòn bi hoặc to như quả quýt, quả cảm. Có tác giả sau

phẫu thuật u hỗn hợp mang tai cân được 2,5-6,85 kg.

* Với u hỗn hợp tuyến dưới hàm thường gắn với tuyến, di động ít hơn,

khơng q to như ở tuyến mang tai, dễ nhầm với lao hạch, viêm xơ tuyến, u

bao thần kinh.

* U hỗn hợp ở vòm miệng hay ở vị trí giáp giữa vòm cứng và vòm

mềm: chắc, cứng sát xương di động ít, có khi nhầm với u hoặc lồi xương. Sau

phẫu thuật tỷ lệ sinh thiết cho kết quả cylindrom tương đối cao.

- Giai đoạn cuối và các triệu chứng của chuyển dạng ác tính: trong

vài tháng u có thể thối hóa ác tính (hiếm), u to nhanh, đau tự nhiên, đau lan

lên tai và thái dương kèm ù tai, da trên u bị thâm nhiễm,, u dính với da và

dính ở sâu, liệt mặt, sờ thấy hạch cổ, sức khỏe bị ảnh hưởng.

Chẩn đoán bệnh lý của u phải kết hợp giữa khám lâm sàng tỉ mỉ với các

xét nghiệm cận lâm sàng hỗ trợ. Giá trị chẩn đốn khẳng định chính là kết quả

giải phẫu bệnh.

Phẫu thuật là phương pháp duy nhất để điều trị u hỗn hợp tuyến mang

tai. Cần phải phẫu thuật sớm và triệt để.



21

1.5



Các xét nghiệm cận lâm sàng



1.5.1. Siêu âm tuyến

Cho phép chẩn đoán một cách hạn chế đánh giá chi tiết về khối u và sự

tương quan của nó với tổ chức xung quanh do độ phân giải không gian thấp

đồng thời giới hạn bởi của sổ âm giữa bề mặt tiếp xúc và vùng khám xét. Tổ

chức xương, tổ chức chứa khơng khí cũng khơng khám xét được bằng siêu

âm. Định hướng cho cả chọc hút tế bào.

1.5.2. Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Nhờ sử dụng một đặc tính của từ trường hạt nhân nguyên tử là có thể

cộng hưởng với sóng tần số radio. Khi ngừng phát sóng, các hạt nhân

nguyên tử sẽ phát trở lại sóng tần radio còn gọi là tín hiệu. Một cuộn ăng –

ten thu nhhững tín hiệu này kết hợp với kỹ thuật khuyếch đậi và sử lý theo

thuật tốn Fourier có thể tạo ra ảnh của cấu trúc vật thể qua cộng hưởng và

phát ra tín hiệu.

Với kỹ thuật này, tổ chức tuyến cũng như tổ chức phần mềm khác được

đánh giá trên nhiều bình diện và nhiều thơng số. Các lát cắt cơ bản như đứng

ngang cho phép đánh giá rõ thùy sâu của tuyến mang tai, cơ cắn, cành lên

xương hàm dưới và lồi cầu. Các lát cắt ngang cho thấy thùy sâu của tuyến, cơ

ức đòn chũm và cơ nhị thân, các nhánh của thần kinh VII.

1.5.3. Hóa mơ miễn dịch

Là sự kết hợp giữa mô học và miễn dịch học. HMMD sử dụng các

kháng thể để phân biệt sự khác nhau về mặt kháng nguyên giữa các tế bào. Sự

khác nhau có thể giúp nhận dạng một cách đặc hiệu dòng của các quần thể tế

bào, xác định về mặt sịnh học các quần thể tế bào khác nhau trong cùng một

dòng, nhận dạng sự khác nhau về chức năng giữa các tế bào.



22

HMMD là dùng các kháng thể để nhận dạng các kháng nguyên, là kết

hợp phản ứng miễn dịch và hóa học để làm hiện rõ các kháng nguyên hiện

diện trong mô (bào thương, màng tế bào, nhân).

1.6



Chẩn đoán

Chẩn đoán u hỗn hợp tuyến nước bọt nói chung dễ, chủ yếu dựa vào



hình ảnh lâm sàng và một trong các phương pháp cận lâm sàng kể trên.

1.6.1. Chẩn đoán u tuyến nước bọt mang tai

Chẩn đoán xác định dựa vào triệu chứng lâm sàng, siêu âm, cộng

hưởng từ và mơ bệnh học.

1.6.1.1. Chẩn đốn lâm sàng

- Khối vùng tuyến mang tai.

- Khối di động hoặc cố đinh, dính vào da vùng trên tuyến.

- Bề mặt da xung quanh tuyến bình thường hoăc thâm nhiễm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Giải phẫu tuyến nước bọt mang tai:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×