Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Rối loạn kinh nguyệt bao gồm: kinh thưa(<9 chu kì/năm), mất kinh và rong kinh [15]. Các bất thường kinh nguyệt này thường xuất hiện quanh giai đoạn dậy thì, thường được ghi nhận sau một quãng thời gian tăng cân. Đặc trưng của hội chứng buồng trứn

Rối loạn kinh nguyệt bao gồm: kinh thưa(<9 chu kì/năm), mất kinh và rong kinh [15]. Các bất thường kinh nguyệt này thường xuất hiện quanh giai đoạn dậy thì, thường được ghi nhận sau một quãng thời gian tăng cân. Đặc trưng của hội chứng buồng trứn

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



của hội chứng buồng trứng đa nang là khơng phóng noãn, tuy nhiên một số

nghiên cứu cho rằng phụ nữ bị buồng trứng đa nang vẫn có thể rụng trứng tự

nhiên, mặc dù tần suất rụng trứng không rõ ràng [16]. Thêm vào đó, khoảng

30% bệnh nhân buồng trứng đa nang có kinh nguyệt bình thường [15].

Hơn 80% phụ nữ có triệu chứng cường androgen mắc PCOS. Rậm lơng

là triệu chứng lâm sàng thường gặp, xuất hiện ở 70% phụ nữ PCOS, được xác

định bằng hệ thống Ferriman–Gallwey, đánh giá sự phát triển lơng ở 9 vị trí:

mơi trên, cằm, ngực, lưng trên, lưng dưới, vùng quanh rốn, đường trắng giữa

dưới rốn, cánh tay và đùi; theo 5 mức độ từ 0-4, và khi tổng điểm trên 8 thì

được chẩn đốn. Ngồi ra, mụn trứng cá và hói đầu cũng là triệu chứng của

cường androgen, nhưng ít đặc hiệu hơn rậm lơng và ít gặp hơn ở bệnh nhân

PCOS, tỷ lệ khoảng 15-30%[15].

Vô sinh gặp trong khoảng 40% số phụ nữ bị buồng trứng đa nang. Đây là

nguyên nhân gây vơ sinh khơng phóng nỗn thường gặp nhất. Bệnh nhân có

số lượng nang nỗn sơ cấp bình thường, và số noãn bào I, II tăng. Tuy nhiên,

do rối loạn yếu tố trong quá trình tăng trưởng, sự phát triển của nang nỗn bị

gián đoạn khi nang đạt đến đường kính 4-8mm, bởi vậy sẽ khơng có nang

vượt trội và sự phóng nỗn khơng xảy ra. Thêm nữa, tỷ lệ sảy thai tự nhiên ở

phụ nữ PCOS cao hơn, từ 42-73% [17].

Các rồi loạn chuyển hóa thường gặp trong hội chứng buồng trứng đa

nang là tình trạng thừa cân, béo phì. Một điểm đáng chú ý là hầu hết các bệnh

nhân buồng trứng đa nang đều xuất hiện hiện tượng tăng insulin huyết thanh

và kháng insulin, không liên quan đến béo phì. Phụ nữ bị buồng trứng đa

nang có nguy cơ cao bị rối loạn dung nạp đường huyết(23-35%) và đái tháo

đường type II(4-10%). Đồng thời họ cũng dễ bị mắc các bệnh khác như tăng

huyết áp và rối loạn chức năng nội mơ mạch máu, làm tăng nguy có mắc các

bệnh lý mạch máu lớn.



9



Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang được đề xuất bởi 3 nhóm:

Viện sức khỏe quốc gia

(National Institutes of Health)



- Cường Androgen: lâm sàng hoặc

xét nghiệm

- Rối loạn kinh nguyệt

Hiệp hội sinh sản người và phôi học - Cường Androgen: lâm sàng hoặc

châu Âu/Hiệp hội Y học sinh sản Mỹ xét nghiệm

(The European Society for Human - Rối loạn kinh nguyệt

Reproduction and Embryology /American - Nhiều nang noãn trên siêu âm

Society for Reproductive Medicine)

(2003)

Hiệp hội cường Androgen và BTĐN - Cường Androgen: lâm sàng hoặc

(Androgen Excess and PCOS Society) xét nghiệm

(2006)

- Rối loạn kinh nguyệt hoặc Nhiều

nang nỗn trên siêu âm

Mặc dù có sự khác biệt ở cả 3 nhóm nhưng tất cả đều thống nhất rằng,

chẩn đoán BTĐN là chẩn đoán loại trừ với: tăng sản thượng thận bẩm sinh,

tăng sản thượng thận không phân loại, hội chứng Cushing, khối u tiết

androgen, cường androgen tự phát, rậm lông tự phát, tăng prolactin và bệnh lý

tuyến giáp. Lựa chọn điều trị cho phụ nữ PCOS phụ thuộc vào triệu chứng của

bệnh nhân, chia làm 3 nhóm: rối loạn kinh nguyệt, cường androgen và vô sinh.

Đối với điều trị vô sinh, giảm cân là điều trị hàng đầu, đặc biệt là trường hợp thừa

cân béo phì. Gây phóng nỗn bằng gonadotropin và nội soi drilling buồng trứng

được cân nhắc là phương pháp điều trị thứ 2. Tiếp cận theo hướng điều trị bằng

gonadotropin ít xâm lấn và áp dụng cho phụ nữ không muốn phẫu thuật. Drilling

buồng trứng được chỉ định cho trường hợp kháng clomiphene, hiệu quả điều trị:

tạo vòng kinh phóng nỗn cho 92% phụ nữ và tỷ lệ mang thai lên đến 58%. Và

IVF là lựa chọn cuối cùng khi các phương pháp điều trị trên thất bại [17].

1.2.2.3. Vô sinh do vòi tử cung – tiểu khung

Yếu tố vòi tử cung – tiểu khung chiếm khoảng 30% nguyên nhân vô

sinh. Vòi tử cung khơng chỉ đảm nhận chức năng tóm bắt trứng rụng từ nang

nỗn, là mơi trường cho phơi phát triển trong những ngày đầu tiên, và còn là



10



con đường duy nhất cho phôi đi vào buồng tử cung. Vì vậy, bất cứ thay đổi

giải phẫu hay chức năng của vòi trứng đều có thể gây nên vơ sinh [5].

Yếu tố vòi tử cung – tiểu khung gây vơ sinh chủ yếu là: tắc vòi (đoạn

gần, đoạn xa, một bên, hai bên), tổn thương niêm mạc vòi, dính quanh phần

phụ, tiền sử phẫu thuật ổ bụng – tiểu khung, sử dụng dụng cụ tử cung, nạo hút

thai… Nguyên nhân thường gặp nhất gây tổn thương vòi tử cung là viêm tiểu

khung, chủ yếu gây bởi nhiễm khuẩn Chlamydia tracomatis. Tỉ lệ tổn thương

vòi tử cung sau một đợt viêm tiểu khung là 12%, sau 2 đợt là 23% và tăng lên

đến 54% sau 3 đợt viêm. Ngồi ra có thể do lạc nội mạc tử cung, tiền sử phẫu

thuật ổ bụng, lao màng bụng... Mức độ thơng vòi có thể chẩn đốn bằng chụp

tử cung–vòi tử cung hay nội soi ổ bụng có bơm thuốc. Việc lựa chọn phương

pháp chẩn đoán phụ thuộc vào các yếu tố liên quan khác, bao gồm: viêm tiểu

khung, lạc nội mạc tử cung, tiền sử chửa ngồi tử cung. Nếu người phụ nữ

khơng có một trong các yếu tố này, chụp XQ tử cung vòi tử cung hay siêu âm

tử cung vòi trứng cản quang (nếu sẵn có) là lựa chọn đầu tiên, các trường hợp

còn lại, bệnh nhân nên được khuyến cáo phẫu thuật nội soi ổ bụng bơm thuốc.

Bơm thuốc xanh methylene hòa tan vào buồng tử cung đồng thời quan sát trên

ổ bụng mức độ thuốc qua hai vòi tử cung vào ổ bụng là tiêu chuẩn vàng để

đánh giá hình thái vòi tử cung, tuy nhiên phương pháp này có một số hạn chế:

đắt tiền, can thiệp xâm lấn và đòi hỏi gây mê [18].

Điều trị vơ sinh do vòi tử cung – phúc mạc có hai phương pháp, bao gồm

phẫu thuật sửa chữa vòi tử cung và thụ tinh trong ống nghiệm. Mục đích của

phẫu thuật là nhằm phục hồi tối đa cấu trúc giải phẫu bình thường của VTC

để đảm bảo chức năng sinh lý bình thường của nó.

Các can thiệp có thể thực hiện để sửa chữa vòi tử cung bao gồm: gỡ dính

tiểu khung và quanh phần phụ, mở thơng tạo hình vòi tử cung đoạn xa.

Với tổn thương vòi tử cung đoạn gần, phẫu thuật nong vòi tử cung bằng

ống đi qua cổ tử cung vào buồng luồn vào đoạn kẽ vòi tử cung. Mặc dù các



11



nghiên cứu quan sát cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật này lên đến

85%, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên nào để so

sánh hiệu quả điều trị, trong khi đó tỷ lệ chửa ngoài tử cung là 9% và nguy cơ

thủng vòi trong phẫu thuật là 2% [19].

Với các trường hợp tổn thương vòi tử cung đoạn xa, lựa chọn điều trị

phẫu thuật sửa chữa vòi tử cung hay thụ tinh ống nghiệm phụ thuộc mức độ

tổn thương của vòi tử cung, và các yếu tố kèm theo như tiền sử sản khoa, tuổi

bệnh nhân, tổn thương lạc nội mạc đi kèm,…

Phân loại mức độ tổn thương vòi tử cung và dính tiểu khung theo Bruhat

M.A và Mage G:

Bảng 1.1: Mức đợ tởn thương vòi tử cung [20]

Điểm

Độ thơng

VTC



0



2



5



Thơng



Chít hẹp



Ứ dịch



Niêm mạc



Bình



VTC



thường



Thành



Bình



VTC



thường



Độ I : 2-5 điểm

độ II: 6-10 điểm



Cơ quan

B̀ng trứng



10



Nếp gấp khơng còn



Nếp gấp giảm



hoặc teo



Mỏng



Dày hoặc xơ cứng



Độ 3: 11-15 điểm

Độ 4: > 15 điểm

Bảng 1.2: Phân loại dính tiểu khung

Loại dính



Diện tích cơ quan dính

1/3



2/3



3/3



Màng mỏng



1



2



4



Dầy dính



4



8



16



12



VTC đoạn

gần



Màng mỏng



1



2



4



Dầy dính



2



5



10



VTC đoạn xa



Màng mỏng



1



1



5



Dầy dính



5



10



15



Nhẹ



1-6 điểm



Trung bình



6-15 điểm



Nặng

> 15 điểm

Một số tác giả chỉ chia tắc VTC thành 2 nhóm tiên lượng xấu và tốt. Tiên

lượng xấu thỏa mãn 2 trong các tiêu chuẩn sau: dính nhiều, dính cố định, kiểu

niêm mạc VTC bất thường. Dính phần phụ gồm dính mỏng và dính dày [21].

Qua một số kết quả ghi nhận được từ các nghiên cứu, những nguyên tắc

sau có thể được đề nghị trong điều trị vơ sinh do yếu tố vòi tử cung –phúc

mạc [22].

- VTC ứ dịch thành mỏng, niêm mạc vòi bình thường hay phẳng nhưng khơng có

dính niêm mạc, có thể mở thơng VTC qua mở bụng hoặc nội soi

- VTC ứ dịch thành mỏng với dính niêm mạc khu trú là chỉ định cho tạo hình

vòi tử cung hoặc thụ tinh ống nghiệm. Chọn lựa chỉ định sẽ tùy thuộc vào một

số yếu tố gây vô sinh khác và bệnh nhân phải được thơng tin rõ về lợi ích

cũng như nguy cơ của hai kỹ thuật này.

- VTC ứ dịch thành mỏng với dính niêm mạc rộng (trên 50% nếp gấp) hoặc tổn

thương VTC đa ổ là chỉ định thụ tinh ống nghiệm vì tỷ lệ thai trong tử cung

sau phẫu thuật ít hơn 20% và nguy cơ thai ngoài tử cung gia tăng đáng kể

- Dính phần phụ nhẹ hay trung bình, với tỷ lệ thành cơng đáng kể 45-60% thai

trong tử cung nên phẫu thuật gỡ dính là lựa chọn trong những trường hợp này.

- Dính phần phụ nặng là chỉ định của IVF

- Nếu thai kỳ khơng có sau 1 năm phẫu thuật, IVF nên được thực hiện.



13



Mặc dù mối liên quan giữa bệnh lý vòi tử cung ứ dịch và vô sinh chưa

được chứng minh rõ ràng, nhưng việc kẹp vòi tử cung ứ dịch trước khi làm

IVF cải thiện đáng kể thành công của IVF, tỷ lệ sinh tăng 2.4 lần [23].

Một loại can thiệp khác là nối vòi tử cung sau triệt sản. Tỷ lệ thành công

của phương pháp này phụ thuộc vào kỹ thuật triệt sản ban đầu. Nếu triệt sản

qua nội soi thì khả năng phục hồi thành công là 50% bởi kỹ thuật này gây tổn

thương vòi tử cung tối thiểu [24].

1.2.2.4. Bất thường tử cung

Năm 2006, nghiên cứu của Sanders và cộng sự dựa trên các tài liệu đã

được tiến hành để tìm hiểu thơng tin và mối liên quan giữa các yếu tố bất

thường của tử cung như dính buồng tử cung, vách ngăn, u xơ tử cung hay

polyp buồng tử cung với vô sinh. Các số liệu đã cho thấy việc điều trị các yếu

tố bất thường này làm tăng khả năng có thai. Khơng có nhiều bằng chứng

chứng minh tổn thương dính buồng tử cung làm tăng tỷ lệ vô sinh hay gây sảy

thai, nhưng kết quả nghiên cứu này cho thấy, việc soi buồng tử cung điều trị

tách dính làm tăng tỷ lệ có thai 32-87%. Nghiên cứu này cũng đưa ra mối liên

quan trực tiếp giữa bất thường tử cung đôi với vô sinh, và kết quả của phẫu

thuật tạo hình tử cung giúp cải thiện tỷ lệ sẩy thai từ 91% trước phẫu thuật so

với 17% sau phẫu thuật. Hơn nữa, tỷ lệ có thai của bệnh nhân vô sinh do tử

cung đôi sau phẫu thuật là 47%. Ảnh hưởng của u xơ tử cung đến vơ sinh khá

lớn, tuy nhiên còn nhiều tranh cãi. Số liệu từ các nghiên cứu thụ tinh trong

ống nghiệm cho rằng chỉ có những u xơ tử cung làm thay đổi buồng tử cung

mới gây vơ sinh. Tỷ lệ có thai thành công sau cắt u xơ tử cung bằng nội soi

buồng tử cung, nội soi ổ bụng hay mở bụng là 50%[25]. Polyp buồng tử cung

được coi là một trong những yếu tố gây vô sinh, tuy nhiên, đa số các tác giả đều

thống nhất rằng polyp BTC kích thước nhỏ hơn 2cm khơng ảnh hưởng đến kết

quả có thai khi làm IVF. Trong điều trị vô sinh, can thiệp soi buồng cắt polyp

BTC thường đặt ra khi polyp ở đáy BTC hoặc kích thước polyp > 2cm [26].



14



1.2.2.5. Lạc nội mạc tử cung

Lạc nội mạc tử cung được định nghĩa là sự xuất hiện các mô giống nội

mạc tử cung (tuyến hoặc mơ đệm) ở ngồi tử cung, gây nên phản ứng viêm

mạn tính [27]. Tỷ lệ chính xác của lạc nội mạc tử cung chưa được xác định

nhưng ước tính khoảng 2-10% ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Tỷ lệ này lên đến

50% ở nhóm phụ nữ vơ sinh [28].

Ở phụ nữ có lạc nội mạc tử cung, tỷ lệ có thai hàng tháng giảm (2-10%)

so với các cặp vợ chồng bình thường (15-20%). Mặc dù lạc nội mạc tử cung

ảnh hưởng đến chức năng sinh sản, nhưng nó khơng thường xun ngăn cản

sự thụ thai [29]. Cơ chế gây vô sinh của lạc nội mạc tử cung vẫn chưa được

hiểu biết rõ ràng và có vẻ như khác nhau với các giai đoạn khác nhau.

LNMTC nhẹ và trung bình, cơ chế chủ yếu là các chất phản ứng viêm

cytokine (IL-1β, IL-8, IL-6, and TNF α), estradiol và progessteron do mô nội

mạc tử cung lạc chỗ tiết ra, hấp dẫn đại thực bào, yếu tố phát triển nội mạch

(VEGF) và Interleukin-8, gây độc cho giao tử, phơi và giảm vận động vòi tử

cung. LNMTC trung bình đến nặng thường gây viêm dính tiểu khung nhiều,

ảnh hưởng trực tiếp đến sự phóng nỗn, giảm vận động của vòi tử cung và sự

di chuyển của tinh trùng [30]. Việc điều trị vô sinh do lạc nội mạc tử cung phụ

thuộc vào mức độ tổn thương. Trường hợp LNMTC nhẹ đến trung bình phẫu

thuật nội soi ổ bụng sửa chữa tổn thương là một lựa chọn được nhiều tác giả

ủng hộ. LNMTC trung bình đến nặng vẫn là một bài tốn khó cho nhiều bác

sỹ kể cả trong kỷ nguyên hỗ trợ sinh sản như hiện nay, bởi tỷ lệ thành công

của IVF trong những trường hợp này không được như mong đợi [31].

Bảng 1.3: Phân loại tổn thương LNMTC theo AFS 1995 [32]

Khối LNMTC

Buồng trứng



Trái Bề mặt

Sâu



<1cm



1-3cm



>3cm



1



2



4



4



16



20



15



Phải Bề mặt



1



2



4



4



16



20



Bề mặt



1



2



4



Sâu



2



4



6



Sâu

Phúc mạc



Dính cùng đồ sau

Dính

Buồng trứng



Trái

Phải



Vòi tử cung



Trái

Phải



Mợt phần



Hoàn toàn



4



40



<1/3 diện tích 1/3-2/3 diện tích >2/3 diện tích

Mỏng



1



2



4



Dày



4



8



16



Mỏng



1



2



4



Dày



4



8



16



Mỏng



1



2



4



Dày



4



8



16



Mỏng



1



2



4



dày



4



8



16



1.2.2.6. Yếu tố vơ sinh nam

Ngun nhân gây vơ sinh có thể xuất hiện từ cả hai giới. Theo khuyến

cáo năm 2016 về vô sinh nam của hội Niệu học châu Âu, việc thăm khám,

chẩn đốn cũng như điều trị vơ sinh cần tiến hành đồng thời trên cả vợ và

chồng. Vô sinh nam là tình trạng sức khỏe ở nam giới mà tỷ lệ có thai ở bạn

tình (có chức năng sinh sản bình thường) thấp. Yếu tố vơ sinh nam được định

nghĩa khi có sự bất thường về ít nhất một trong ba yếu tố: độ tập trung, độ di

động, hình thái của tinh trùng trong ít nhất 2 mẫu xét nghiệm tinh trùng[33].

Yếu tố vơ sinh nam được tìm thấy trong 50% các cặp đôi vô sinh. Tuy nhiên,

trong 30-40% các trường hợp, nam giới có bất thường tinh dịch đồ xuất hiện

mà khơng tìm được ngun nhân rõ ràng[34]. Xét nghiêm tinh dịch đồ đóng

vai trò quan trọng trong chẩn đốn vơ sinh ở nam giới, đánh giá sự hình thành

và trưởng thành của tinh trùng cũng như hoạt động của chúng trong tinh dịch,



16



cung cấp cho bác sỹ lâm sàng một cái nhìn tổng quát về cả số lượng và chất

lượng tinh trùng. Các chỉ số tinh dịch được so sánh với giới hạn dưới của tinh

dịch đồ bình thường theo phiên bản thứ 5 WHO, năm 2010 [35].

Bảng 1.4. Giới hạn dưới của tinh trùng bình thường theo WHO[36]

Đặc điểm

Thể tích (ml)

Mật độ (/ml)

Số lượng ()

Tỷ lệ di động (%)



WHO 1980 WHO 1987 WHO 1992 WHO 1999 WHO 2010

pND

≥2

≥2

≥2

≥1.5

20-200

≥20

≥20

≥20

≥15

ND

≥40

≥40

≥40

≥39

≥60

≥50

≥50

≥59

≥40

≥20%

≥25%

≥32

Tỷ lệ di động tiến tới (%)

≥2

≥25

(độ a)

(độ b)

(độ a+b)

Tỷ lệ sống (%)

ND

≥50

≥75

≥75

≥58

Hình thái (% bình

80.5

≥50

≥30

≥14

≥4

thường)

Bạch cầu (/ml)

<4.7

<1.0

<1.0

<1.0

<1.0

Tiêu chuẩn: Độ a: di động tiến tới nhanh >25μm/s, Độ b: di động tiến tới chậm, tại chỗ

(5-25μm/s). Bình thường, 50% di động (độ a+b) trong vòng 60 phút sau xuất tinh.



Khi 1 mẫu xét nghiệm tinh dịch đồ bình thường theo tiêu chuẩn của

WHO, không cần làm thêm xét nghiệm để đánh giá chức năng tinh trùng của

nam giới. Khi bất thường tinh dịch đồ ở ít nhất 2 mẫu trở lên, các xét nghiệm

nam học chuyên sâu cần được chỉ định để đánh giá tiếp. Các bất thường tinh

dịch chính đồ bao gồm[34]:

• Ít tinh trùng (oligozoospermia): mật độ tinh trùng < 15 triệu/ml

• Tinh trùng ít di động (asthenozoospermia): tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới

<32%

• Tinh trùng bất thường (teratozoospermia): tỷ lệ tinh trùng bình thường <4%

Các bất thường này ít xảy ra đơn độc mà thường phối hợp với nhau. Một

trường hợp đặc biệt của tinh trùng ít: khi số lượng tinh trùng dưới 1 triệu/ml,

nam giới được coi là khơng có tinh trùng (azoospermia). Bất thường này thường

liên quan đến sự tắc nghẽn của đường sinh dục và bất thường gene [34].

Nguyên nhân gây vơ sinh nam có thể được phân loại thành 3 nhóm chính

theo đáp ứng điều trị của bệnh[37]:



17



• Vơ sinh không thể điều trị: Suy ống sinh tinh nguyên phát

• Các tình trạng có thể điều trị: bệnh lý tinh trùng tự miễn, azoospermia do tắc

nghẽn, thiếu hụt Gonadotropin, rối loạn chức năng tình dục, một số tình trạng

vơ sinh do thuốc có thể đảo ngược.

• Tình trạng cận vơ sinh, khơng điều trị được: ít tinh trùng; tinh trùng bất

thường; ít di động hơặc tình trạng tinh trùng bình thường giảm chức năng

Trong các trường hợp vơ sinh nam có thể điều trị, phương pháp điều trị

phụ thuộc vào nguyên nhân gây vô sinh: bao gồm phẫu thuật, điều trị nội tiết,

điều trị viêm nhiễm... Tuy nhiên hầu hết các cặp đơi vơ sinh có yếu tố vơ sinh

nam đều khơng có ngun nhân rõ ràng và phương pháp điều trị hiệu quả.

Trong những trường hợp này, việc trao đổi với bệnh nhân về khả năng có thai

tự nhiên, tính khơng hiệu quả của điều trị và giá trị của IUI, các phương pháp

hỗ trợ sinh sản như IVF, ICSI, cũng như việc sử dụng tinh trùng hiến tặng,

nhận nuôi con … rất quan trọng [37].

IUI là một phương pháp đơn giản, không can thiệp, tiết kiệm chi phí, có

thể được coi là phương pháp khả thi trong điều trị vơ sinh có yếu tố vơ sinh

nam. Tổng số lượng tinh trùng di động có mối liên quan trực tiếp đến khả

năng thành công của IUI, tuy nhiên ngưỡng giá trị có thể dự đốn khả năng

thành cơng không rõ ràng[38]. Theo Miller và cộng sự, tỷ lệ có thai trong 1

chu kì IUI là 12.4% với số lượng tinh trùng di động >20 triệu; và chỉ có 7.4%

khi số lượng tinh trùng di động từ 10-20 triệu[39]. Nhiều nghiên cứu khuyến

cáo rằng khi số lượng tinh trùng di động dưới 10 triệu, đặc biệt là khi dưới 5

triệu, các phương pháp can thiệp như IVF, ICSI nên được tư vấn cho bệnh

nhân thay vì IUI[39-40]. Đồng thời khi tiến hành IUI, sau 3 chu kì IUI khơng

thành công, người bệnh cũng nên được tư vấn chuyển sang phương pháp hỗ

trợ sinh sản khác thay vì tiếp tục cố gắng làm IUI[40]. IVF trong điều trị vô

sinh nam chỉ đạt hiệu quả tương đương IVF được chỉ định trong các trường

hợp vô sinh do nguyên nhân khác khi số lượng tinh trùng di động từ 2 triệu

trở lên. Kết quả phụ thuộc đặc biệt vào hình thái tinh trùng và khả năng dính



18



và xâm nhập vào nỗn bào của tinh trùng. Vì vậy, ICSI được coi là một bước

nhảy vọt trong điều trị vô sinh nam, giải pháp cho các trường hợp IVF không

thành công hay nguy cơ thất bại cao, cho phép tiêm trực tiếp một tinh trùng

đơn độc vào trong trứng. Cơng nghệ này có thế sử dụng với bất kì tinh trùng

sống nào, nhưng vẫn đạt hiệu quả tương đương với IVF. ICSI không áp dụng

cho các trường hợp vô sinh nhẹ. ICSI nên được chỉ định trong các trường hợp

IVF có khả năng thất bại cao: ít hơn 2 triệu tinh trùng di động, ít hơn 4% tinh

trùng hình thái bình thường, ít hơn 5% tinh trùng di động tiến tới, các bệnh lý

tinh trùng tự miễn và các bất thường tương tác tinh trùng-noãn bào[37].

1.2.2.7. Một số nguyên nhân khác

a) Yếu tố cổ tử cung

Năm 1888, Marion Sims lần đầu tiên mô tả sự ảnh hưởng qua lại giữa

chất nhầy cổ tử cung trước ngày phóng nỗn và di động tinh trùng. Chất nhầy

cổ tử cung chứa gồm nước, chất điện giải và protein, thay đổi theo chu kỳ

kinh nguyệt. Oestrogens đóng một vai trò quan trọng, tạo thành phần chất

nhầy cổ tử cung phù hợp với quá trình di chuyển và khả năng thụ thai của tinh

trùng ngay trước khi phóng nỗn. Một khi tinh trùng ở trong túi cùng âm đạo,

chúng tiếp xúc với chất nhầy cổ tử cung trong thời gian khoảng 180 giây. Lúc

này, cổ tử cung trở thành hồ chứa tinh trùng, mở đường cho tinh trùng tiếp tục

di chuyển lên trên vào đường sinh dục trong [5].

Kháng thể kháng tinh trùng (Antisperm antibodies – ASA) có ở cả nam

giới và phụ nữ, có thể gây suy giảm khả năng sinh sản trầm trọng. Tỷ lệ

kháng thể ASA ở các cặp vợ chồng là 9-36% phụ thuộc vào từng trung tâm

[41]. Kháng thể kháng tinh trùng có thể phát hiện trong máu, tinh dịch, dịch

nang noãn cũng như dịch tiết cổ tử cung âm đạo. Kháng thể này bất hoạt tinh

trùng di động, tiềm năng hóa và thụ tinh đồng thời làm giảm khả năng làm tổ

của phôi. Hoạt động tình dục đã được chứng minh là khơng ảnh hưởng đến

phát triển của ASA [42].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Rối loạn kinh nguyệt bao gồm: kinh thưa(<9 chu kì/năm), mất kinh và rong kinh [15]. Các bất thường kinh nguyệt này thường xuất hiện quanh giai đoạn dậy thì, thường được ghi nhận sau một quãng thời gian tăng cân. Đặc trưng của hội chứng buồng trứn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×