Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nghiên cứu của Peter F.Svider cũng cho kết quả tương tự: đại đa số bệnh nhân (96,4%) được lấy dị vật không gây mê, 2,8% đến để được tư vấn y tế, 0,5% nhập viện lấy dị vật dưới gây mê và 0,3% khác được chuyển sang một bệnh viện khác [30].

Nghiên cứu của Peter F.Svider cũng cho kết quả tương tự: đại đa số bệnh nhân (96,4%) được lấy dị vật không gây mê, 2,8% đến để được tư vấn y tế, 0,5% nhập viện lấy dị vật dưới gây mê và 0,3% khác được chuyển sang một bệnh viện khác [30].

Tải bản đầy đủ - 0trang

77



Nghiên cứu của Melissa A.Scholes MD tại Bệnh viện Nhi Đồng

Colorado-Mỹ từ năm 2007-2012 cho kết quả 102 trẻ em mắc dị vật mũi.

Trong số đó, có 15 trường hợp phải lấy dị vật dưới gây mê (6 trường hợp

liên quan đến pin cúc áo, 2 trường hợp là dị vật hình cầu, 2 trường hợp là

dị vật khối, 2 trường hợp là dị vật hữu cơ, 1 nam châm 1 miếng bọt và

1đồng xu. Lý do lấy dị vật dưới gây mê cũng là do dị vật ở quá sâu khó khăn

trong việc lấy dị vật ra qua cửa mũi trước [55].

4.2.2. Phương tiện lấy dị vật so đặc điểm của dị vật

Trong số 61 bệnh nhân mắc dị vật tròn nhẵn, phương tiện lấy dị vật

thường dùng là curet. Với trường hợp dị vật là sắc nhọn, phương tiện lấy dị

vật thường dùng là curet, kẹp khuỷu, panh. Với dị vật mủn nát, phân hủy,

phương tiện lấy dị vật là kẹp khuỷu. Với dị vật mềm, dai, phương tiện lấy dị

vật thường dùng là kẹp khuỷu, panh, kết hợp với ống hút.

Trong 77 trường hợp mắc dị vật vô cơ, phương tiện thường dùng để lấy

dị vật là curet, kẹp khuỷu, panh. Trong 17 trường hợp dị vật hữu cơ, phương

tiện thường dùng để lấy dị vật là curet, kẹp khuỷu, ống hút. Còn với 4 trường

hợp dị vật sống, phương tiện lấy dị vật là panh.

Trong tổng số 77 trường hợp mắc dị vật có kích thước ≤1cm, và 21

trường hợp mắc dị vật có kích thước > 1cm , phương tiện thường lấy dị vật là

curet, kẹp khuỷu, panh, có thể kết hợp với ống hút và các dụng cụ khác nhau

Như vậy, tùy vào đặc điểm của dị vật mà chúng ta sử dụng các phương

tiện khác nhau và kết hợp với nhau một cách linh hoạt. Với dị vật tròn nhẵn,

nên dùng curet hoặc “móc chữ U”, với dị vật có hình thái dẹt hay dị vật sống

thì nên dùng panh. Kết hợp sử dụng ống hút khi có dịch mũi xoang.

4.2.3. Điều trị sau lấy dị vật mũi

Tỉ lệ có dùng đơn thuốc là 28,6%. Trong nhóm gây mê có tỉ lệ dùng đơn

thuốc (87,5) cao hơn so với nhóm khơng gây mê (23,3%).



78



Tỉ lệ có đặt Merocel là 9,2%. Trong nhóm gây mê có tỉ lệ đặt Merocel

(62,5%) cao hơn so với nhóm khơng gây mê (4,4%).

Điều này có thể giải thích do các trường hợp vào viện để gây mê lấy dị

vật đều có biến chứng viêm xoang hay do dị vật pin và do sỏi mũi.

4.2.4. Kết quả điều trị dị vật mũi

Trong 98 trường hợp dị vật mũi, thì có 68 trường hợp khơng có biến

chứng tại thời điểm vào viện. Do vậy chúng tôi chỉ điều trị 30 bệnh nhân có

biến chứng tại thời điểm vào viện.

Tỉ lệ còn triệu chứng cơ năng sau điều trị là 0%. Tỉ lệ còn triệu chứng thực

thể sau điều trị là còn 1 bệnh nhân bị thủng vách ngăn do dị vật pin (3,3%).



79



KẾT LUẬN



-



-



-



-



-



Qua nghiên cứu 98 bệnh nhân mắc DVHM tại BV TMH TƯ và BV

ĐKTCB từ mũi từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 9 năm 2018, chúng tôi rút ra

một số kết luận sau:

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của dị vật hốc mũi

DVHM thường gặp ở trẻ em (93,9%). Đặc biệt với trẻ em từ 2-5 tuổi chiếm tỉ

lệ cao nhất 85,8%.

Tỉ lệ gặp dị vật ở nam cao hơn nữ với 55,1% và 44,9%.

Thời gian đến viện sớm nhất là 1 ngày (63,3%), trong số đó có nhiều trường

hợp gia đình đưa trẻ đến viện ngay tại thời điểm nhìn thấy trẻ nhét dị vật vào

mũi.

33,7% là có lý do đến khám bệnh. Lý do mà bệnh nhân đến khám nhiều nhất

là chảy dịch mũi ( 29,6%). tự phát hiện hay phát hiện tình cờ (66,3%), trong

đó nhìn thấy trẻ nhét dị vật vào mũi chiếm tỷ lệ cao nhất (32,7%).

Dị vật thường gặp nhất là dị vật vơ cơ (78,6%), sau đó là dị vật hữu cơ

(17,3%) và dị vật sống (con đỉa suối) là 4,1%. Trong nhóm dị vật vơ cơ có

6,1% là dị vật pin, 5,1% là sỏi mũi.

Bệnh nhân có thể có 1 đến 2 dị vật, trong nghiên cứu của chúng tơi thì thấy có

1 trường hợp trẻ có 2 dị vật mũi cùng một bên mũi (1,0%).

78,6% trường hợp mắc dị vật kích thước nhỏ hơn và bằng 1 cm.

Hình thái dị vật hay gặp là tròn và nhẵn (62,2%), mềm dai (30,6%). Sau đó là

sắc nhọn (5,1%) và mủn nát, phân hủy (2,1%).

9,2% trường hợp tự lấy dị vật tại nhà trước khi đến bệnh viện.

Các dụng cụ lấy dị vật tại nhà thường là dùng nhíp (5,1%), ống hút mẹ con

(2,0%), bơm nước bằng xi lanh vào mũi (1,0%) và xì mũi (1,0%).

Hầu hết trẻ đều khơng có triệu chứng gì do phát hiện sớm (59,2%), Trong trường

hợp có triệu chứng thường là do dị vật để lâu ngày hoặc dị vật sống, các triệu

chứng hay gặp là triệu chứng ở 1 bên mũi có dị vật: chảy nước mũi một bên

(34,7%), ngạt mũi một bên (29,6%), chảy máu mũi 1 bên (8,2%).

63,3% là không có triệu chứng thực thể. Trong số trường hợp có triệu chứng

thực thể thường gặp là niêm mạc mũi 1 bên phù nề (30,6%); ứ đọng, xuất tiết

một bên mũi (31,6%); viêm và loét một bên mũi (26,5%) và vách ngăn mũi có



80



-



-



-



-



tổn thương (7,1%).

5,1% trường hợp được làm chẩn đốn hình ảnh, trong đó có 3,1% BN được

chụp Xquang và 2,0% BN được chụp cắt lớp vi tính.

Tỉ lệ gặp dị vật mũi phải là 68,4% cao hơn mũi trái (31,6%).Vị trí dị vật hay

gặp là ở sàn mũi (56,1%), sau đó là đầu cuốn giữa (38,8%), khe giữa (5,1%).

Không gặp dị vật ở cửa mũi sau

Hầu hết dị vật mũi không để biến chứng (69,4%). Các biến chứng ở bệnh nhân

gặp dị vật tại thời điểm bệnh nhân vào viện là viêm mũi xoang (29,6%); sỏi mũi

(5,1%); hoại tử vách ngăn mũi (6,1%) và có 1 trường hợp thủng vách ngăn mũi

do dị vật pin (1,0%).

Triệu chứng của dị vật hốc mũi phụ thuộc vào thời gian mắc, vị trí mắc và đặc

điểm của dị vật.

Biến chứng của dị vật hốc mũi phụ thuộc vào thời gian mắc dị vật.

4.2. Đánh giá kết quả điều trị của dị vật hốc mũi

98 trường hợp dị vật hốc mũi đều được lấy dị vật thành công. Lấy dị vật chủ

yếu là khơng gây mê (91,8%), còn lại chỉ có 8 trường hợp (8,2%) là cần gây

mê để lấy dị vật. 100% lấy dị vật qua cửa mũi trước.

Tùy vào đặc điểm, vị trí mắc dị vật mà chọn phương tiện lấy dị vật.

Tỉ lệ có dùng đơn thuốc là 28,6%. Trong nhóm gây mê có tỉ lệ dùng đơn

thuốc (87,5) cao hơn so với nhóm khơng gây mê (23,3%).

Tỉ lệ có đặt Merocel là 9,2%. Trong nhóm gây mê có tỉ lệ đặt Merocel

(62,5%) cao hơn so với nhóm khơng gây mê (4,4%).

Trong 98 trường hợp dị vật mũi, thì có 68 trường hợp khơng có biến chứng tại

thời điểm vào viện. Do vậy chúng tôi chỉ điều trị 30 bệnh nhân có biến chứng

tại thời điểm vào viện. Tỉ lệ còn triệu chứng cơ năng sau điều trị là 0%. Tỉ lệ

còn triệu chứng thực thể sau điều trị là còn 1 bệnh nhân bị thủng vách ngăn

do dị vật pin (3,3%).



KIẾN NGHỊ

Tuyên truyền, giáo dục cho mọi người những kiến thức cần thiết về

DVHM, đặc biệt là các đối tượng có con nhỏ. Mọi người, nhất là những người



81



có trách nhiệm chăm sóc trẻ nhỏ, cần dành nhiều thời gian để mắt đến trẻ hơn,

không cho trẻ chơi đùa, cầm nắm những vật nhỏ có thể nhét vào mũi, đặc biệt

là dị vật pin cúc áo tốt nhất nên đặt xa tầm tay của trẻ.

DVHM cần được lấy bởi nhân viên y tế có kinh nghiệm vì trẻ em thường

hoảng sợ và chúng thường không hợp tác dẫn tới việc khó lấy.

Các nhà lâm sàng cần thận trọng trong việc chẩn đoán và điều trị, tránh

chẩn đoán nhầm, bỏ sót dị vật. Bên cạnh đó, cần trang bị các trang thiết bị cần

thiết (máy Nội soi) cho các cơ sở y tế để hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều

trị DVHM.

Kiểm tra cả 2 tai trong trường hợp mắc DVHM ở trẻ vì lứa tuổi này

thường hiếu động nên không những nhét dị vật vào mũi mà vào cả tai.

Dị vật pin cúc áo phải được coi là trường hợp khẩn cấp và bị loại bỏ

càng sớm càng tốt.

Sau khi lấy dị vật ra khỏi mũi, mũi phải được kiểm tra lại để loại trừ xem

còn dị vật nào khác trong hốc mũi nữa hay không.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Ngô Ngọc Liễn. (2006). Giản yếu bệnh học Tai Mũi Họng. Nhà xuất bản

Y học , Hà Nội, tr 170.



2.



Kalan A, Tariq M. (2000). Foreign bodies in the nasal cavities: a

comprehensive review of the aetiology, diagnostic pointers, and

therapeutic measures. Postgrad Med J, 76(898), 484–487.



3.



Patil, P., & Anand, R. (2011). Nasal Foreign Bodies: A Review of

Management



Strategies



and



a



Clinical



Scenario



Presentation.



Craniomaxillofacial Trauma and Reconstruction, 4(01), 053–058.

30. Figueiredo, R. R., Azevedo, A. A., de Ávila Kós, A. O., & Tomita, S.

(2006). Nasal foreign bodies: description of types and complications in

420 cases. Brazilian Journal of Otorhinolaryngology, 72(1), 18–23.

7.



Trần Trung Kiên, Phạm Minh Pha, & Nguyễn Kim Liên. (2017). Nghiên

cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị dị vật mũi trẻ em tại

bệnh viện sản nhi Cà Mau năm 2015-2106. Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau.



5. Lê Văn Lợi. (2006). Cấp cứu tai mũi họng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,

407-408

6. Lương Sỹ Cần (1992). Những vấn đề cấp cứu tai mũi họng, Nhà xuất bản

Y học, Hà Nội, 46

7. Tian-Tee Ng (2016). 20 ways of removing a nasal foreign body in the

emergency department. Otorhinolaryngology-Head and Neck Surgery,

1(1), 2–6

9.



Trinh Văn Minh. (2004). Giải phẫu người. Nhà xuất bản Y học , Hà Nội,

Tập 1, tr 561.



8.



Frank H.Netter. (2007). Atlas giải phẫu người, Nhà xuất bản Y học, Hà

Nội, 36-98



9.



Phạm Kiên Hữu (2015). Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Mũi Xoang, Đại học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh.



9. Nguyễn Văn Huy (2011). Giải phẫu người. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,

172-176

17. Abou-Elfadl, M., Horra, A., Abada, R.-L., Mahtar, M., Roubal, M., &

Kadiri, F. (2015). Nasal foreign bodies: Results of a study of 260 cases.

European Annals of Otorhinolaryngology, Head and Neck Diseases,

132(6), 343–346.

14. Awad, A., & ElTaher, M. (2018). ENT Foreign Bodies: An Experience.

International Archives of Otorhinolaryngology, 22(02), 146–151.

15. Gregori, D., Salerni, L., Scarinzi, C., Morra, B., Berchialla, P., Snidero,

S., … Passali, D. (2008). Foreign bodies in the nose causing

complications and requiring hospitalization in children 0-14 age: results

from the European survey of foreign bodies injuries study. Rhinology,

46(1), 28.

12. Phạm Khánh Hòa (2010). Cấp cứu tai mũi họng. Nhà xuất bản Y học, Hà

Nội, 25-26

11. Nguyễn Cảnh Hùng. (2005). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và xử trí dị

vật sống thanh, khí quản (con đỉa suối) gặp tại bệnh viện tai mũi họng

trung ương, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, Trường Đại học Y Hà Nội.

18. Kaur, K., Sonkhya, N., & Bapna, A. S. (n.d.). Foreign bodies in the

tracheobronchial tree: A prospective study of fifty cases, 5.

19. Rohit, K., Shivakumar, A. M., Munish, K. S., Kumar, C. M., & Riju, J. J.

(n.d.). Unusual Foreign Bodies of the Nasal Cavity: A Series of Four

Cases, 5.

20. Trần Bá Thái. (2013). Động vật học không xương sống. Nhà xuất bản

Giáo dục, Hà Nơi, Tr 235-241.



21. Lò Thúy n, & Lò Quang Vịnh. (2002). Tình hình dị vật sống ( tắc te)

thanh khí quản gặp tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Sơn La trong 2 năm

2000-2001. Nội san tai mũi họng, số 1, 6–8.

22. Rishi Bhatta, Manita Pyakurel, & Ramesh Parajuli. (2017). Types of

Foreign Body In Ear, Nose And Throat In Western Part Of Nepal. Glob J

Otolaryngol, 4(3), 1–4.

23. MaryAnn DePietro. (2013). Foreign Objects in the Body: Symptoms and

Treatment Options. Healthline. Retrieved September 8, 2018, from

20. Foreign body nose in children presenting at a tertiary care teaching

hospital in Pakistan. (2011). Pakistan Journal of Medical Sciences.

Text.Serial.Journal, 27(1), 124-127

25. Heim, S. W., & Maughan, K. L. (2007). Foreign Bodies in the Ear, Nose,

and Throat. American Family Physician, 76(8), 5.

26. Nguyễn Thị Kim Thoa. (2011). Đặc điểm dịch tễ học dị vật hạt thực vật ở

trẻ em. Y học TP. Hồ Chí Minh, 13(3), 156–159.

27. Chai, C. K. (2012). A Review Of Ear, Nose And Throat Foreign Bodies

In Sarawak General Hospital. A Five Year Experience, 67(1), 4.

22. Dasgupta, K. S., Lanjewar, K. Y., & Joshi, S. V. (2006). Safety pin — The

UNSAFE foreign body of air passage. Indian Journal of Otolaryngology

and Head & Neck Surgery, 58(4), 387–388.

29. Fox, S. (2013). Button Battery Nasal Foreign Body. Pediatric EM

Morsels.

30. Svider, P. F., Sheyn, A., Folbe, E., Sekhsaria, V., Zuliani, G., Eloy, J. A.,

& Folbe, A. J. (2014). How did that get there? A population-based

analysis of nasal foreign bodies: Nasal foreign bodies. International

Forum of Allergy & Rhinology, 4(11), 944–949.



31. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). (2012). Injuries from

batteries among children aged <13 years--United States, 1995-2010.

MMWR. Morbidity and mortality weekly report, 61(34), 661–666.

32. Tanaka, J., Yamashita, M., Yamashita, M., & Kajigaya, H. (1998).

Esophageal electrochemical burns due to button type lithium batteries in

dogs. Veterinary and Human Toxicology, 40(4), 193–196.

24. Thabet, M. H., Basha, W. M., & Askar, S. (2013). Button Battery Foreign

Bodies in Children: Hazards, Management, and Recommendations.

BioMed Research International, 2013, 1–7.

34. P., S. K., V. J., V., N., M., & R., B. (2018). Diagnosis and management of

radio opaque nasal foreign bodies in children. International Journal of

Otorhinolaryngology and Head and Neck Surgery, 4(2), 424.

35. Sharpe, S. J., Rochette, L. M., & Smith, G. A. (2012). Pediatric BatteryRelated Emergency Department Visits in the United States, 1990-2009.

PEDIATRICS, 129(6), 1111–1117.

36. Seth, S., & Kumar, H. (2017). An Interesting Case of Button Battery

causing Septal Perforation. Clinical Rhinology An International Journal,

10(1), 22–24.

25. Leeming, M. N., Ray, C., & Howland, W. S. (1970). Low-Voltage,

Direct-Current Burns. JAMA, 214(9), 1681–1684.

38. Abdulmajid, O. A., Ebeid, A. M., Motaweh, M. M., & Kleibo, I. S.

(1976). Aspirated foreign bodies in the tracheobronchial tree: report of

250 cases. Thorax, 31(6), 635–640.

39. Salih, A. M. (2016). Airway foreign bodies: A critical review for a common

pediatric emergency. World Journal of Emergency Medicine, 7(1), 5.

40. Baranowski, K., & Sinha, V. (2018). Foreign Body, Nose. In StatPearls.

Treasure Island (FL): StatPearls Publishing. Retrieved from

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK459279/

41. Nagendran, T. (n.d.). Management of Foreign Bodies in the Emergency

Department, 11.

35. Cetinkaya, E. A., Arslan, İ. B., & Cukurova, İ. (2015). Nasal foreign bodies

in children: Types, locations, complications and removal. International

Journal of Pediatric Otorhinolaryngology, 79(11), 1881–1885



43. Golding IM. (1965). An unusual cause of bromhidrosis. Pediatrics, 791–792.

44. Kumar, S., & Singh, A. B. (2013). An unusual foreign body in the nose of

an adult. Case Reports, 2013(jun16 1).

45. Pinto, L. S. S., Campagnoli, E. B., de Souza Azevedo, R., Lopes, M. A.,

& Jorge, J. (2007). Rhinoliths causing palatal perforation: case report and

literature review. Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology, Oral

Radiology, and Endodontology, 104(6), e42–e46.

33. Hadi, U. (2002). Rhinolithiasis: A forgotten entity. Otolaryngology Head and Neck Surgery, 126(1), 48–51.

47. Adhikary, B. K., Biswas, S. D., Das, A., & Ghosh, S. K. (2015). Occult

Foreign Bodies in ENT. Bengal Journal of Otolaryngology and Head

Neck Surgery, 23(2), 73–76.

35. Sutton, J. (2014). Surgeons find mystery BULLET in woman’s skull after

she went doctors with headache.

49. Khiếu Hữu Thanh. (2017). Thiết kế "móc chữ U ’ lấy dị vật. Tạp chí tai

mũi họng Việt Nam, 62–36(2), 8.

50. Fundakowski, C. E., Moon, S., & Torres, L. (2013). The Snare Technique: A

Novel Atraumatic Method for the Removal of Difficult Nasal Foreign

Bodies. The Journal of Emergency Medicine, 44(1), 104–106.

51. PK Cheah, & R Ahmad. (2009). Oral bag-valve-mask insufflation

technique to remove unilateral friable nasal foreign body in emergency

department. Malaysian Family Physician, 4(2), 3.

52. Ng, T.-T., & Nasserallah, M. (2017). The art of removing nasal foreign

bodies. Open Access Emergency Medicine, Volume 9, 107–112.

53. Dr David Cheong Cher Chee. (2016). A Narrative Review Of The

Management Of Nasal Foreign Bodies In Children In General Practice.

the singapore family physician, 4, 68–75.

54. Nguyễn Gia Thành. (n.d.). Bài giảng nhi khoa. Nhà xuất bản Y học , Hà

Nội, Tập 1, tr 231.

55. Scholes, M. A., & Jensen, E. L. (2016). Presentation and management of

nasal foreign bodies at a tertiary children’s hospital in an American metro

area. International Journal of Pediatric Otorhinolaryngology, 88, 190–193.



HÌNH ẢNH MINH HỌA



Dị vật pin nằm trong hốc mũi



Dị vật sống (con đỉa suối) nằm

trong khe giữa mũi phải



Hình ảnh biến chứng sưng tấy vùng

mặt trái do dị vật pin ngày thứ 2



Dị vật là hạt nhựa tròn nằm ở sàn

mũi



Hình ảnh thủng vách ngăn mũi do dị vật

pin giờ thứ 7



Dị vật nằm ở hốc mũi trái (phía

trước đầu cuốn giữa)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nghiên cứu của Peter F.Svider cũng cho kết quả tương tự: đại đa số bệnh nhân (96,4%) được lấy dị vật không gây mê, 2,8% đến để được tư vấn y tế, 0,5% nhập viện lấy dị vật dưới gây mê và 0,3% khác được chuyển sang một bệnh viện khác [30].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×