Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.3: Hệ thống nhày lông chuyển [11]

Hình 1.3: Hệ thống nhày lông chuyển [11]

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



hay hỗn hợp cả hai, dịch nhày đổ vào bề mặt niêm mạc qua các ống dẫn.

1.1.1.4. Mạch máu và thần kinh của mũi:





Mạch máu: Hốc mũi được cấp máu bởi 2 động mạch:

Hệ động mạch cảnh trong: Động mạch sàng trước(nhánh của động



mạch mắt) phân nhánh vào phần trước ổ mũi và niêm mạc các xoang trán và

xoang sàng trước.

Hệ động mạch cảnh ngoài: Động mạch bướm – khẩu cái (nhánh của

động mặt hàm trên) và động mạch hầu lên cấp máu cho phần còn lại của ổ mũi





Thần kinh:

Cảm giác chi phối vùng mũi ngửi là các tế bào khứu giác.

Chi phối cảm giác chung là thần kinh hàm trên và thần kinh mắt(các



nhánh của thần kinh sinh ba).

Chi phối giao cảm và đối giao cảm là các nhánh của hạch chân bướmkhẩu cái

1.1.1.5. Giải phẫu xoang [12],

Xoang là những hốc xương rỗng nằm trong khối xương sọ mặt, ở xung

quanh hốc mũi và thông với hốc mũi. Các hốc xương này được lót bởi các lớp

niêm mạc giống như hốc mũi, đó là niêm mạc đường hơ hấp. Ở người trưởng

thành có năm đơi xoang được chia thành hai nhóm:

Nhóm xoang trước: xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước. Các

xoang này được dẫn lưu qua khe mũi giữa của hốc mũi

Nhóm xoang sau: xoang bướm và xoang sàng sau. Các xoang này được

dẫn lưu qua khe trên của hốc mũi

1.1.2. Chức năng chính của hệ thống mũi xoang

- Chức năng thở: đây là chức năng quan trọng nhất, khơng khí trước khi

đến phổi được làm ấm, ẩm nhờ hệ thống mũi xoang. Điều này có tác dụng

bảo vệ đường hô hấp dưới và đảm bảo cho quá trình hơ hấp ở phế nang diễn



15



ra bình thường.

- Chức năng ngửi: Là chức năng riêng biệt của mũi được thực hiện ở

tầng trên của mũi. Các tế bào khứu giác ở đây tập trung tại thành dây khứu

giác, cho cảm giác về mùi.

- Ngoài ra hệ thống mũi xoang còn có vai trò:

+ Phát âm: hệ thống mũi xoang đóng vai trò một hộp cộng hưởng và tham

gia một số âm. Mũi tạo ra âm sắc và độ vang riêng tiếng nói của từng người.

+ Cách âm

+ Làm nhẹ khối xương mặt

1.2. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

1.2.1. Nguyên nhân của dị vật hốc mũi:

Dị vật hốc mũi (DVHM) là một tai nạn và cũng là một cấp cứu tai mũi họng

thường gặp ở trẻ em 2-5 tuổi hoặc những người có kèm bệnh lý về tâm thần.

1.2.1.1.Ở trẻ em

Ở trẻ em, do lứa tuổi này tò mò, thích khám phá mơi trường xung quanh,

chúng có thể đưa bất kì một vật nào đó mà chúng tìm thấy khi chơi vào trong

lỗ mũi, tai hay ngậm vào miệng, thậm chí là nuốt [13],[14],[15].

Bố mẹ hay người trơng trẻ không thể lúc nào cũng quan sát được trẻ

đang làm gì; hơn nữa, tai mũi họng chính là những lỗ hở tự nhiên, chính điều

đó làm gia tăng tỉ lệ DVHM.

1.2.1.2.Ở người lớn

Một số trường hợp DVHM có thể gặp ở người lớn như: một mẩu bông

tẩm thuốc mà bệnh nhân bị để quên trong hốc mũi. ơ

Mặt số các trường hợp khác DVHM ở người lớn có thể gặp ở những

người có bệnh lý về tâm thần hoặc trong tai nạn sinh hoạt, do chiến tranh.

Trong chiến tranh, mảnh đạn, mảnh bom có kích thước nhỏ khi vào đến hốc

mũi thì dừng lại ở hốc mũi trở thành dị vật. ơ

Một số ít các trường hợp khi bệnh nhân ăn, hắt hơi thức ăn từ đó có thể



16



vào hốc mũi [16].

1.2.1.3. Dị vật sống

Có khi là dị vật sống (con tắc te hay còn gọ là con đỉa suối, hoặc cơn

trùng) chui vào sống khí sinh trong mũi khi bệnh nhân tắm ở ao suối hay do

côn trùng bay vào mũi [6],[17],[18],[19].

Con đỉa suối sống trong nước khe, nước máng, nước suối. Khi còn nhỏ

chỉ bé như sợi tóc dài khoảng 1cm, khi trưởng thành có con dài tới trên 10cm,

có hai đầu giác (một to, một nhỏ), chúng có giác thường bám rất nhanh và

chặt vào niêm mạc môi miệng rồi chui vào sống trong khoang mũi họng của

vật chủ [20].

Con đỉa suối như một dị vật hốc mũi sống ký sinh trùng trong đường hô

hấp của con người xảy ra chủ yếu ở các nước trong khu vực Địa Trung Hải,

châu Phi và châu Á. Do sự tiến bộ của vệ sinh và sự phổ biến của việc sử

dụng nước máy ở các nước phát triển, trường hợp mắc dị vật đỉa suối ở mũi

hiếm khi được báo cáo trong những năm gần đây [19].Tuy nhiên ở Việt Nam,

chúng tôi vẫn thường gặp dị vật này ở khu vực miền núi [6],[17],[21].

1.2.2. Cơ chế bệnh sinh và phân loại dị vật mũi:

Tùy vào độ tuổi và đặc điểm từng vùng miền mà có những loại dị vật

khác nhau nhưng hay gặp nhất là các vật có kích thước nhỏ như các loại hạt

nhựa đồ chơi, mảnh nhựa nhỏ, đá, miếng bọt biển, pin cúc áo, hạt ngọc trai

nhựa, các loại hạt giống như đậu, ngơ, thóc …[4],[14],[15],[22],[23],[24].

DVHM có thể phân thành dị vật hữu cơ, dị vật vô cơ và dị vật sống [4],

[15],[22],[23],[24],[25].

-



Dị vật hữu cơ là những dị vật có sự phân hủy chất như các loại hạt: lạc, ngơ,

thóc, hạt na, các loại họ đậu: xanh, đen…khi phát hiện có dị vật, gia đình

người bệnh và ngay cả chính người thầy thuốc nếu khơng có kinh nghiệm, cố

dùng móc, nhíp để lấy dị vật ra tại nhà nhưng vơ tình lại đẩy sâu vào sâu hơn,



17



hoặc cố đẩy chúng xuống cửa mũi sau từ đó có thể dẫn tới nguy cơ dị vật

thanh khí phế quản, gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Mặt khác

những dị vật này có dầu, theo thời gian, chúng nở to ra, bám chặt và gây viêm

loét, trầy sướt vào mạch máu gây chảy máu [24],[26],[27].

-



Dị vật vô cơ: là chất khoáng trơ, kim loại, đồ chơi nhựa, kim băng, viên pin

nhỏ…Loại dị vật này thường khơng có triệu chứng, được khám phá một cách

tình cờ, ít gây viêm nhiễm trừ dị vật sắc gây tổn thương niêm mạc, gây chảy

máu, đặc biệt là gây đau [4],[15],[23].

Trong nhóm này, cần đặc biệt chú ý đến dị vật là pin cúc áo [28],[29],

[30],[31]. Vào năm 1997 và năm 1998 hai nhóm bác sĩ tại Nhật Bản đã tiến

hành nghiên cứu độc lập để tìm hiểu tác hại của dị vật pin bằng cách đưa viên

pin vào thực quản của chó và thỏ. Kết quả thực nghiệm đã chứng minh thấy

tác hại của dị vật khi nằm tại thực quản: chỉ sau 15 - 30 phút viên pin được

đặt vào thực quản đã có hiện tượng hoại tử, phá hủy niêm mạc thực quản, sau

1 giờ tình trạng hoại tử đã lan rộng ra tới bên ngồi thực quản [32].



Hình 1.4: Dị vật pin mới bị và bị lâu ngày gây hoại tử niêm mạc mũi [33]

Phần lớn các loại pin nút ngày nay mang hóa chất có tính chất kiềm. Ba

cơ chế được đề xuất của chấn thương do pin gây ra bao gồm 1) rò rỉ chất điện

phân kiềm ăn da; 2) hoại tử thiếu máu do áp suất trực tiếp; và 3) sản xuất

dòng điện phân bên ngồi thủy phân dịch mơ, tạo hydroxide ở cực âm[34],



18



[35],[36].

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chỉ ra rằng sở dĩ dị vật viên pin

lại gây tổn thương nhanh và nặng đến như vậy là do cơ chế: khi viên pin nằm

lại ở thực quản hay ở mũi, nó vẫn có khả năng hoạt động tức là có một dòng

điện chạy từ cực âm tới cực dương của viên pin. Kết quả cuối cùng là có hiện

tượng kiềm hóa xảy ra tương đối mạnh mẽ ở cực âm của viên pin. Điều này

đưa đến tình trạng giống như bỏng hóa chất kiềm tại thực niêm mạc. Đồng

thời tình trạng của bệnh nhân còn có thể bị nặng hơn do hiện tượng nhiễm độc

kim loại và các hóa chất khác bị rò rỉ ra từ viên pin. Như vậy cơ chế chính

gây ra tổn thương của dị vật viên pin chính là hiện tượng bỏng hóa chất kiềm

[37]. Tình trạng tổn thương nặng hay nhẹ, có hay khơng có biến chứng phụ

thuộc vào những yếu tố sau: thời gian đến viện càng sớm thì càng ít biến

chứng xảy ra, kích cỡ và chủng loại của viên pin (pin Lithium và các loại pin

có đường kính trên 20mm thường dẫn tới những tổn thương nặng hơn), lứa

tuổi của trẻ bị dị vật (những trẻ dưới 4 tuổi thường có tình trạng nặng hơn).

- Ngồi ra, còn có dị vật sống như con tắc te (đỉa sống) chui vào trong

đường thở khi bệnh nhân đi tắm suối hay ao hồ; chúng thường hay kí sinh ở

khí quản, tuy nhiêu khi nó bò lên mũi trở thành dị vật ở mũi [17],[18],[38],

[39]. Một số trường hợp các loại cơn trùng cũng được tìm thấy ở mũi như con

ong, con bọ, con muỗi [19].

1.2.3. Đặc điểm lâm sàng

DVHM thường thấy ở trẻ nhỏ từ 2- 5 tuổi, do trẻ có thích khám phá mơi

trường xung quanh, nhét bất cứ dị vật nào mà chúng thích vào mũi, như: đồ

chơi, khuy áo, hạt cườm, hạt sỏi, mẩu giấy, hạt ngơ, hạt thóc...và nguy hiểm

nhất là dị vật pin. Trẻ thường quên đi và không khai báo, cho đến khi xuất

hiện tình trạng chảy dịch mũi kéo dài, dịch mủ, có mùi hơi, đơi khi có lẫn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.3: Hệ thống nhày lông chuyển [11]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×