Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mật độ tuyến vú ở góc phần tư trên ngoài là cao nhất do đó tỷ lệ hay gặp ung thư vú tại vị trí này thường cao hơn các vị trí khác. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận kết quả tương tự, theo Nguyễn Nhật Tân (2004), Hoàng Anh Dũng (2014), Nguyễn Thị Thủy (201

Mật độ tuyến vú ở góc phần tư trên ngoài là cao nhất do đó tỷ lệ hay gặp ung thư vú tại vị trí này thường cao hơn các vị trí khác. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận kết quả tương tự, theo Nguyễn Nhật Tân (2004), Hoàng Anh Dũng (2014), Nguyễn Thị Thủy (201

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



trung bình là 53,8mm [9]. Kích thước u là một yếu tố tiên lượng độc lập

trong ung thư vú, nghiên cứu của Koscielny và cs ở Viện Gustave- Roussy

đã chứng minh rằng kích thước u càng lớn, khả năng di căn càng nhi ều,

tiên lượng càng xấu [66].

Trong nghiên cứu của chúng tôi gặp 3 bệnh nhân ung th ư vú th ể viêm,

chiếm 5,6%, cao hơn của tác giả Lê Thanh Đ ức (chiếm 0,7%) [62]. M ặc

dù được xếp vào giai đoạn III nhưng UTV th ể viêm là th ể đ ặc bi ệt v ới

đặc tính xâm nhập lan tỏa theo các ống tuyến hơn là phát triển thành

khối u rõ rệt. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng dựa vào đỏ da và phù da cam.

Bệnh nhân UTV thể viêm thường có tiên lượng xấu, bệnh s ớm tái phát

và di căn xa, thời gian sống thêm trung bình ngắn.

4.1.6. Đặc điểm hạch trên lâm sàng

Trong 54 BN nghiên cứu, có 51 BN sờ thấy hạch nách (chiếm

94,4%) trong đó có 49 BN hạch dính nhau hoặc cố định (chiếm 96,1%).

Với đặc điểm kích thước u ngun phát trong nghiên cứu lớn (trung bình

4,5cm), có thể lý giải vì sao tỷ lệ di căn hạch nách cao. Năm 1989, Carter và

cs tổng kết trên 24740 bệnh nhân UTV ghi nhận thấy tỷ lệ di căn hạch

nách tăng tỷ lệ thuận với kích thước u. Với kích thước u <0,5cm, tỷ lệ di

căn hạch nách 20,6%. Khi kích thước u tăng lên >5cm, tỷ lệ bệnh nhân di

căn hạch nách lên tới 70,1% [67].

Có 3 bệnh nhân trong nghiên cứu di căn hạch th ượng đòn cùng bên,

chiếm tỷ lệ 5,6%. Nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ di căn hạch th ượng đòn

thấp hơn nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Đức, tỷ lệ này 16,8% [62], tuy

nhiên tương đồng với nghiên cứu của Favret và cs (2001) 6,3% [61]. Di

căn hạch thượng đòn là yếu tố tiên lượng xấu hơn so với di căn h ạch

nách đơn thuần, tuy nhiên vẫn tốt hơn giai đoạn di căn xa nên di căn

hạch thượng đòn vẫn được xếp vào giai đoạn III. Di căn hạch vú trong và



63



hạch hạ đòn cũng có thể gặp trong UTV, tuy nhiên th ường ít phát hi ện

được trên lâm sàng. Trong nghiên cứu chúng tôi không g ặp tr ường h ợp

nào khám thấy các nhóm hạch này trên lâm sàng.

4.1.7. Giai đoạn bệnh

Trong nghiên cứu tất cả BN đều ở giai đoạn III, trong đó đa số bệnh

nhân ở giai đoạn IIIA, chiếm tỷ lệ 72,2%. Giai đoạn IIIB, IIIC l ần l ượt

22,2% và 5,6%. Nguyễn Thị Thủy (2016), nghiên cứu trên 59 BN UTV

giai đoạn III, cho kết quả gần tương tự chúng tơi, nhóm BN giai đo ạn IIIA

chiếm đa số với 55,9%, giai đoạn IIIC chỉ chiếm 6,8% [9]. Nghiên c ứu

của Lê Thanh Đức trên BN UTV giai đoạn III, không m ổ đ ược tại bệnh

viện K giai đoạn 2003-2005, cho thấy giai đoạn muộn h ơn c ủa chúng tôi

với tỷ lệ BN giai đoạn IIIA, IIIB, IIIC tương ứng là 13,5%, 31,1%, 55,4%

[68].

4.1.8. Mô bệnh học

 Loại mô bệnh học

Trong nghiên cứu, ung thư biểu mô thể ống xâm nhập hay gặp nhất

chiếm tỷ lệ 88,9%, thể tiểu thùy xâm nhập chỉ gặp 9,3%, có 1 bệnh nhân

ở thể nhầy, khơng có trường hợp nào thể tủy gặp trong nghiên cứu. Nhìn

chung, phân bố loại mơ bệnh học khơng có sự khác bi ệt l ớn so v ới các

nghiên cứu trong và ngoài nước . Kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Tờ,

phân bố loại mô bệnh học trên 2207 bệnh nhân UTV thì tỷ lệ UTBM ống

xâm nhập chiếm 79%, thể tiểu thùy xâm nhập 2,9%, th ể nhầy 2,3% và

một số loại hiếm gặp khác [69]. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà

(2004) cho thấy UTBM ống xâm nhập chiếm tỷ lệ cao nh ất (87,1%), sau

đó là UTBM tiểu thùy xâm nhập (6,5%), các loại khác chi ếm t ỷ lệ th ấp

[70]. Nguyễn Thị Thủy (2016) ghi nhận ung thư biểu mô th ể ống xâm

nhập hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 93,2%, thể tiểu thùy xâm nhập ch ỉ g ặp



64



5,1% [9]. Theo nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài, UTBM th ể ống

xâm nhập chiếm khoảng 75%, UTBM thể tiểu thùy xâm nhập chi ếm 510% [71].





Độ mô học

Độ mô học là một yếu tố tiên lượng bệnh quan trọng bệnh, trên thế



giới nhiều hệ thống chia độ mô học khác nhau. Tuy nhiên, hiện tại phân

loại theo Scarff-Bloom-Richardson [26] dựa vào 3 yếu tố: sự hình thành

ống nhỏ, mức đa hình thái nhân và ho ạt đ ộng nhân chia là h ệ th ống

phân loại được áp dụng rộng rãi nh ất. Trong nghiên c ứu c ủa chúng tôi,

độ mô học 2 hay gặp nhất với tỷ lệ 63,0%. Kết qu ả c ủa chúng tôi t ương

tự với nhiều nghiên cứu trong n ước. Tạ Văn T ờ (2004) nghiên c ứu trên

2207 trường hợp ung th ư vú được đi ều tr ị t ại b ệnh vi ện K cho th ấy đ ộ

mô học 2 chiếm 71,4%, độ mô học 3 chi ếm 16,4% và đ ộ mô h ọc 1 ch ỉ

chiếm 12,2% [69]. Nghiên cứu của Hoàng Anh Dũng (2014), nghiên c ứu

trên các BN điều trị bổ trợ tr ước giai đo ạn II, đ ộ mô h ọc 2 cũng chi ếm

tỷ lệ cao nhất (75,6%) [63]. Độ mơ học có vai trò quan trọng trong tiên

lượng bệnh, theo Tạ Văn T ờ tỷ lệ sống thêm 5 năm gi ảm d ần theo đ ộ

mô học 1 là 82,5%, độ mô học 2 là 66,5% và độ 3 là 19,2% (p <0,0001)

[69]. Khi so sánh với một số tác giả khác trên thế giới chúng tôi ghi nhân

thấy độ mô học các nghiên cứu này cao hơn so với kết quả c ủa chúng tôi.

Contesso và cs (1987) cho thấy 17% u có độ mơ h ọc 1, có 37% u đ ộ mô

học 2, và 46% là độ 3 [72]. Năm 1993, Elston và cs nghiên cứu thấy độ

mô học 1, 2, 3 chiếm tỷ lệ lần lượt 19%, 34% và 47% [13]. Kết quả này

cho thấy có sự khác nhau về đặc điểm sinh học gi ữa các quần th ể bệnh

nhân UTV trong nước và ngoài nước.

4.1.9. Các đặc điểm hóa mơ miễn dịch

 Tình trạng thụ thể nội tiết



65



Tình trạng thụ thể nội tiết là một trong các yếu tố tiên lượng đ ộc

lập trong UTV, các BN có thụ thể nội tiết âm tính liên quan đ ến tiên

lượng bệnh xấu hơn so với nhóm có thụ thể nội tiết dương tính. Đ ể xác

định được tình trạng thụ thể thể nội tiết cần làm xét nghiệm hóa mơ

miễn dịch, BN dương tính với một hoặc hai dấu ấn ER và PR đ ược x ếp

vào nhóm thụ thể nội tiết dương tính. Trong nghiên cứu của chúng tơi có

51,1% BN có thụ thể nội tiết dương tính, 48,1% có th ụ th ể nội ti ết âm

tính. Tỷ lệ thụ thể nội tiết âm tính của chúng tô i cao hơn so với nghiên

cứu của Tạ Văn Tờ (36,6%) [69], tuy nhiên lại tương đồng với nghiên cứu

của Nguyễn Thị Thủy (50,8%) [9]. Điều này có thể giải thích do nhóm BN

nghiên cứu của chúng tôi và Nguyễn Thị Thủy, đều là những BN UTV điều

trị bổ trợ trước với đặc điểm bệnh tiến triển tại chỗ, tại vùng, trong khi

Tạ Văn Tờ nghiên cứu trên quần thể UTV chung. Do đó tỷ lệ thụ thể nội

tiết âm tính trong nghiên cứu của chúng tơi và Nguyễn Thị Thủy (2016) cao

hơn là phù hợp với đặc điểm tiên lượng xấu hơn ở nhóm này.





Tình trạng Her2

Thụ thể yếu tố phát triển biểu mô Her2 là một thụ thể tyrosin



kinase, dương tính trong khoảng 20-25% bệnh nhân UTV [35], [69]. Her2 dương tính liên quan đến bệnh có tiên l ượng x ấu và là y ếu t ố quy ết

định đến việc điều trị với các thuốc điều trị đích. Trong nghiên c ứu c ủa

chúng tơi có 24,1% bệnh nhân có Her-2 dương tính, thấp h ơn nghiên c ứu

của tác giả Lê Thanh Đức, tỷ lệ này là 45,2% [62]. Tỷ lệ này thấp hơn có

thể do trong nghiên cứu của chúng tơi có 5 tr ường h ợp Her2 khơng rõ,

tuy nhiên không làm thêm xét nghiệm FISH do bệnh nhân không có điều

kiện điều trị thuốc đích trastuzumab.

 Phân loại dưới nhóm sinh học phân tử theo St Gallen



66



Những tiến bộ về sinh học phân tử phân chia UTV thành các phân

nhóm bệnh học giúp ích rất nhiều điều trị và tiên lượng bệnh nhân.

Điển hình là việc phân chia phân nhóm bệnh học theo St Gallen, mặc dù

có một số thay đổi qua các năm 2011, 2013, 2015, tuy nhiên thống nhất

chung vẫn là phân thành 4 nhóm chính như đã trình bày. Mỗi nhóm theo

phân loại này sẽ có đặc điểm sinh học, tiên lượng và tiên đoán đáp ứng

với phương pháp điều trị khác nhau. Trong nghiên cứu của chúng tơi,

nhóm bộ ba âm tính thường hay gặp nhất, chiếm 25,9%. Nghiên cứu của

chúng tôi trên các BN bệnh đã tiến triển tại chỗ tại vùng vì thế nhóm bộ

ba âm tính chiếm tỷ lệ cao nhất hồn toàn phù hợp với đặc điểm tiên

lượng xấu, tiến triển nhanh của nhóm này [73]. Kết quả này tương tự

nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy (2016), trên 59 BN UTV giai đoạn III, tỷ

lệ gặp nhóm bộ ba âm tính theo phân loại của St Gallen cũng cao nhất

(32,2%) [9].



67



4.2. Đáp ứng và một số yếu tố liên quan tới đáp ứng

4.2.1. Đáp ứng

4.2.1.1. Đáp ứng lâm sàng

Trước đây có nhiều lo ngại về điều trị hóa chất tân bổ tr ợ, do sẽ làm

chậm thời gian BN được điều trị các phương pháp tại ch ỗ, tại vùng

(phẫu thuật, xạ trị), nếu bệnh tiến triển di căn xa sẽ làm mất đi c ơ h ội

điều trị triệt căn cho bệnh nhân. Tuy nhiên gần đây, quan đi ểm UTV là

bệnh lý toàn thân được chấp nhận rộng rãi, do đó các ph ương pháp đi ều

trị tồn thân mà cơ bản là hóa trị đóng góp vai trò ngày càng quan trọng.

Nhiều nghiên cứu đã chứng mình hóa trị bổ trợ trước đem lại l ợi ích

sống thêm khơng thua kém đối với hóa trị bổ tr ợ sau [3]. Mặt khác hóa

trị bổ trợ trước còn có một số mặt lợi thế hơn hóa trị bổ trợ sau nh ư

giúp chuyển BN từ giai đoạn khơng có khả năng phẫu thuật thành có th ể

phẫu thuật, tăng tỷ lệ bệnh nhân được phẫu thuật bảo tồn, đ ồng th ời có

thể đánh giá đáp ứng của khối u với hóa chất. Với ung th ư vú là bệnh lý

khá nhạy cảm với hóa chất với tỷ lệ đáp ứng toàn bộ dao đ ộng t ừ 6090% [8], [43], [51], [53] do đó hóa trị bổ tr ợ tr ước đ ược áp d ụng r ộng

rãi, đặc biệt đối với những BN tiến triển tại chỗ tại vùng không ph ẫu

thuật được ngay thời điểm chẩn đốn. Có rất nhiều các phác đồ đã đ ược

nghiên cứu để áp dụng cho điều trị tân bổ trợ, trong đó các phác đồ d ựa

trên nền tảng anthracyclin và taxan đem lại tỷ lệ đáp ứng cao nhất [51],

[74]. Đồng thời với đó việc chuyển từ phác đồ 3 tuần sàng phác đ ồ 2

tuần (liều dày) được chứng minh mang lại tỷ lệ đáp ứng cao h ơn [5],

[75], đặc biệt là rút ngắn được thời gian bệnh nhân được điều trị với các

phương pháp tại chỗ, tại vùng (phẫu thuật và x ạ trị) . Các lo ngại v ề đ ộc

tính của phác đồ liều dày, đặc biệt là hạ bạch cầu trung tính cũng ít h ơn

do việc tiếp cận với thuốc dự phòng hạ bạch cầu G-CSF dễ dàng h ơn.



68



Tất cả BN trong nghiên cứu được đánh giá đáp ứng trên lâm sàng

bằng cách đo kích thước lớn nhất của u và hạch. Đây là cách làm đ ơn

giản dễ thực hiện ở đa số các nghiên cứu trong và ngoài nước. Hệ th ống

đánh giá trước đây sử dụng hệ thống đánh giá đáp ứng lâm sàng kh ối u

đặc theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Đến năm 2000,

tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng cho khối u đặc (RECIST) ra đ ời s ử d ụng

đường kính lớn nhất của tổn thương thay vì đo hai đ ường kính l ớn nh ất

theo tiêu chuẩn của WHO. Phương pháp đánh giá m ới này đ ược coi là

đơn giản, dễ thực hiện và là công cụ được sử dụng th ường xuyên trong

các thử nghiệm lâm sàng từ đó cho đến nay [76].

Trong nghiên cứu của chúng tôi sau 4 đợt điều tr ị AC (doxorubicin

và cyclophosphamide), ghi nhận có 3 bệnh nhân đạt được đáp ứng hoàn

toàn trên lâm sàng (5,6%), đáp ứng một phần là 90,7%, có 2 tr ường h ợp

bệnh ổn định, khơng có trường hợp nào tiến triển; kích thước u giảm

còn gần một nửa so với trước khi điều trị (kích thước u trung bình tr ước

điều trị là 4,54cm, sau 4 đợt là 2,12cm, với p<0,001). So sánh v ới nghiên

cứu của Nguyễn Thị Thủy cũng sử dụng phác đồ 4AC-4T nh ưng v ới chu

kì 3 tuần, sau 4 đợt điều trị với doxorubicin và cyclophosphamide ghi

nhận tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 11,9%, đáp ứng 1 phần là 83% [9]. K ết

quả này cũng gần tương đương với kết quả của chúng tôi. Nghiên cứu

của tác giả Lê Thanh Đức (2006) điều trị hóa chất trước phẫu thuật CAF

3 chu kỳ hoặc AC 3 chu kỳ cho thấy tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn lần l ượt là

11,4% và 10%; đáp ứng toàn bộ là 79,5% và 73,3% [68]. Tỷ lệ này thấp

hơn nghiên cứu của chúng tơi, có lẽ do các bệnh nhân này ch ỉ đ ược đi ều

trị 3 chu kỳ hóa chất. Anthracyclin là hóa chất đóng vai trò nền tảng

trong cả điều trị bổ trợ trước và sau phẫu thuật của BN UTV. Năm 1978,

De Lena và cs tiến hành nghiên cứu trên 110 bệnh nhân UTV giai đo ạn



69



T3b-T4, sử dụng phác đồ AV (Adriamycin- Vincristin) x 4 chu kỳ b ổ tr ợ

trước cho thấy tỉ lệ đáp ứng tới 70%, trong đó đáp ứng hồn tồn

(ĐƯHT) 15,5%, đáp ứng một phần 54,5% [40]. Tỷ lệ đáp ứng hoàn tồn

của bệnh nhân sau 4 đợt hóa trị AC trong nghiên cứu c ủa chúng tôi th ấp

hơn so với tác giả De Lena, có lẽ do trong nghiên cứu của chúng tơi bệnh

nhân có kích thước u lớn hơn. Nghiên cứu của Esserman và cs (2001)

điều trị hóa chất bổ trợ AC 4 chu kỳ với liều lượng tương t ự, chu kì 3

tuần trên 33 bệnh nhân UTV cho thấy tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn 27%, cao

hơn nghiên cứu của chúng tôi sau điều trị 4 chu kỳ hóa ch ất. Có s ự khác

biệt này do nhóm bệnh nhân của chúng tơi đều ở giai đoạn III, muộn

hơn so với nghiên cứu của tác giả Esserman gồm cả BN giai đoạn II và III

[77].

Sau 8 đợt hóa chất với phác đồ 4AC-4T chu kì 2 tuần, chúng tơi ghi

nhận tỷ lệ đáp ứng tồn bộ trên lâm sàng là 98,1%, trong đó đáp ứng

hồn tồn là 27,8%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với

nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy (2016) sử dụng phác đồ tương tự

nhưng với chu kì 3 tuần, với tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên lâm sàng là

25,4%, tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 96,6% [9]. Mặc dù tỷ lệ đáp ứng lâm

sàng cao hơn không nhiều nhưng cũng phần nào cho thấy hiệu quả của

phác đồ liều dày so v ới phác đ ồ tiêu chu ẩn. So sánh v ới các phác đ ồ

khác, chúng tôi ghi nh ận t ỷ l ệ đáp ứng c ủa chúng tôi cao h ơn. Tác giả

Lê Thanh Đức (2014), nghiên c ứu trên 137 b ệnh nhân UTV giai đo ạn

III không phẫu thuật đ ược, đi ều tr ị hóa ch ất b ổ tr ợ tr ước phác đ ồ AP

6 chu kỳ tại bệnh viện K, k ết qu ả đáp ứng toàn b ộ đ ạt 92%, trong đó

31,4% đáp ứng hồn tồn và 60,6% đáp ứng m ột ph ần [62]. Nghiên

cứu của Evans và cs năm 2005 trên 363 b ệnh nhân UTV có kh ối u ≥

3cm, thể viêm hoặc tiến tri ển t ại ch ỗ. Các b ệnh nhân này đ ều đ ược



70



điều trị hóa chất bổ tr ợ tr ước 6 chu kỳ v ới DoxorubicinCyclophosphamid (AC) ho ặc Doxorubicin- Docetaxel (AD). Đáp ứng

toàn bộ trên lâm sàng đối với nhóm điều trị 6 chu kỳ AC và 6 chu kỳ AD

lần lượt là 61% và 70% [78], đều thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi.

Phác đồ 4AC-4T là phác đồ sử dụng tuần tự hai nhóm hóa ch ất n ền

tảng trong UTV là anthracyclin và taxan. Nhiều nghiên c ứu đã ch ứng

minh hiệu quả điều trị khi phối hợp anthrcyclin với taxan tuần t ự thay vì

sử dụng đồng thời. Nghiên cứu pha III với 913 bệnh nhân UTV giai đoạn

T2-3, N0-2, M0 so sánh hiệu quả của phác đồ 4AC-4 docetaxel v ới phác

đồ ADOC. Kết quả nghiên cứu cho thấy phác đồ 4AC-4docetaxel tăng t ỷ

lệ đáp ứng lâm sàng so với phác đồ ADOC (85% so v ới 75,2%, p<0,001)

[51]. Nghiên cứu mới được công bố năm 2017 của Vriens trên 201 BN

UTV cũng đưa ra kết quả tương tự. Nhóm BN điều trị phác đ ồ tu ần t ự

4AC-4T cho thời gian sống thêm cao hơn so với nhóm BN s ử dụng đ ồng

thời nhóm anthracyclin và taxan bằng phác đồ TAC 6 chu kì [79].

Hiệu quả của đáp ứng lâm sàng trong điều trị bổ trợ tr ước ung th ư

vú còn được thể hiện qua tỷ lệ BN chuyển được từ giai đoạn không m ổ

được sang phẫu thuật được. Trong nghiên cứu của chúng tơi chỉ có 1 BN

khơng thể phẫu thuật được do bệnh tiến triển, còn lại 98,1% BN đ ạt

được đáp ứng và chuyển được sang giai đoạn có th ể ph ẫu thu ật đ ược.

Kết quả này một lần khẳng định vai trò của phác đồ 4AC-4T chu kì 2

tuần trong điều trị bổ trợ trước. Các nghiên cứu khác tỷ lệ chuy ển được

sang phẫu thuật đều thấp hơn của chúng tôi. Nguy ễn Th ị Th ủy (2016)

sử dụng phác đồ tương tự chúng tôi nhưng điều trị với chu kì 3 tuần, t ỷ

lệ này là 96,6% [9], Lê Thanh Đức (2014) ghi nhận tỷ lệ này là 94,2%

[62]. Perloff và cs (1988) nghiên cứu trên 113 bệnh nhân UTV giai đoạn III

điều trị hóa chất bổ trợ trước 3 chu kỳ phác đồ CAFVP (Cyclophosphamid-



71



Adriamycin- 5FU- Vincristin- Prednisolon), tỷ lệ không mổ được sang mổ

được đạt 81% [40].

4.2.1.2. Đáp ứng mô bệnh học

Đánh giá đáp ứng về mơ bệnh học có ý nghĩa rất quan tr ọng trong

điều trị bổ trợ trước ung thư vú. Tuy nhiên có rất nhiều hệ th ống phân

loại về đáp ứng mô bệnh học trên thế giới, với nhiều định nghĩa khác

nhau về đáp ứng hồn tồn về mơ bệnh học. Trong đó hệ thống phân

loại của Chevallier được sử dụng rộng rãi [30]. Một số nghiên c ứu g ần

đây thống nhất đưa ra tiêu chuẩn đáp ứng hồn tồn về mơ bệnh h ọc

(pCR) gồm những BN ở nhóm 1 (biến mất hồn tồn tế bào ung th ư t ại

mơ vú và hạch ) và nhóm 2 (còn tổ chứng ung th ư tại ch ỗ) theo phân loại

của Chevallier, hay nói cách khác: pCR là khơng còn tổ ch ức ung th ư xâm

nhập sau điều trị ở cả mô vú và hạch. Dưới đây là một số nghiên c ứu

ủng hộ quan điểm này. Nghiên cứu cơng bố năm 2014, phân tích g ộp trên

11955 bệnh nhân UTV điều trị bô trợ trước, nhằm đưa ra tiêu chuẩn xác

định pCR. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm BN ypT0-ypN0 và ypTisypN0 có thời gian sống thêm cao hơn nhóm BN ypT0/is, trong khi 2

nhóm BN ypT0-ypN0 và ypTis-ypN0 không khác biệt về th ời gian s ống

thêm khơng bệnh cũng như sống thêm tồn bộ. Kết luận c ủa nghiên c ứu

đã đưa ra tiêu chuẩn đạt được pCR là khơng còn tổ chức ung th ư xâm

nhập trên cả mô vú và hạch (ypT0/is-ypN0) [31]. Một nghiên c ứu khác

của trường đại học M.D Anderson tại bang Texas Hoa Kì, cơng b ố năm

2007, cũng ghi nhận khơng có sự khác biệt trong s ống thêm c ủa nhóm

còn ung thư tại chỗ sau điều trị so với nhóm biến mất hồn tồn tổ ch ức

ung thư tại cả mô u và hạch [80]. Trên tạp chí “Annals of surgical

oncology” năm 2012, đưa ra đồng thuận quốc tế thống nh ất tiêu chu ẩn

đáp ứng hồn tồn về mơ bệnh học là khơng còn t ổ ch ức ung th ư xâm



72



nhập tại mô vú và hạch [81]. Trong nghiên cứu của chúng tôi l ấy tiêu

chuẩn này để đánh giá đáp ứng trên mơ bệnh học.

Vai trò của đánh giá đáp ứng trên mô bệnh học v ới nh ững BN UTV

điều trị bổ trợ trước là cực kỳ quan trọng. Với những BN đ ạt đ ược pCR

có thời gian sống thêm cao hơn rõ rệt với nhóm khơng đạt đ ược pCR

[31], [35]. Vì thế pCR được coi là một yếu tố tiên l ượng cho BN UTV và là

tiêu chí để so sánh hiệu quả của các phác đồ hóa trị. Trong nghiên c ứu

của chúng tơi, có 18 BN đạt được pCR (nhóm 1 và nhóm 2 theo phân lo ại

Chevallier) chiếm 33,3%, nếu lấy tiêu chuẩn pCR chỉ g ồm nhóm 1 theo

phân loại Chevallier thì tỷ lệ này giảm xuống còn 27,8% . Đây là t ỷ l ệ đáp

ứng hồn tồn về mơ bệnh học khá cao khi so sánh v ới các nghiên c ứu

khác. So sánh với phác đồ 4AC-4T chu kì 3 tuần của Nguyễn Th ị Thủy

(2016), và Hong (2013), tỷ lệ đạt pCR tương ứng là 18,6% và 18,9% [8],

[9],. Nghiên cứu của Vriens và cs công bố năm 2017, tỷ lệ pCR của nhóm

BN điều trị phác đồ 4AC-4Docetaxel chu kì 3 tuần là 28%, k ết qu ả này

cao hơn của Nguyễn Thị Thủy (2016) và Hong (2013) tuy nhiên v ẫn

thấp hơn kết quả của chúng tôi [79]. Từ những so sánh trên khẳng đ ịnh

vai trò của phác đồ liều dày (chu kì 2 tuần) so với phác đ ồ tiêu chu ẩn

(chu kì 3 tuần). Khi so sánh với các phác đồ hóa ch ất khác cũng đi ều tr ị

với chu kì 2 tuần, phác đồ 4AC-4T trong nghiên c ứu c ủa chúng tôi v ẫn

chứng minh được ưu thế. Nghiên cứu GeparDuo (2009), sử dụng phác đồ

liều dày doxorubicin kết hợp docetaxel trong 4 chu kì cho tỷ l ệ đáp ứng

hồn tồn về mơ bệnh học chỉ 7% [51]. Tỷ lệ đạt pCR của phác đồ ph ối

hợp epirubicin và paclitaxel chu kì 2 tuần trong th ử nghiệm lâm sàng

AGO-1 là 18%, thấp hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi [50].

Phác đồ liều dày ban đầu được sử dụng trong điều trị bổ tr ợ cho

những bệnh nhân nguy cơ tái phát cao sau phẫ thuật, do ch ứng minh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mật độ tuyến vú ở góc phần tư trên ngoài là cao nhất do đó tỷ lệ hay gặp ung thư vú tại vị trí này thường cao hơn các vị trí khác. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận kết quả tương tự, theo Nguyễn Nhật Tân (2004), Hoàng Anh Dũng (2014), Nguyễn Thị Thủy (201

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×