Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết quả điều trị chung

Kết quả điều trị chung

Tải bản đầy đủ - 0trang

42



Phân tích kết quả điều trị chung cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân khỏi bệnh và đỡ

là 95,9%, rất ít bệnh nhân nặng lên 4.1%, khơng có bệnh nhân nào tử vong.

3.2.2. Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng theo tải lượng virus

Bảng 3.18. Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng

Tải lượng vi rút (bản sao/ml)

< 5000



Chỉ tiêu

Trung bình



(n=15)



5000

-<1000

(n=7)



Thời gian hết sốt



6.7 ± 1,9



5.2 ± 1,4



Thời gian hết khó thở



17 ± 6,3



8.2 ± 4,3 15.8 ± 7.4



9.8 ± 2.7



3.4 ± 2.1



6.7 ± 3.5



8.9 ± 5,2

9.5 ± 2.1



4.9 ± 3,2

0



8,1 ± 4.3

0



Thời gian hết

RLLN

Ngày thở oxy

Ngày thở máy (n=3)



6,5 ± 2,5



P

≥ 10.000

(n=26)

8.7 ± 2,9

24.2 ±

12,9

18.2 ±

11,2

15.8 ± 11

9.5 ± 2.1



Tstudent

test

0,37

0,02

0,043

0,045



Phân tích kết quả điều trị cho thấy thời gian nằm viện trung bình là 22,05

± 19,3 ngày, thời gian hết khó thở trung bình là 17 ± 6,3 ngày, Thời gian hết

RLLN trung bình là 9.8 ± 2.7 ngày. Ngày thở oxy trung bình là 8.9 ± 5,2,

khơng có bệnh nhân nào tử vong trong nhóm nghiên cứu.

Thời gian hết sốt trung bình là 6.7 ± 1,9 ngày, có 3 bệnh nhân phải thở

máy, số ngày thở máy trung bình là 9.5 ± 2.1 ngày . Khi so sánh các đặc điểm

điều trị theo tải lượng virus thì có sự thay đổi tải lượng virus càng cao thì số

ngày thở oxi , thời gian hết rút lõm lồng ngực càng cao (p<0.05 T-student test).

3.2.3. Mối liên quan giữa tải lượng virus và số ngày điều trị

Copy/ml



43



ngày



Biểu đồ 3.4. Liên quan giữa tải lượng virus và số ngày điều trị

Kết quả nghiên cứu theo (biểu đồ 3.4) ta thấy tải lượng virus càng

cao thì thời gian điều trị càng dài, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

(r=0.12, p=0.035)



44



3.2.4. Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng với mức độ viêm phổi

Bảng 3.19. Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng

Chỉ tiêu

Thời gian hết sốt

Thời gian hết khó thở

Ngày thở oxy

Ngày thở máy (n=3)

Ngày điều trị



Viêm phổi



Viêm phổi nặng



P



(n=33)

6.2 ± 1,3

7.2 ± 4,3

3.5 ± 2,2

0

18,9 ± 13,4



(n=40)

7.7 ± 2,1

18.2 ± 8,9

16.8 ± 11.2

9.5 ± 2.1

32,1 ± 11,5



T-student test



0,37

0,02

0,005

0,046



3.2.5. Sự thay đổi tải lượng vi rút, bạch cầu, hemoglobin trong quá trình

điều trị

Biểu đồ 3.5 Sự thay đổi về tải lượng vi rút, bạch cầu, hemoglobin trong quá

trình điều trị (n=30)

Nhìn vào biểu đồ ta thấy tải lượng virus giảm dần còn nồng độ huyết sắc

tố tăng dần khi điều trị.

3.2.6. Sự thay đổi của hình ảnh X quang trong quá trình điều trị

Bảng 3.20. Sự thay đổi của hình ảnh X quang trong quá trình điều trị

Chỉ tiêu



Sau 1 tuần



Sau 2 tuần



Ra viện



7 (9.6%)



5 (6.8%)



0



Đỡ



12 (16.4%)



34 (46.6%)



51 (69.9%



Không đổi



54 (74.0%)



31 (42.5%)



7 (9.6%)



0



3 (4.1%)



15 (20.5%)



Nặng lên



Hết tổn thương



Bảng trên cho thấy:,69.9% trường hợp đỡ sau khi điều trị, 20.5 % trường

hợp hết tổn thương, 9.6% trường hợp khơng có thay đổi sau khi điều trị,

khơng có trường hợp nào nặng lên.

3.2.7. Sự thay đổi về huyết học trước và sau điều trị



45



Bảng 3.21. Sự thay đổi về huyết học trước và sau điều trị

Chỉ tiêu

nghiên cứu



p



Trước



1 tuần



Ra viện



Bạch cầu



8.7 ± 3.1



7.2±2.5



7.6±2.2



0.32



Tiểu cầu



198±89



215±119



214±202



0.19



Hemoglobin



9.8±3.4



10.7±5.6



11.2±4.7



0.015



T-student test



Kết quả nghiên cứu theo (bảng 3.21) cho thấy khơng có sự thay đổi về

số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong quá trình điều trị. Hemoglobin tăng dần

sau khi được điều trị (P<0.05 T-student test)

3.2.8. Sự thay đổi về men gan trong quá trình điều trị



Biểu đồ 3.6. Sự thay đổi men gan trong quá trình điều trị

Nồng độ men gan có xu hướng giảm dần trong quá trình điều trị , tuy

nhiên sự thay đổi này khơng có ý nghĩa thống kê với (P>0.05 T-student test)



46



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của VP có nhiễm CMV



4.1.1. Phân bố viêm phổi có nhiễm CMV theo tuổi

Kết quả nghiên cứu thể hiện ở (bảng 3.1) cho thấy lứa tuổi 2-12 tháng

tuổi hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 57,5%, đồng thời đây cũng là lứa tuổi hay phải

nhập viện nhiều nhất. Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả trong nước và

thế giới.

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Khúc Văn Lập tại Bệnh viện Nhi

Trung ương năm 2009 về đặc điểm lâm sàng của bệnh do CMV tác giả thấy

rằng: độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 9,44 ± 21,27 tháng, nhóm tuổi gặp

nhiều nhất là dưới 12 tháng tuổi (85,98%), tiếp theo là nhóm 1-5 tuổi

(10,19%), tuổi ít gặp nhất là nhóm 10-15 tuổi (1,27%) [23].

Phân tích sự phân bố theo nhóm tuổi của 246 bệnh nhân nghiên cứu cho

thấy lứa tuổi nhỏ nhất là trên 1 tháng tuổi và lứa tuổi cao nhất trong nghiên

cứu của chúng tôi là 14 tháng tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm trẻ từ 2 - <6

tháng tuổi với 60,98%.

Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Mai Thanh về tình hình dịch tễ và các

đặc điểm lâm sàng bệnh , cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm phổi có nhiễm

CMV tại viện Nhi Trung ương 2010-2012 cho thấy : trong số 246 bệnh nhân

nghiên cứu lứa tuổi nhỏ nhất là trên 1 tháng tuổi và lứa tuổi cao nhất trong

nghiên cứu là 14 tháng tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm trẻ từ 2 - <6 tháng

tuổi với 60,98% [32].

Avila – Aguero ML: tuổi trung bình 11.5 tháng (0.3-132 tháng) [33].

Sun X: lứa tuổi nhiễm CMV cao nhất là dưới 6 tháng tuổi [34].



47



Tuy nhiên theo tác giả Restrepo-Gualteros. khi nghiên cứu 15 trẻ viêm

phổi khơng nhiễm CMV 2014 tuổi trung bình mắc bệnh là 3 tuổi, lứa tuổi

thấp nhất là 1 tháng tuổi [35].

Để giải thích cho sự khác biệt về tuổi mắc bệnh của VP có nhiễm CMV

trong các nghiên cứu như vậy là do cách lựa chọn đối tượng nghiên cứu là

không đồng nhất.

4.1.2. Phân bố bệnh nhân theo giới

Kết quả nghiên cứu theo (Biểu đồ 1) cho thấy nam chiếm 64.4 %, nữ

chiếm 35.6%, tỉ lệ nam/nữ = 1.8/1, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p =

0,014; χ2 test), kết quả này phù hợp với một số các nghiên cứu:

Khúc Văn Lập tỷ lệ bệnh nhân nam (61,78%) nhiễm CMV cao hơn nữ tỷ

lệ (38,22%) [22].

Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh cho thấy số bệnh nhân nam

nhiều hơn nữ một cách rõ rệt với tỷ lệ nam: nữ là 2,2:1 [32].

Adjei AA khi nghiên cứu 3275 bệnh nhân tác giả cho kết quả tương tự

nam chiếm 78,6% cao hơn nữ chiếm 21.4% [36].

Tuy nhiên kết quả này lại khác biệt với một số nghiên cứu

Capulong MG cũng nhận thấy bệnh hay gặp ở trẻ trai hơn trẻ gái [37].

Sun X và Restrepo-Gualteros [34], [35] khơng có sự khác biệt về tỉ lệ

mắc bệnh theo giới

Còn tác giả Avila – Aguero quan sát thấy tỷ lệ nam nhiễm bệnh thấp hơn

nữ. Tuy nhiên sự khác biệt là rất ít [38].

Ít và cần phải có nghiên cứu quy mô, dài hạn hơn.

4.1.3. Phân bố bệnh nhân theo thời gian trong năm

Kết quả nghiên cứu theo (biểu đồ 3.2) cho thấy bệnh gặp ở tất cả các

tháng trong năm trong đó cao nhất tháng có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là tháng

10- tháng 1 chiếm tỷ lệ 61.6 %. Điều này có thể giải thích là do đây là những



48



tháng thời tiết lạnh, độ ẩm cao chuyển mùa là điều kiện thuận lợi cho virus

phát triển và gây bệnh gia tăng do đó số bệnh nhân phải nhập viện vì viêm

phổi gia tăng. Các tháng mùa hè (tháng 6 đến tháng 8 có số bệnh nhân nhập

viện ít nhất: 11 bệnh nhân, chiếm 15%). Kết quả này cũng phù hợp với kết

quả nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới:

Restrepo-Gualteros [35],tỉ lệ mắc bệnh cao nhất là tháng 10-12 (47.9%).

Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh cho thấy bệnh hay gặp

nhất vào ba tháng giao mùa 9, 10, 11 [32].

4.1.4. Mối liên quan giữa tiền sử bệnh với tình trạng

viêm phổi nhiễm CMV

Nghiên cứu các yếu tố tiền sử liên quan đến tình trạng nhiễm CMV cho

thấy đa số các đối tượng nghiên cứu trẻ đủ tháng, khơng có vàng da , phát

triển tinh thần vận động bình thường (p<0.05), khơng có sự liên quan giữa

phương pháp sinh và cân nặng lúc sinh với tình trạng nhiễm CMV (p> 0.05;

Chi-squared test)



Theo Victora C.G những trẻ được sinh ra do mổ thiếu đi sức ép cần thiết

của đường sinh sản so với khi sinh tự nhiên, rất dễ mắc hội chứng suy hô hấp,

VP. Khả năng miễn dịch với bệnh của trẻ đẻ mổ thường kém hơn so với

những trẻ được sinh ra bằng đường âm đạo nên các trẻ này sau khi ra đời dễ

mắc bệnh [37]. Tuy nhiên với bệnh nhân nhiễm CMV thì lại khác, con đường

lây truyền của CMV chủ yếu qua tiếp xúc với dịch tiết cơ thể: dịch âm đạo,

sữa mẹ, máu và các chế phẩm của máu. Do đó việc sinh con qua đường âm

đạo của bà mẹ nhiễm CMV là yếu tố nguy cơ để trẻ tiếp xúc với dịch tiết âm

đạo nhiều hơn và khả năng lây nhiễm bệnh cao hơn. Và đặc biệt các bà mẹ trẻ

trong quá trình mang thai bị nhiễm CMV tiên phát thì có nguy có truyền bệnh

cho con cao hơn nhiễm tái hoạt hoặc tái nhiễm.



49



Sự khác biệt này khác biệt này có thể là ngẫu nhiên trong một vài nghiên

cứu và chưa thể kết luận được vì số lượng trẻ viêm phổi có nhiễm CMV còn

Những trẻ đẻ non thường có cân nặng sơ sinh thấp hơn và sức đề kháng thấp

hơn trẻ đẻ đủ tháng. Theo nghiên cứu của tác giả Bonalumi thì trẻ đẻ non và

cân nặng sơ sinh thấp có liên quan tới tình trạng viêm phổi có nhiễm CMV.

Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của tơi thì cân nặng khi sinh khơng ảnh hưởng

tới tình trạng viêm phổi, kết quả này phù hợp với một số tác giả khác như

Đoàn thị Mai Thanh, Sun X. [32], [34],

Tiền sử vàng da trong thời kỳ sơ sinh cũng được nhiều các nhà khoa học

trên thế giới quan tâm trong bệnh lý nhiễm CMV nói chung và VP có nhiễm

CMV nói riêng. Trong nghiên cứu của chúng tơi 79.5% bệnh nhân nhiễm

CMV khơng có tiền sử vàng da với p<0,05. Kết quả này không phù hợp với

nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh và . Theo Young Mei X vì bệnh lý do

nhiễm CMV thường xảy ra sớm sau sinh và tổn thương nhiều cơ quan: gan,

huyết học, phổi…trong đó bệnh lý do CMV tại gan và huyết học gây thiếu

máu, vàng da là bệnh lý hay gặp và thường đi cùng với các bệnh lý khác do

CMV. Việc khai thác tiền sử vàng da sơ sinh từ lúc nào cũng như diễn biến

của nó ra sao kéo dài như thế nào đóng vai trò quan trọng trong việc tìm mối

liên quan với VP có hay không nhiễm CMV [39], [40].

4.1.5. Triệu chứng cơ năng trước khi nhập viện

Ho, khò khè, khó thở là triệu chứng thường gặp nhất với tỉ lệ tương ứng

là 94.5%, 90.4% và 72.6% trường hợp, triệu chứng sốt chỉ gặp ở 46.5%..

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros [35] ho 100%,



khó thở 93%, sốt chiếm 67% và 53% trẻ có sút cân.

Bú kém tuy khơng phải là triệu chứng đặc hiệu của VP nhưng đây là dấu

hiệu lâm sàng quan trọng có giá trị tiên lượng về mức độ nặng của bệnh, khi

một trẻ bị VP mà trẻ bú kém hoặc bỏ bú hoặc không ăn hoặc uống được có



50



nghĩa là trẻ mắc bệnh VP rất nặng, trong nghiên cứu của tơi thấy có 15% trẻ

bú kém và 4.1% trẻ bỏ bú

4.1.6. Triệu chứng thực thể

Theo (bảng 3.4) nghiên cứu của chúng tơi , phân tích triệu chứng cơ

năng, thực thể của bệnh nhân cho thấy: 100% có ho, 78% có khó thở;69.8%

có rút lõm lồng ngực, 86.3% có khò khè, 47.9% có biểu hiện tím và có 58.9%

bệnh nhân có biểu hiện sốt.

Ho và khó thở là triệu chứng hay gặp nhất, Kết quả này cũng phù hợp

với tác giả các tác giả trên thế giới.

Restrepo-Gualteros SM khi nghiên cứu 15 bệnh nhân thấy rằng: 100%

bệnh nhân có biểu hiện ho, 93% bệnh nhân có khó thở [35].

ZHAO W khi nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của 24 bệnh nhân viêm

phổi do nhiễm CMV tác giả thấy rằng triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất

là ho, khó thở và sốt [41].

Dấu hiệu RLLN là biểu hiện của VP nặng và rất nặng theo Tổ chức Y tế

thế giới. Sở dĩ có dấu hiệu này là do sự thay đổi áp suất bên trong và bên

ngoài lồng ngực. Khi phổi tổn thương do viêm, áp suất bên trong lồng ngực

thấp hơn nhiều so với áp suất bên ngoài lồng ngực. Sự chênh lệch áp suất này

càng tăng thì rút lõm lồng ngực càng mạnh. Nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy RLLN chiếm 75% trường hợp. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên

cứu của Restrepo-Gualteros SM 85% bệnh nhân có rút lõm lồng ngực, và

Đồn Thị Mai Thanh là 95%[32].

Sốt là phản ứng của cơ thể trước tác nhân gây bệnh. Trong nghiên cứu

của chúng tơi chỉ có 58.9% bệnh nhân có sốt, kết quả này phù hợp với nghiên

cứu của Restrepo-Gualteros SM sốt chiếm 67%, và nghiên cứu của ZHAO sốt

chiếm 58%.



51



Thở rên là dấu hiệu gặp chủ yếu ở các trẻ sơ sinh nhưng cũng có ở các

nhũ nhi và trẻ nhỏ. Tiếng động này được gây nên do thở ra chống lại một

thanh mơn đóng lại một phần nhằm tạo nên một áp suất dương cuối thời kỳ

thở ra (PEP) để giữ hay làm gia tăng thể tích cặn chức năng. Vì vậy, thở rên

được nghe ở những bệnh nhân bị bệnh gây nên xẹp phế nang (sơ sinh hay gặp

với bệnh màng trong) và mất thể tích phổi (phù phổi, viêm phổi nặng, xẹp

phổi hay hội chứng SDRA). Trong nghiên cứu của chúng tôi thì dấu hiệu thở

rên chiếm 10.7%.

Tím là một trong những dấu hiệu để đánh giá trẻ có suy hơ hấp trong

nghiên cứu của chung tơi thấy 47.9% có biểu hiện tím, kết quả này có thấp

hơn so với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros 87%, Đoàn Thị Mai Thanh là

78%.[32], [35].

Nghe phổi là dấu hiệu lâm sàng quan trọng giúp các bác sĩ lâm sàng

đánh giá vị trí và tính chất tổn thương phổi, trong nghiên cứu của chúng tơi có

thấy 100 % số bệnh nhân có ran ẩm nhỏ hạt, 72.6% số bệnh nhân có ran ẩm to

hạt, ral rít và ral ngáy có tỉ lệ thấp hơn 56.1% và 36.9%.

Đồn Thị Mai Thanh dựa vào lâm sàng phát hiện được 94.3% trẻ có ran

ẩm 24.8% trẻ có ran rít, 3.3% trẻ có ran [32].

Restrepo-Gualteros 73% trường hợp có ran phổi, chủ yếu là ran ẩm nhỏ

hạt [35]

Riêng Capulong MG lại thấy rằng triệu chứng thực thể phổi của bệnh

nhân VP có nhiễm CMV rất nghèo nàn và khơng đặc hiệu [37].

4.1.7. Độ bão hòa oxi mao mạch khi nhập viện

SpO2 (độ bão hòa oxy mao mạch ngoại vi), đó là tỷ lệ hemoglobin oxy

hóa (hemoglobin có chứa oxy) so với tổng lượng hemoglobin trong máu (oxy

hóa và khơng oxy hóa hemoglobin), là một chỉ số giúp đánh giá nhanh tình

trạng và mức độ suy hô hấp. Theo nghiên cứu của chúng tơi ở bảng 5 cho thấy



52



26.% bệnh nhân có Sp02 ≥ 95% , 84.0% bệnh nhân có Sp02< 95%, kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros cao hơn so với nghiên

cứu của Đoàn Thị Mai Thanh 62,6% bệnh nhân có Sp02< 95% [35].

Phân tích mối liên quan giữa dấu hiệu tím (bảng 3.5) và (bảng 3.5) và sự

thay đổi Sp02 bảng 5 cho thấy chỉ 44.6% bệnh nhân có biểu hiện tím trong

khi 84.0% bệnh nhân có Sp02< 95% ( trong đó 54.8% bệnh nhân có Sp02

90-94 %, 9.6% bệnh nhân có Sp02 85-90 %, 59.6% bệnh nhân có Sp02<

85%) điều này có thể giải thích việc phát hiện dấu hiệu tím của những bệnh

nhân có Sp02 90-94% rất khó khăn, đòi hỏi các bác sĩ lâm sàng phải thăm

khám một cách tỉ mỉ tránh bỏ sót triệu chứng.

4.1.8. Phân bố theo mức độ nặng của bệnh theo nhóm tuổi

Chẩn đốn viêm phổi nặng khi một trẻ viêm phổi có 1 trong các dấu

hiệuTím trung tâm hoặc SPO2 <90%, suy hô hấp nặng, rút lõm lồng ngực

xuất hiện thường xuyên hoặc trẻ có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân: sốt cao

hoặc hạ thân nhiệt.

Trong nghiên cứu của chúng tơi : có 54.8% bệnh nhân viêm phổi nặng,

45.2 % bệnh nhân viêm phổi.

Phân tích mối liên quan giữa các nhóm tuổi và mức độ nặng của bệnh cho

thấy tuổi càng nhỏ thì tỉ lệ viêm phổi nặng càng cao : nhóm từ 1-2 tháng có

76.5% viêm phổi nặng, 2 tháng – 12 tháng có 42.4% viêm phổi nặng và nhóm

trẻ từ 1-5 tuổi chỉ có 35.8% viêm phổi nặng (p=0.027; Phi and Cramer's)

4.1.9. Triệu chứng ngoài phổi

Viêm phổi có nhiễm CMV có những triệu chứng cơ năng và thực thể trên

nhưng khơng có sự khác biệt nhiều so với các căn nguyên gây viêm phổi

khác, đặc biệt là các nhóm virus khác,v ì vậy, việc định hướng chẩn đốn

viêm phổi có nhiễm CMV trên lâm sàng vẫn là một điều khó khăn. Các

nghiên cứu trên thế giới thực hiện cho thấy ngồi biểu hiện viêm phổi thì



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả điều trị chung

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×