Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều trị tràn dịch màng phổi do lao

Điều trị tràn dịch màng phổi do lao

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



tại Trung tâm Hô Hâp – Bệnh viện Bạch Mai [1].

Liều dùng thuốc chống lao

Bảng 1.1: Liều dùng thuốc chống lao (WHO – 2008)



Recommended dose

Daily

Drug



Dose



and Maximu Dose and range Daily



range

(mg/kg



3 times per week

m



(mg/kg



body (mg)



body maximum



weight)



(mg)



weigh

Isoniazid



5 (4–6)



300



10 (8–12)



900



Rifampicin



10 (8–12)



600



10 (8–12)



600



Pyrazinamide



25 (20–30)







35 (30–40)







Ethambutol



15 (15–20)







30 (25–35)







Streptomycin a



15 (12–18)



15 (12–18)



1000



a, patients aged over 60 years may not be able to tolerate more than 500–

750 mg daily, so some guidelines recommend reduction of the dose to 10

mg/kg per day in patients in this age group (2). patients

weighing less than 50 kg may not tolerate doses above 500–750 mg daily

5.2 Điều trị tại chỗ:

Khoảng 50% bệnh nhân có dày màng phổi tồn dư sau khi bắt đầu điều trị lao từ

6 -12 tháng [30]. Sự dày lên của màng phổi có thể dẫn đến việc giảm dung tích

sống (VC), Một nghiên cứu năm 2003 của Candela cho thấy dung tích sống nhỏ

hơn 80% so với dự đoán khi kết thúc điều trị lao của họ ở 8 trong số 81 bệnh

nhân (10%), tuy nhiên nghiên cứu có độ tin cậy thấp (r = -0.298) giữa mức độ



17



dày màng phổi và giảm FVC [31]. Tỉ lệ mắc dày dính màng phổi phổ biến ở các

bệnh nhân có giảm nồng độ glucose dịch màng phổi, protein dịch màng phổi,

nồng độ LDH cao và nồng độ cytokine cao, tình trạng dày màng phổi phổ biến

hơn ở những bệnh nhân dịch màng phổi bắt đầu vách hóa [34], [35], [36].

Bơm chất chống dính màng phổi giúp hạn chế dày dính màng phổi ở những

bệnh nhân tràn dịch màng phổi vách hóa, Kwak đã bơm 100.000 IU urokinase

vào khoang màng phổi hàng ngày khi dịch dẫn lưu còn <100 ml/ngày và kết thúc

kkhi dịch dẫn lưu <50ml so với nhóm chứng chỉ dùng thuốc chống lao đơn thuần

độ dày màng phổi trung bình là 0,46cm so với 1,86 cm, năm 2006, Enrique

Cases Viedmaa cũng khẳng định có hiệu quả khi dùng urokinase [9], [31].

Năm 2008, tại ấn độ C-L. Chung và CS cũng đã nghiên cứu trên 64 bệnh nhân

tràn dịch màng phổi do lao và cũng cho thấy streptokinase có hiệu quả trong tràn

dịch màng phổi vách hóa do lao [16]. Tuy nhiên, khi dùng thuốc chống dính

màng phổi gặp phải tác dụng phụ. Một số báo cáo gần đây cho thấy gặp tràn máu

màng phổi và xuất huyết có tính chất hệ thống khi sự dụng streptokinase, một số

nghiên cứu khác cho thấy tỉ lệ chảy máu cam và chảy máu màng phổi khi dùng

tác nhân tiêu sợi huyết, hơn nữa giá thành của thuốc tiêu sợi huyết còn cao. Tại

thị trường Việt Nam giá một liệu trình dùng thuốc khoảng 10 triệu đồng.

Bơm rửa màng phổi bằng muối sinh lý là một kỹ thuật khá đơn giản, ít tốn kém

phù hợp với điều kiện của đại đa số người dân Việt Nam.

Có ít nhất hai cơ chế giúp bơm rửa nước muối sinh lý cải thiện kết quả lâm sàng.

Thứ nhất, loại bỏ và làm loãng nồng độ vi khuẩn, cytokin và các tế bào viêm,

tiền fibrinogen đông máu, những thứ là nguồn gốc phát triển dịch màng phổi.

Thứ hai, giảm sự ngưng trệ của hệ thống khoang màng phổi bằng cách tăng

lượng dịch dẫn lưu bởi quá trinh bơm rửa, mà theo Wong CF và CS dịch màng



18



phổi hết chậm là yếu tố nguy cơ dày dính màng phổi trong lao [63].

Tác dụng phụ trong quá trình bơm rửa bằng nước muối sinh lý vào khoang

màng phổi bao gồm rò dịch qua chỗ bơm rửa, bệnh nhân cảm giác không thoải

mái, tuy nhiên thường ở mức độ nhẹ.

Trên thế giới, bơm rửa màng phổi bằng muối sinh lý chưa được thực hiện

nhiều, nghiêu cứu 2003 tại Đài Loan cho thấy, dẫn lưu màng phổi trong TDMP

do lao giúp làm giảm thời gian khó thở của bệnh nhân, tuy nhiên, tỉ lệ dày dính

màng phổi khơng có sự khác biệt [15].

Năm 2004, nhóm bác sĩ Hàn Quốc đã nghiên cứu trên 70 bệnh nhân TDMP

vách hóa do lao và đưa ra kết luận việc dẫn lưu màng phổi giúp giảm dày màng

phổi trên những bệnh nhân này [33].

Năm 2015, trên tạp chí hơ hấp Châu Âu có đăng tải thử nghiệm ngẫu nhiên có

nhóm chứng của việc so sánh bơm rửa màng phổi bằng muối sinh lý với điều trị

chuẩn trong viêm màng phổi. Nhóm tác giả đã chỉ ra việc bơm rửa màng phổi

bằng nước muối bằng 250 ml x 3 lần trong ngày và trong 3 ngày thì khơng có sự

khác biệt về thời gian nằm viện, tổng lượng dịch dẫn lưu, giảm các marker viêm,

FVC sau 6 tháng tuy nhiên có sự giảm dịch màng phổi trên CT ở ngày thứ 3,

giảm tỉ lệ bệnh nhân phải phẫu thuật vào màng phổi do dày dính màng phổi.



19



CHƯƠNG II

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.



Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang.



2.



Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:



- Bệnh nhân vào điều trị tại trung tâm Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai từ năm 2017

- 2018 với chẩn đốn tràn dịch màng phổi, có yếu tố nguy cơ mắc lao được chẩn

đoán lao màng phổi qua sinh thiết màng phổi, nội soi màng phổi, AFB dịch màng

phổi, PCR – BK dịch màng phổi, MGIT dịch màng phổi.

- Bệnh nhân có tình trạng vách hóa khoang màng phổi trên X quang, siêu âm,

hoặc CLVT.

3.



Tiêu chuẩn loại trừ:



Các bệnh nhân có AFB đờm dương tính.

Các bệnh nhân không thỏa mãn tiêu chuẩn trên.

4.



Chọn mẫu:



Thuận tiện, cỡ mẫu 40 bệnh nhân.

5.



Cách thức tiến hành:



5.1.Chẩn đoán lao màng phổi:

Bệnh nhân tràn dịch màng phổi được sinh thiết màng phổi mù, chọc dịch < 50

ml làm xét nghiệm tế bào, sinh hóa, vi sinh ni cấy MGIT, PCR – BK, AFB

dịch màng phổi.

5.2. Lúc mới vào viện:

Bệnh nhân được lượng giá triệu chứng sốt, ho, đau ngực, khó thở, các triệu

chứng khác như mệt mỏi, chán ăn, tính theo thang điểm VAS( visual analoge



20



scale). Bệnh nhân được chụp phim X quang, chọc dịch màng phổi làm xét

nghiệm và sinh thiết màng phổi mù khi mới vào viện.

5..3.Bơm rửa màng phổi:

Bệnh nhân đã được chẩn đoán lao màng phổi được điều trị lao với phác đồ

chuẩn của WHO và Bộ Y Tế 2RHZ/4RH. Đồng thời bơm rửa nước muối sinh lý

1000 ml/lần/ngày x 3 ngày theo quy trình bơm rửa của Bộ Y Tế.

5.4. Sau bơm rửa:

Tiến hành định lượng protein sau lần bơm rửa thứ nhất và thứ ba, đo thể tích

lượng dịch bơm rửa hằng ngày, đánh giá triệu chứng khó thở của bệnh nhân.

6. Phương pháp xử lý số liệu:

- Thiết kế và nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

- Tính tỷ lệ, tần số, các test kiểm định, so sánh, mối liên quan giữa các biến định

tính, định lượng.

7. Vấn đề đạo đức nghiên cứu:

- Bệnh nhân chấp nhận đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Khi có kết quả nghiên cứu nhóm sẽ phản hồi lại cho cơ sở nghiên cứu.

- Tất cả thông tin nghiên cứu người bệnh trong bệnh án nghiên cứu đều được giữ

bí mật.

- Nghiên cứu chỉ phục vụ cho sức khỏe cộng đồng, khơng vì mục đích khác.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều trị tràn dịch màng phổi do lao

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×