Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sinh lý bệnh, giải phẫu bệnh trong tràn dịch màng phổi do lao

Sinh lý bệnh, giải phẫu bệnh trong tràn dịch màng phổi do lao

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



hậu quả của nhiễm lao từ 6 – 12 tuần trước đó [55]. Bằng chứng của giả

thuyết này là:

- Stead và CS đã phẫu thuất 15 bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao thấy 12

bệnh nhân có tổn thương tập trung ở vùng phổi tiếp giáp với màng phổi, 3

trường hợp còn lại được phát hiện có tổn thương nhu mơ nhưng khơng có tổn

thương dưới màng phổi [56].

- Cấy vi khuẩn lao âm tính trong hầu hết trường hợp.

- Tràn dịch màng phổi xuất hiện sau sinh thiết các tổn thương lao tại phổi.

Các nghiên cứu thực nghiêm đã báo cáo rằng: khi chuột hoặc lợn được tạo

miễn dịch với protein của vi khuẩn lao bằng cách tiêm vi khuẩn lao chết vào

gan bàn chân, 3 đến 5 tuần sau, tiêm vào màng phổi tinh chất tuberculin sẽ

gây tràn dịch màng phổi (trong vòng 12 - 48 giờ). Sự phát triển của dịch

màng phổi sẽ bị ngăn chặn nếu con vật được tiêm huyết tương kháng

lymphocyte. Hơn nữa dịch màng phổi có thể xảy ra ở các con vật chưa được

mẫn cảm với vi khuẩn lao nhưng được nhận các tế bào miễn dịch từ các con

vật đã mẫn cảm và tràn dịch màng phổi không xảy ra ở các con vật đã mẫn

cảm nếu được truyền kháng lymphocyte [57].

Ngược lại, tràn dịch màng phổi thứ phát thường xuất hiện nhiều năm sau

khi khi nhiễm lao được cho là tái hoạt động lại của tổn thương cũ. Tràn dịch

màng phổi thứ phát thường phổi hợp với tổn thương nhu mô phổi. Phản ứng

quá mẫn được tham gia bởi các tế bào Th1, các tế bào này hoạt hóa đại thực

bào tiêu diệu vi khuẩn lao.

Khi các kháng nguyên lao vào khoang màng phổi, chúng tương tác với các

tế bào TCD4 đã mẫn cảm với vi khuẩn lao từ trước (phản ứng quá mẫn

muộn), kết quả là ứ đọng dịch trong khoang màng phổi. Sự ứ đọng dịch trong



7



khoang màng phổi được gây ra chủ yếu bởi tăng tính thấm mao mạch màng

phổi với protein, do vậy tăng áp lực trong khoang màng phổi. Mặt khác việc

dẫn lưu dịch và protein khỏi khoang màng phổi qua hệ bạch mạch màng phổi

thành bị tổn thương hoặc tắc nghẽn cũng là nguyên nhân tích tụ dịch trong

khoang màng phổi [58].

Khi màng phổi bị viêm, một lượng fibrin lắng đọng xuống là kết quả của

cân bằng giữa quá trình tiêu fibrin và quá trình tạo fibrin. Hoạt động của

thrombin tạo fibrin, quá trình tạo fibrin xảy ra khi các yếu tố TNF α, TGF β,

và plasminogen activation inhibitor – 1(PAI – 1) chiếm ưu thế. Quá trình tiêu

fbrin xảy ra khi lượng fibrin bị tiêu nhiều hơn fbirn tạo ra. Plasminogen bẽ

gãy fibrin được hoạt hóa bởi tPA [59]. Trong dịch màng phổi ở bệnh nhân

tràn dịch màng phổi do lao có nồng độ PAI – 1 cao hơn bệnh nhân tràn dịch

màng phổi ác tính và cao hơn gấp 4 lần trong máu, còn tPA trong dịch màng

phổi ác tính cao hơn gấp 3 lần bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao. Điều

này giải thích q trình lắng đọng fibrin xảy ra ở bệnh nhân lao cao màng

phổi cao hơn bệnh nhân tràn dịch màng phổi ác tính. Bệnh nhân lao màng

phổi có dày màng phổi có nồng độ TNF α, PAI – 1 cao hơn [60].



8



Hình 1.1 Chu trình fibrin trong khoang màng phổi [62]

3.2.

-



Giải phẫu bệnh:

Các ổ tổn thương nhỏ tản mạn, đôi khi kiểu lao kê

Các ổ tổn thương lớn kèm theo những thành phần của hoại tử bã đậu

Phản ứng hoại tử bã đậu một cách tồn cục, xơ hóa màng phổi

Phản ứng viêm khơng đặc hiệu [20].



4. Chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao

4.1 Đặc điểm bệnh nhân:

- Giới: tỉ lệ mắc lao gặp chủ yếu ở nam, theo Richard W Linght, tỉ lệ này là

3/1. Ở Việt Nam, theo Trần Văn Sáu bệnh nhân nam chiếm 63,16%, còn

theo Trần Hồng Thành thì tỉ lệ là 64,2% [12], [13], [14].

- Tuổi mắc lao màng phổi: tràn dịch màng phổi do lao gặp mọi lứa tuổi, tuy

nhiên, thường gặp người trẻ, tuổi trung bình là 35 [17]. Tại Mỹ thì tuổi



9



trong bình là 49 [2], ở những nước có tỉ lệ mắc lao cao thì tuổi trung bình

là 34 [1]. Ở Việt Nam, nghiên cứu trên 95 bệnh nhân của Trần Hồng

Thành và CS thì tuổi >40 hay gặp hơn chiếm 56,9% [14].

- Khởi phát: lao màng phổi có thể khởi phát cấp tính, bán cấp hoăc mạn

tính, đại đa số là khới phát cấp tính đặc biệt ở người trẻ, người có hệ thống

miễn dịch còn tốt. Theo Levine H, thời gian từ khi biểu hiện đầu tiên đến

khi khởi phát triệu chứng rầm rộ ít hơn 1 tháng ( 20/71 bệnh nhân). Ít hơn

một tuần(25/71 bệnh nhân) còn theo Trần Văn Sáu (1996) khởi phát cấp

tính chiếm 78%, còn Phạm Thị Mỹ Dung (2008) thì tỉ lệ này là 68,5%

[13], [18], [19].

4.2



Triệu chứng lâm sàng



4.2.1 Toàn thân:

Sốt là triệu chứng hay gặp, theo nhiều tác giả thì tỉ lệ xuất hiện sốt là 93,2 %.

[21]. Ngồi ra, triệu chứng khác có thể gặp là mệt mỏi, gầy sút cân, chán ăn, hay

ra mồ hôi đêm.

4.2.2 Cơ năng:

- Ho: là triệu chứng thường gặp thường là ho khan [21], [22]. Nguyên nhân do

dịch màng phổi kích thích vào màng phổi và vòm hồnh. Nếu tổn thương nhu

mơ phổi sẽ có ho ra máu hoặc đờm, theo Phạm Thị Hòa Mỹ bệnh nhân ho khan

chiếm 91%, trong đó ho có đờm chiếm 20% tổng số bệnh nhân TDMP do lao

[23].

- Đau ngực: đau kiểu màng phổi, đau khu trú lồng ngực tương ứng với vị trí tổn

thương. Đau tăng lên khi thực hiện động tác hơ hấp. Đau có thể từ vừa đến dữ

dội, theo Richard W Light thì phổi hợp hai triệu chứng ho khan và đau ngực



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sinh lý bệnh, giải phẫu bệnh trong tràn dịch màng phổi do lao

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×