Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Không tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng khi sinh, tuổi thai, cân nặng khi sinh, tổng số con trong gia đình và con thứ với tình trạng mắc viêm phổi nặng. Không có mối liên quan giữa bệnh bẩm sinh, tiêm đủ vaccine và sử dụng kháng sinh trước

Nhận xét: Không tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng khi sinh, tuổi thai, cân nặng khi sinh, tổng số con trong gia đình và con thứ với tình trạng mắc viêm phổi nặng. Không có mối liên quan giữa bệnh bẩm sinh, tiêm đủ vaccine và sử dụng kháng sinh trước

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Bảng 3.14. Liên quan giữa mức độ nặng và đặc điểm tiền sử bệnh của trẻ

Đặc điểm

Nguồn lây

• Bệnh nhi

• Gia đình



Viêm phổi

khơng nặng

(n=36)

n

%



Viêm phổi

nặng

(n=64)

n

%



OR



23

13



31,1

59,1



51

9



68,9

40,9



1

0,31



• Khác

Điều trị trước vào viện

• Có

• Khơng



0



0,0



4



100,0



1



18

18



40,0

32,7



27

37



60,0

67,3



1

1,38



Chuyển tuyến

• Có

• Khơng



15

21



24,2

55,3



47

17



75,8

44,7



1

0,26



Thời gian bị bệnh

trước khi vào viện

• < 1 tuần

• 1-2 tuần



19

12



42,2

33,3



26

24



57,8

66,7



1

1,46



• > 2 tuần



5



26,3



14



73,7



2,05



95%CI



p



0,120,83

-



0,02



0,603,11



0,45



0,110,61



0,00



0,593,63

0,636,66



0,41

0,23



Nhận xét: Nhóm trẻ khơng chuyển tuyến có khả năng mắc viêm phổi

nặng bằng 0,26 lần nhóm có chuyển tuyến, p<0,05. Các bệnh nhi lây bệnh từ

gia đình có khả năng mắc viêm phổi nặng bằng 0,31 lần nhóm có nguồn lây

từ bệnh nhi, p<0,05. Khơng tìm thấy mối liên quan giữa điều trị trước khi vào

viện, thời gian bị bệnh trước khi vào viện với tình trạng viêm phổi nặng.

Bảng 3.15. Liên quan giữa mức độ nặng và x-quang của bệnh nhân



54



Đặc điểm



Tổn thương dạng kẽ

•Khơng

• Có

Rốn phổi tăng đậm

•Khơng

• Có

Viêm phổi thùy

•Khơng

• Có



Viêm phổi

khơng

nặng

(n=36)

n

%



Viêm phổi

nặng



2

34



8,7

44,2



21

43



12

24



21,1

55,8



30

6



57,7

12,5



OR



95%CI



p



91,3

55,8



1

0,12



0,03-0,55



0,01



45

19



78,9

44,2



0

0,21



0,09-0,51



0,00



22

42



42,3

87,5



1

9,55



3,45-26,39



0,00



(n=64)

n

%



Nhận xét: Nhóm trẻ có phim Xquang có tổn thương dạng kẽ và rốn phổi

tăng đậm ít có khả năng mắc viêm phổi nặng (OR= 0,12) và (OR=0,21) so với

nhóm khơng có. Nhóm có hình ảnh viêm phổi thùy có khả năng có viêm phổi

nặng cao gấp 9,55 lần so với nhóm khơng có. Mối quan hệ có ý nghĩa với

p<0,05.



55



Bảng 3.16. Liên quan giữa mức độ nặng và đặc điểm cận lâm sàng của bệnh

nhân



Đặc điểm



Viêm phổi

khơng

nặng

(n=36)

n



CRP



• < 6mg/l

• 6-20 mg/l

• > 20 mg/l



Thiếu máu

• Khơng thiếu máu

• Thiếu máu nhẹ

• Thiếu máu trung

bình



• Thiếu máu nặng



%



Viêm phổi

nặng

OR



95%CI



p



(n=64)

N

%



19 43,2

5 25,0

12 33,3



25

15

24



56,8

75,0

66,7



1

2,28 0,70-7,38

1,52 0,61-3,79



20 41,7

14 33,3

1 12,5



28

28

7



58,3

66,7

87,5



1



50,0



1



50,0



1

1,43 0,60-3,38

5,00

0,5743,90

0,71

0,0412,11



17 37,8

18 34,6

1 33,3



28

34

2



62,2

65,4

66,7



0,17

0,37



0,42

0,15

0,82



Bạch cầu



• Bình thường

• Tăng

• Giảm



1

1,15 0,50-2,63

1,21

0,1014,43



0,75

0,88



Nhận xét: Khơng tìm thấy mối liên quan giữa CRP, tình trạng thiếu máu,

bạch cầu và tình trạng bị viêm phổi nặng.



56



Bảng 3.17. Liên quan giữa mức độ nặng và đặc điểm đồng nhiễm vi khuẩn và

virus



Đặc điểm



Đồng nhiễm vi khuẩn

•Khơng

• Có

Đồng nhiễm virus

•Khơng

• Có

Đồng nhiễm chung

•Khơng

• Có



Viêm

phổi

khơng

nặng

(n=36)

n

%



Viêm phổi

nặng



36 39,6

0

0



55

9



60,4

100,

0



25 34,7

11 39,3



47

17



65,3

60,7



1

0,82 0,33-2,02



0,67



25 39,1

11 30,6



39

25



60,9

69,4



1

1,46 0,61-3,47



0,40



OR



95%CI



p



(n=64)

n

%

1

-



Nhận xét: Trẻ đồng nhiễm virus ít có khả năng mắc viêm phổi nặng

(OR=0,82) so với nhóm khơng đồng nhiễm virus. Trẻ có bất kỳ đồng nhiễm

(nhiễm vi khuẩn hoặc virus) có khả năng mắc viêm phổi nặng cao gấp 1,46

lần so với nhóm khơng có đồng nhiễm. Tuy nhiên mối quan hệ khơng có ý

nghĩa thống kê (p>0,05).



57



Bảng 3.18. Hồi quy đa biến phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng

viêm phổi nặng

Đặc điểm



OR



95%CI



p



1

0,20

-



0,05-0,78



0,02



1

0,58



0,20-1,67



0,31



Tổn thương dạng kẽ

•Khơng

• Có



1

0,41



0,07-2,38



0,32



Rốn phổi tăng đậm

•Khơng

• Có



1

0,72



0,20-2,55



0,61



Viêm phổi thùy

•Khơng

• Có



1

7,74



1,86-32,20



0,01



Nguồn lây

•Bệnh nhi

•Gia đình

•Khác

Chuyển tuyến

• Có

•Khơng



Nhận xét: Mơ hình hồi quy đa biến xem xét ảnh hưởng của tất cả các

yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi có nhiễm adenovirus cho

thấy : khả năng viêm phổi nặng giảm ở nhóm trẻ có nguồn lây từ gia đình và

khả năng viêm phổi nặng cao hơn ở nhóm trẻ có tổn thương viêm phổi thùy

trên xquang (p<0,05).



58



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Giới tính và tuổi

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy, viêm phổi thường hay mắc

ở nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi, thấp nhất là lứa tuổi lớn hơn 36 tháng. Bệnh

mắc nhiều ở trẻ nam hơn so với trẻ nữ. Nghiên cứu này có kết quả tương tự

như một số nghiên cứu trước đó. Theo Quách Ngọc Ngân, nghiên cứu trẻ từ 2

tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ trong 196 trẻ có 48% trẻ

dưới 12 tháng; tỷ lệ nam/ nữ là 1,9/1 [29]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền

Lương cho thấy trẻ từ 2-12 tháng có tỷ lệ mắc cao nhất là 56,0%, giảm dần

theo lứa tuổi. Tỷ lệ trẻ nam mắc bệnh trong nghiên cứu này là 70% so với chỉ

có 30% là nữ, nam cao gấp 2,23 lần nữ [30]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai

Hòa cũng cho thấy, lứa tuổi hay gặp viêm phổi nhất là 1-12 tháng tuổi và

giảm dần khi lứa tuổi tăng lên, từ 48-60 tháng chỉ còn 10,6% trẻ bị mắc [31].

Lê Nhị Trang và cộng sự nghiên cứu cho thấy, độ tuổi mắc bệnh cao nhất là 212 tháng tuổi, sau đó giảm dần khi tuổi tăng lên. Tỷ lệ trẻ nam mắc là 56,6%

cao hơn so với trẻ nữ là 43,4% [32]. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên

cứu của Đào Minh Tuấn và Nguyễn Thị Ngọc Trân, khi các tác giả cho thấy

bệnh nhân phần lớn là trẻ dưới 12 tháng tuổi (91,7%) [18].

Nghiên cứu của chúng tơi có kết quả khác với một số nghiên cứu trong

nước. Theo Nguyễn Thành Nhôm [33], nghiên cứu trên 130 trường hợp trẻ

viêm phổi nhập viện từ tháng 6/2014-5/2015 ở Vĩnh Long. Kết quả nhóm

nghiên cứu có 46,9% nam và 53,1% nữ, nhóm 2 tháng đến 12 tháng tuổi

chiếm 38,5%, nhóm 12 tháng đến 60 tháng 61,5%. Theo Đào Minh Tuấn [34],

nghiên cứu trên số trẻ em mắc viêm phổi do vi khuẩn tại bệnh viện nhi trung



59



ương 2006- 2010 thấy tỷ lệ trẻ trai/gái=1,3; mắc nhiều nhất ở độ tuổi 6-12

tháng chiếm 44,7%, < 6 tháng 28,2%.

4.1.2. Phơi nhiễm thuốc lá trong gia đình

Việc phơi nhiễm với mơi trường độc hại, trong đó phơi nhiễm thuốc lá

thụ động từ những người trong gia đình là tác nhân làm gia tăng mức độ trầm

trọng của bệnh viêm phổi. Trẻ có cha, mẹ hút thuốc mắc bệnh đường hô hấp

cao gấp 2 lần trẻ cha mẹ không hút thuốc lá. Kết quả nghiên cứu trên thế giới

cho thấy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và nhiễm virus do làm

miễn dịch và giảm khả năng chống đỡ với bệnh tật [35-37]. Trong nghiên cứu

này, tỷ lệ trẻ hút thuốc lá thụ động lên tới 82,0%. Đây có thể là điều kiện

thuận lợi làm tăng khả năng mắc bệnh hô hấp của trẻ.

4.1.3. Đặc điểm theo mùa

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh gặp ở tất cả các tháng trong năm

trong đó cao nhất là mùa hạ (tháng 5-7) và mùa xuân (tháng 2-4). Kết quả này

tương đồng với nghiên cứu của Đào Minh Tuấn và Nguyễn Thị Ngọc Trân,

khi các tác giả cho thấy tháng 3-4 là những tháng có yếu tố thuận lợi, trẻ dễ

mắc bệnh [18]. Nghiên cứu của Prel JB và cộng sự trong nghiên cứu chuỗi

thời gian cho thấy, tình trạng viêm phổi do adenovirus có xu hướng tăng khi

nhiệt độ tăng lên [38]. Nghiên cứu khác của Chen Z và cộng sự cho thấy viêm

phổi do adenovirus có xu hướng đạt đỉnh vào mùa hè, khi thời tiết nóng ẩm và

mưa nhiều [39]. Sự dao động giữa các tháng có thể do thời tiết từng vùng địa

lý nơi bệnh nhân sinh sống khác nhau.

4.1.4. Tiền sử sản khoa

Những trẻ được sinh ra do mổ thiếu đi sức ép cần thiết của đường sinh

sản so với khi sinh tự nhiên, rất dễ mắc hội chứng suy hô hấp, viêm phổi. Khả

năng miễn dịch với bệnh của trẻ đẻ mổ thường kém hơn so với những trẻ



60



được sinh ra bằng đường âm đạo nên các trẻ này sau khi ra đời dễ mắc bệnh.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy, tỷ lệ trẻ sinh mổ trong nhóm bệnh

nhân là 27,0%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thu Hiền

khi tác giả cho biết tỷ lệ sinh mổ ở trẻ mắc viêm phổi dao động từ 20,9% đến

28,6% tùy vào nguyên nhân viêm phổi [40].

Bên cạnh đó, suy dinh dưỡng và đẻ thiếu tháng là những yếu tố ảnh

hưởng nhiều đến khả năng đề kháng của trẻ trước các tác nhân gây bệnh cũng

như mức độ trầm trọng của bệnh khi mắc phải. Suy dinh dưỡng là nguyên

nhân chính của suy giảm miễn dịch. Thiếu hụt vi chất dinh dưỡng gây ra tăng

trưởng kém, suy giảm trí tuệ, và gia tăng tỷ lệ tử vong và nhạy cảm với nhiễm

trùng, dẫn tới viêm phổi. Có nhiều cơng trình nghiên cứu đều thấy mối liên

qua giữa các yếu tố nguy cơ này ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc, mức độ nặng cũng

như tỷ lệ tử vong của bệnh. Kết quả một nghiên cứu cho thấy trẻ đẻ ra có cân

nặng dưới 2500g tỷ lệ chết do viêm phổi là 26,4% trong khi tỷ lệ này ở trẻ có

cân nặng trên 2500g là 6,8%. Trẻ suy dinh dưỡng ngồi dễ mắc nhiễm khuẩn

hơ hấp cấp tính hơn trẻ bình thường và làm kéo dài thời gian điều trị, tiên

lượng xấu hơn [29, 33].

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 9,0% trẻ đẻ dưới 36 tuần thai và 12,0%

có cân nặng thấp dưới 2500g khi sinh, tương đồng với nghiên cứu của Phạm

Thu Hiền, với tỷ lệ đẻ thấp cân từ 5,3% đến 14,3% [40]. Nghiên cứu của

Thành Minh Hùng và cộng sự cho thấy tỷ lệ trẻ nhiễm trùng đường hô hấp khi

sinh thiếu tháng là 11,8%[41].

4.1.5. Tiền sử bệnh tật

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh bẩm sinh trong mẫu

nghiên cứu là 17,0%. Kết quả cũng cho thấy, có tới 92% số trẻ có tiền sử mắc

viêm phổi.



61



Nhóm bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng tơi có 100% ở cả hai nhóm

đều được bú mẹ. Kết quả này cao hơn đáng kể so với nghiên cứu của Thành

Minh Hùng ở Kontum cho thấy, số bà mẹ có cho con bú sữa mẹ hồn tồn

trong 6 tháng đầu chiếm 46,5%, số có dùng sữa ngoài và ăn dặm sớm chiếm

53,5% [41]. Với trẻ nhũ nhi đặc biệt là 6 tháng đầu nếu trẻ khơng được ni

dưỡng hồn tồn bằng sữa mẹ mà dùng sữa ngồi, ăn dặm sớm thì tỷ lệ mắc

bệnh cao hơn do không được thừa hưởng nguồn kháng thể từ mẹ và hệ tiêu hoá

của trẻ hấp thụ thức ăn chưa tốt [29, 33].

4.1.5. Đặc điểm bệnh sử

* Nguồn lây

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 74% ca bệnh do bắt nguồn từ chính

bệnh nhi. Có thể thấy, với những trường hợp bắt nguồn từ bệnh nhi, gia đình

có thể chưa có sự chuẩn bị nhằm đối phó với sự khởi phát bệnh, dẫn tới trẻ

không được chú ý kịp thời và làm gia tăng mức độ trầm trọng của bệnh. Trong

khi đó, nếu trong gia đình có người bị mắc bệnh, cha mẹ có thể quan tậm tới

sức khỏe của bệnh nhi hơn, từ đó đưa tới bệnh viện trong giai đoạn sớm để

tránh diễn biến bệnh nặng hơn.

* Điều trị trước khi vào viện

Nghiên cứu cũng cho thấy có 45,0% trẻ đã được điều trị trước khi vào

viện và 62% được chuyển từ tuyến dưới. Mặt khác, trong nghiên cứu của

chúng tơi, có tới 95,0% số bệnh nhân đã sử dụng kháng sinh trước khi nhập

viện. Trong khi đó, chỉ có 45,0% được điều trị tại bệnh viện trước đó. Trẻ

được sử dụng phổ biến nhất là kháng sinh nhóm Cephalosporin (84,0%) và

Aminozid (43,0%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn rất nhiều so với

nghiên cứu của Nguyễn Văn Hội tại Hà Giang, với tỷ lệ là 29,7% [42]. Điều

này có thể do tại địa bàn nghiên cứu của tác giả, bệnh nhân khó có thể mua



62



kháng sinh do khó khăn trong tiếp cận hiệu thuốc. Mặt khác, khi so sánh với

các nghiên cứu tại thành phố, nghiên cứu của chúng tơi có sự tương đồng.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Xuân cho thấy có 83,2% bệnh nhân đã sử

dụng kháng sinh trước khi vào viện [43], nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền

Lương là 54% [30] và nghiên cứu của Phạm Xuân Phúc là 70,1% [44].

Nghiên cứu của Phạm Thu Hiền cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh trước viện

là trên 80%, trong đó chủ yếu là sử dụng nhóm Cephalosporin [40].

Kết quả này cho thấy, bệnh nhân có thể chủ yếu được điều trị bằng

kháng sinh tự mua mà không qua chỉ định của bác sỹ. Việc sử dụng theo kinh

nghiệm mà khơng có chỉ định có thể gây nên tình trạng kháng kháng sinh

thêm trầm trọng. Mặt khác, tình trạng tự mua thuốc kháng sinh dùng có thể

gây lãng phí do sử dụng thuốc không phù hợp, đặc biệt là khi điều trị viêm

phổi do nhiễm virus, và trong trường hợp người nhà bệnh nhân khơng nhớ đã

dùng thuốc gì để bác sỹ có chỉ định lựa chọn kháng sinh phù hợp, dẫn tới kéo

dài thời gian điều trị. Hiện nay đã có những phác đồ khuyến cáo cụ thể rằng

bệnh nhân chưa nên sử dụng kháng sinh như trong phác đồ của Bệnh viện Nhi

Trung Ương. Do đó, cần giáo dục truyền thông cho người dân hiểu tác hại của

việc dùng kháng sinh khơng hợp lý và kiểm sốt chặt chẽ quy chế kê đơn bán

thuốc của nhân viên y tế nhằm giảm thiểu tình trạng kháng thuốc.

4.2. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng

4.2.1. Mức độ bệnh

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, đa số bệnh nhân mắc viêm

phổi nặng (64/100 = 64%), chỉ có 36% (36/100) bệnh nhân mắc viêm phổi

không nặng. Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu trước đó. Nghiên

cứu của Nguyễn Thị Hiền Lương cho thấy tỷ lệ bệnh nhân viêm phổi, viêm

phổi nặng và rất nặng lần lượt là 65%, 30% và 5%[30]. Nghiên cứu của

Nguyễn Thị Thanh Xuân cho thấy bẹnh nhân viêm phổi chiếm 70,4%, viêm



63



phổi nặng là 28,4% và viêm phổi rất nặng là 1,2% [43]. Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi thấp hơn so với Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hội tại Bệnh viện

Đa khoa Xín Mần, Hà Giang, khi các tác giả cho thấy viêm phổi chiếm

56,9%; viêm phổi nặng chiếm 43,1% [42]. Tác giả nhận định do địa bàn

nghiên cứu là huyện miền núi khó khăn, trẻ em thường được điều trị bằng

thuốc lá, khi bị bệnh nặng mới được mang đến bệnh viện [42]. Mặt khác, tỷ lệ

viêm phổi nặng trong nghiên cứu của chúng tôi ở mức 30% là mức cao. Cần

thiết phải có những can thiệp nhằm nâng cao kiến thức cho cha mẹ trong cộng

đồng trong việc phòng chống viêm phổi trong cộng đồng, cũng như đưa con

đến bệnh viện kịp thời nhằm giảm mức độ trầm trọng của bệnh.

4.2.2. Triệu chứng cơ năng và tồn thân

Trong cả hai nhóm, trẻ chủ yếu ho (100%), sốt cao (88,0%), rút lõm

(70,0%). Số ngày sốt trung bình là 8,7 ± 0,2 ngày. Tỷ lệ trẻ có chướng bụng là

30,0%; nơn là 19,0% và tiêu chảy là 43,0%. Trẻ trong nhóm viêm phổi nặng

có tỷ lệ mắc chướng bụng, nôn và tiêu chảy cao hơn so với nhóm viêm phổi

khơng nặng. Sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Biến chứng

viêm kết mạc mắt có tỷ lệ mắc cao nhất (29,0%), viêm gan (11,0%), rối loạn

đông máu (5,0%), viêm quanh hốc mắt 1,0%. Khơng có trẻ nào mắc biến

chứng viêm não. Sự khác biệt về biến chứng giữa hai nhóm khơng có ý nghĩa

với p>0,05.

Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đó. Đào Minh Tuấn

và Nguyễn Thị Ngọc Trân nghiên cứu cho thấy ho, khò khè và sốt là triệu

chứng phổ biến nhất với lần lượt là 100%, 100% và 75% [18]. Nghiên cứu

của Thành Minh Hùng cho thấy ho là triệu chứng thường gặp nhất và xuất

hiện sớm nhất với 96,1%; tiếp theo là sốt với 78,4%; 75,5% trẻ có chảy nước

mũi; Nơn ói chiếm 30,4% [41]. Nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhôm cho

thấy triệu chứng ho chiếm 97,7%; sốt chiếm 84,6%, chảy mũi chiếm 20%;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Không tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng khi sinh, tuổi thai, cân nặng khi sinh, tổng số con trong gia đình và con thứ với tình trạng mắc viêm phổi nặng. Không có mối liên quan giữa bệnh bẩm sinh, tiêm đủ vaccine và sử dụng kháng sinh trước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×