Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Một số yếu tố liên quan đến thị lực cuối cùng theo thang điểm OTS

3 Một số yếu tố liên quan đến thị lực cuối cùng theo thang điểm OTS

Tải bản đầy đủ - 0trang

56



nhãn cầu có 68,18 % số mắt có thị lực cuối cùng là 20/200

hoặc tốt hơn.

Vỡ nhãn cầu thường xảy ra khi tác nhân gây bệnh là một

vật đầu tù, tác động vào mắt với một lực rất mạnh làm nhãn

cầu bị nén lại theo chiều trước sau dẫn đến tăng áp lực nội

nhãn mà hậu quả là nhãn cầu sẽ bị vỡ tại những vùng củng

mạc yếu nhất. Ở hình thái vỡ nhãn cầu, bên cạnh các yếu tố

nguy cơ của một chấn thương nhãn cầu hở (nhiễm trùng, phòi

kẹt tổ chức nội nhãn….) các tổ chức nội nhãn còn bị hủy hoại

dưới một lực tác động đụng dập rất mạnh làm tất các các

thành phần trong mắt đều bị tổn thương, đặc biệt là các tổn

thương liên quan đến thị thần kinh và các vết thương nhãn

cầu hở chạy sâu ra sau các cơ trực. Có lẽ đây là nhưng lý do lý

giải tại sao khi có vỡ nhãn cầu, mức thị lực ít hoặc khơng cải

thiện sau phẫu thuật điều trị.

4.3.2 Mối liên quan giữa thị lực lúc vào viện với thị lực cuối cùng

Khi đánh giá mối liên quan giưa thị lực vào viện và thị lực

sau ra viện 3 tháng, chúng tôi nhận thấy thị lực lúc vào viện

có liên quan chặt chẽ với thị lực ra viện (P=0,000). Thị lực vào

viện ở mức độ tốt tương ứng với mức thị lực sau ra viện 3

tháng tốt và ngược lại. Quan điểm này giống các tác giả

Hatice Deniz Ilhan (2013) [45], X Liu (2014) [36] đều cho rằng

thị lực vào viện tốt thì tiên lượng tốt hơn so với bệnh nhân vào

viện với thị lực ban đầu kém. Theo kết quả nghiên cứu của

Cruvinel Isaac (2003) [5] những bệnh nhân có thị lực kém

trước mổ có nguy cơ thị lực cuối cùng kém cao gấp 5,8 lần so

với nhóm có thị lực tốt trước phẫu thuật. Chúng tơi cho rằng,



57



bệnh có thị lực ban đầu cao chứng tỏ các vết thương ban đầu

ít đi qua và ảnh hưởng đến trục thị giác, các tổn thương phối

hợp cũng thường ít và ở mức độ nhẹ. Chính vì vậy, thị lực thu

được sau điều trị thường tương đối tốt.

4.3.3 Mối liên quan giữa bong võng mạc và thị lực đạt được sau 3 tháng

Trong nghiên cứu của chúng tơi cho thấy, 10 ca có thị lực

cuối cùng là ST(-) đều có bong võng mạc, và trong tất cả 23

ca có bong võng mạc thì khơng có ca nào có thị lực cuối cùng

≥20/40. Bong võng mạc là một trong những yếu tố ảnh hưởng

đến khả năng phục hồi thi lực. Nghiên cứu của Al-Mezaine HS

và cộng sự (2010) [14] trên nhóm bệnh nhân bị chấn thương

nhãn cầu hở cho thấy, có đến 86,6% mắt bị bong võng mạc

chỉ đạt được mức thị lực cuối cùng là kém hơn ĐNT, trong đó

có tới 53,5% thị lực kém hơn BBT. Ngược lại thì đến 57,5 %

mắt khơng bị bong võng mạc có thị lực cuối cùng ≥ 20/200.

Trong một nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả

điều trị BVM sau chấn thương do Thẩm Trương Khánh Vân và

Đỗ Như Hơn tiến hành vào năm 2004 [15] cho thấy 100% BVM

do vết thương xuyên có tổn thương phối hợp kèm theo, tại

cuối thời điểm theo dõi 6 tháng tỷ lệ võng mạc áp tốt là

83,5%. Tuy nhiên, không có bệnh nhân nào ở nhóm BVM đạt

thị lực trên ĐNT 3m dù rằng có tới 82,3% bệnh nhân có thể

ĐNT ở các mức độ khác nhau.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mắt chấn thương nhãn

cầu hở khi có bong võng mạc mặc dù đã điều trị tích cực cũng

chỉ thành cơng về mặt giải phẫu, còn cải thiện về mặt chức

năng thì còn hạn chế [46], [47].



58



Tỷ lệ thị lực <20/200 trong nhóm có bong võng mạc và

nhóm khơng có bong võng mạc tương ứng là 95,7% và 23,9%

(Chi – Square test), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 tỷ

lệ này (P=0,000). Với tỷ suất chênh OR = 70,125, khả năng

thị lực <20/200 sau 3 tháng điều trị của nhóm bong võng mạc

cao gấp 70,125 lần so với nhóm khơng có bong võng mạc.

4.3.4 Liên quan viêm mủ nội nhãn và thị lực cuối cùng

Viêm mủ nội nhãn có mối liên quan đến thị lực sau 3 tháng (p=0,012),

nghĩa là khi có viêm mủ nội nhãn đi kèm, tiên lượng về mặt thị lực của bệnh

nhân sau 3 tháng sẽ bị giảm đi rất nhiều. Kết quả này tương đồng với kết quả

nghiên cứu của Meng Y và cộng sự [10]. Nếu có viêm mủ nội nhãn thì có đến

80% mắt thị lực khi ra viện kém hơn 20/200, trong khi khơng có viêm mủ nội

nhãn thì thì lực khi ra viện tốt và xấu khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê.

Viêm mủ nội nhãn là một thàm họa trong nhãn khoa, dù điều trị tích cực

nhưng kết quả thường rất xấu, nhiều mắt bị teo nhãn cầu, mất nhận thức ánh

sáng, thậm chí đau nhức phải khoét bỏ. Theo tác giả X Liu [36] trong 18

bệnh nhân viêm mủ nội nhãn thì có 55,6% thị lực sau điều trị dưới 20/200.

Điều trị viêm mủ nội nhãn gặp nhiều khó khăn do nồng độ kháng sinh

ngấm vào nội nhãn khi dùng đường toàn thân rất thấp, chỉ từ 2 - 3 % nồng độ

huyết thanh. Mặt khác, nhãn cầu là một khoang kín làm cho sự dẫn lưu các

yếu tố độc hại (vi khuẩn, độc tố của vi khuẩn, các sản phẩm viêm, hoại tử và

thối hóa) khó khan. Hơn nữa, các tổ chức của nhãn cầu dễ bị tổn thương do

kháng sinh và hóa chất liều cao, nhiễm trùng nhiều khi được chữa khỏi nhưng

những biến đổi về giải phẫu cũng có thể làm mất chức năng nhãn cầu….Vì

những lý do nêu trên, khi có viêm mủ nội nhãn, thị lực sau ra viện của bệnh

nhân thường phục hồi không tốt

4.3.5 Liên quan thang điểm OTS và thị lực cuối cùng



59



Nghiên cứu của chúng tơi cho thấy có mối liên quan giữa

thang điểm OTS và thị lực cuối cùng (p=0,000). Nhóm bệnh

nhân có điểm OTS mức 1 (0-40 điểm) thì 100 % thị lực sau 3

tháng kém hơn BBT. Nhóm có điểm OTS mức 2 (45-65 điểm)

khơng có bệnh nhân nào có thị lực cuối cùng là ST (-). Tuy nhiên cũng khơng

có bệnh nhân nào có thị lực cuối cùng >20/200. Ngược lại mức thang

điểm OTS 4 và 5 thì 100% bệnh nhân có thị lực ≥20/40. Kết

quả thu được của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của

Hossain A (2014) [24] Và Meng Y (2015) [10]. Hossain A khi

sử dụng thang điểm OTS để đánh giá thị lực cuối cùng trên

nhóm trẻ từ 4 – 16 tuổi bị chấn thương nhãn cầu hở nhận

thấy, ở các bệnh nhân có điểm OTS mức 1 thì tiên lượng thị

lực rất xấu với 93,3% có thị lực cuối cùng là ST(-). Ngược lại

những bệnh nhân có điểm OTS ở mức 5 thì tiên lượng tốt khi

89,6% bệnh nhân ở nhóm này có thị lực cuối cùng > 20/200.

Nghiên cứu của Meng Y [10] nhằm xác định các yếu tố tiên

lượng thị lực và mối liên quan với thang điểm OTS trên 298

bệnh nhân bị chấn thương nhãn cầu hở cho thấy, những mắt

có điểm OTS độ 1 (0-44 điểm) chỉ có 16,98% có thị lực cuối

cùng ≥ 20/200, trong khi đó có tới 30,19% có thị lực cuối cùng

là ST(-). Ngược lại ở những mắt có điểm OST độ 5 thì 100% thị

lực cuối cùng đạt được ≥ 20/40.

Theo nghiên cứu của Yu Wai Man (2010) [22] độ nhạy

cảm để dự đoán thị lực ra viện ST(+) hoặc tốt hơn của thang

điểm OTS là 97,4%. Để dự đoán mất thị lực cuối cùng (ST(-)

hoặc bỏ mắt) thì độ đặc hiệu của thang điểm OTS là 100%. Có

chung kết quả gần giống như vậy, trong nghiên cứu của Q.



60



Islam (2016) [23] độ nhảy cảm của thang điểm OTS để tiên

lượng thị cuối cùng ST(+) là 94,80%, và độ đặc hiệu của

thang điểm OTS với thị lực cuối cùng là ST(-) hoặc bỏ mắt là

100%.

Khi đánh giá giá trị của thang điểm OTS trên nhóm bệnh

nhân bị vết thương xuyên nhãn cầu có dị vật nội nhãn, Unal

MH (2008) [17] nhận thấy, thang điểm OTS hiện tại được coi

là một hệ thống dùng để chẩn đốn tiên lượng bởi vì nếu ta

biết và hiểu cách sử dụng nó, giá trị của việc chẩn đốn là

định lượng chứ khơng phải định tính, giá trị này đạt được từ

những biến đơn giản, có thể tính tốn được và hệ thống này

có thể dùng lại được. Giá trị của thang điểm OTS có thể tính

được từ số liệu ban đầu hoặc ngay lập tức sau lần phẫu thuật

đầu tiên để đưa cho chúng ta những thơng tin có giá trị về

tiên lượng [16].

Thang điểm OTS là một công cụ để đánh giá tiên lượng

thị lực trong các chấn thương nhãn cầu với các cơ chế chấn

thương khác nhau bao gồm cả vết thương xuyên nhãn cầu có

dị vật nội nhãn. Nghiên cứu của Zhu (2015) [29] trên nhóm

bệnh nhân bị nhiễm sắt do dị vật nội nhãn đã chỉ ra rằng kết

quả thị lực cuối cùng



tương đương với kết quả dự đốn ở



thang điểm OTS. Qua đó tác giả đưa ra kết luận thang điểm

OTS có thể đưa ra những tiên lượng thị lực của bệnh nhân

nhiễm sắt do dị vật nội nhãn sau phẫu thuật. Mức OTS cao có

xu hướng định hướng đến tiên lượng thị lực tốt hơn và đó là cơ

sở quan trọng có thể dựa vào để đưa ra những khuyến cáo

cho bệnh nhân và gia đình.



61



Cũng đưa ra kết luận tương tự, nghiên cứu của Burak

Turgut (2014) [19] nghiên cứu 114 bệnh nhân phải phẫu thuật

do chấn thương nhãn cầu đã kết luận thang điểm OTS là một

hệ thống có ích cho cả bác sĩ nhãn khoa và bệnh nhân để

cung cấp những thông tin về kết quả chấn thương và tiên

lượng. Thang điểm OTS sử dụng ít số lượng biến để có thể

quyết định tại thời điểm ban đầu ở phòng khám để tiên lượng

chức năng cuối cùng của đến 70-80% chỉ với bảng phân loại

thị lực ngay sau khi chấn thương. Với những giá trị OTS cao

giúp cho chúng ta có những thông tin định lượng để định

hướng tiên lượng thị lực tốt hơn.



62



KẾT LUẬN

Nghiên cứu đặc điểm tổn thương lâm sàng và ứng dụng thang điểm OTS

ở 90 bệnh nhân bị chấn thương nhãn cầu hở được điều trị tại khoa Chấn

thương Bệnh viện Mắt Trung ương từ năm 8/2017 đến 8/2018 chúng tôi rút ra

một số kết luận sau:

Chấn thương nhãn cầu hở gặp nhiều nhất ở lứa tuổi lao động 16-55

chiếm 70%. Gặp chủ yếu ở nam giới, tỷ lệ nam/nữ là 4,3 : 1. Đối tượng bị

chấn thương nhãn cầu hở chủ yếu là những người làm nghề chân tay với

56,7% tiếp đến là trẻ em/ học sinh chiếm 28,9%. Hoàn cảnh chấn thương chủ

yếu là sinh hoạt và lao động. Hình thái chấn thương nhãn cầu hở chủ yếu là

VTXNC với 61 BN chiếm 67,8%, tỷ lệ dị vật nội nhãn là 16,7%.

Đại đa số BN đến viện trong 24 giờ đầu (78,9%) sau chấn thương, tuy

nhiên vẫn có tỷ lệ BN bị chấn thương đến viện sau 72 giờ (8,9%).

Chấn thương nhãn cầu hở có biểu hiện lâm sàng nặng khi vào viện thị

lực chủ yếu dưới ở mức ST(+)/BBT (50%). Đặc biệt có 5,6% số mắt bị chấn

thương khi vào viện mất hoàn toàn thị lực.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổn thương chủ yếu ở giác mạc chiếm

76,7% (69 bệnh nhân), tỷ lệ kích thước vết thương từ 5mm trở xuống nhiều

nhất khi có 50 bệnh nhân chiếm 55,6%. Tổn thương mống mắt phòi kẹt

chiếm tỷ lệ cao với 43 bệnh nhân (47,8%) , tỷ lệ xuất huyết tiền phòng chiếm

tỉ lệ 44,4% với 40 bệnh nhân, tổn thương TTT chủ yếu là đục vỡ TTT và đục

khu trú TTT. Bong võng mạc chiếm 25,6%, viêm mủ nội nhãn chiếm 6,7%.

Chúng tôi nhận thấy có mối liên quan giữa thang điểm

OTS và thị lực cuối cùng (p=0,000). Nhóm bệnh nhân OTS

mức 1 ( 0-40 điểm) thì 100 % thị lực sau 3 tháng thị lực kém

hơn BBT, Nhóm OTS mức 2 (45-65 điểm) khơng có bệnh nhân nào có

thị lực cuối cùng là ST (-). Tuy nhiên cũng khơng có bệnh nhân nào có thị lực



63



cuối cùng >20/200. Ngược lại mức thang điểm OTS 4 và 5 thì

100% bệnh nhân có thị lực ≥ 20/40. Thang điểm OTS là thang

điểm hữu ích để đánh giá tiên lượng thị lực trong chấn thương

nhãn cầu hở.

Tiên lượng thị lực sau 3 tháng điều trị <20/200 của nhóm vỡ

nhãn cầu cao gấp 54,545 lần so với nhóm khơng có vỡ nhãn

cầu và của nhóm bong võng mạc cao gấp 70,125 lần so với

nhóm khơng có bong võng mạc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Một số yếu tố liên quan đến thị lực cuối cùng theo thang điểm OTS

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×