Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình thái chấn thương nhãn cầu hở chủ yếu là VTXNC với 61 BN chiếm 67,8%, vỡ nhãn cầu có 26 BN chiếm 28,9% và VTXTNC chỉ gặp 3 ca tương ứng vỡi 3,3%. Kết quả này tương đương với nghiên cứu Yu Meng và cộng sự (2015) [10] VTXNC chiếm tỉ lệ lớn với 61,12%,

Hình thái chấn thương nhãn cầu hở chủ yếu là VTXNC với 61 BN chiếm 67,8%, vỡ nhãn cầu có 26 BN chiếm 28,9% và VTXTNC chỉ gặp 3 ca tương ứng vỡi 3,3%. Kết quả này tương đương với nghiên cứu Yu Meng và cộng sự (2015) [10] VTXNC chiếm tỉ lệ lớn với 61,12%,

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



tương ứng vỡi 3,3%. Kết quả này tương đương với nghiên cứu Yu Meng và

cộng sự (2015) [10] VTXNC chiếm tỉ lệ lớn với 61,12%, trong nghiên cứu

của Q. Islam (2016) [23] tỉ lệ VTXNC là 63,55%.

Bảng 4.4. Tỷ lệ dị vật nội nhãn theo các tác giả

Tác giả

Q. Islam (2016) [23]

Yu Meng (2015) [10]

Oluyemi F (2011) [2]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Tỷ lệ dị vật nội nhãn

33,64

26,43%

4,4%

16,7%



Tỷ lệ dị vật nội nhãn trong nghiên cứu của chúng tôi là 16,7%, thấp hơn

nghiên cứu của Q. Islam (2016) [23] tỷ lệ dị vật nội nhãn là 33,64% và Yu

Meng (2015) [10] : 24,4%. Tỷ lệ dị vật nội nhãn trong nghiên cứu của chúng

tôi cao hơn nghiên cứu của Oluyemi F.

4.1.8 Đặc điểm thị lực lúc vào viện

Thị lực của bệnh nhân bị chấn thương nhãn cầu hở lúc vào viện thường

rất thấp phần lớn là từ ST(+)/BBT với 50% số bệnh nhân, thị lực ≥ 20/40 chỉ

có 3 BN (3,3%), có 5 mắt (5,6%) khi vào viện mất chức năng hoàn toàn.



51



Bảng 4.5. Thị lực vào viện của bệnh nhân CTNCH theo

các tác giả

Thị lực



ST(-)



ST(+)/ 1/200 – 20/200 ≥20/40



Tác giả

Yu Meng(2015) [10]



9,6%



BBT

46,8%



19/200 - 20/50

22%

17,8%



3,8%



X Liu (2014) [37]



9%



42,2%



21,7%



22,2%



4,9%



Rao L G (2010) [32]



7%



64%



6%



10%



12%



L.V.Cường, T.T.K.Vân



5,6%



50%



24,4%



16,7%



3,3%



(2018)

Chúng tôi cho rằng nguyên nhân thị lực lúc vào viện của bệnh nhân chấn

thương nhãn cầu hở thường ở mức thấp là do chấn thương nhãn cầu hở thường

rất nặng nề, bên cạnh các tổn thương thành nhãn cầu ( giác mạc, củng mạc) là

các tổn thương khác của môi trường trong suốt như xuất huyết tiền phòng, đục

vỡ thủy tinh thể, xuất huyết dịch kính… Khi đánh giá lại trong y văn chúng tôi

nhận thấy kết quả của chúng tôi tương đương tương với nghiên cứu của Yu

Meng(2015) [10], có 147 BN (46,8%) có thị lực là ST(+)/BBT, chỉ có 12 BN

(3,8%) có thị lực ≥20,40 và còn 9,6% bệnh nhân là thị lực ST(-). Rao L G

(2010) [32] có 44 bệnh nhân (64%) có thị lực lúc vào viện là ST(+)/BBT, có 5

bệnh nhân (7%) thị lực lúc vào viện là ST(-) và có 8 bệnh nhân (12%) có thị

lực vào viện ≥20/40.

4.2. Đặc điểm lâm sàng chấn thương nhãn cầu hở

4.2.1 Đặc điểm tổn thương giác mạc – củng mạc

Trong nghiên cứu của chúng tôi tổn thương chỉ đi qua giác mạc chiếm tỷ

lệ cao nhất 69 mắt (76,7%), tiếp theo là tổn thương giác củng mạc 19 mắt

(21,1%). Tổn thương củng mạc đơn thuần chỉ có 2,2%. Kết quả thu được của

chúng tôi tương đương với nghiên cứu của N.T.T. Yên(2014) [38] trên nhóm



52



trẻ em bị vết thương xuyên nhãn cầu nặng cần điều trị can thiệp cần điều trị

bằng cắt dịch kính với tỷ lệ tổn thương đi qua giác mạc chiếm tỷ lệ cao:

83,1%. Chúng tơi cho rằng giác mạc là phần nằm phía trước nhất của nhãn

cầu, ít được bảo vệ nhất bởi thành xương hốc mắt nên tỷ lệ chấn thương đi

qua giác mạc thường chiếm tỷ lệ cao. Khi đánh giá trong y văn chúng tôi nhận

thấy tỷ lệ tổn thương đi qua giác mạc đơn thuần của chúng tôi cao hơn các tác

giả khác như: Thompson C G (1997) [39] : 57%, Rao L G (2010) [32]: 53%.

4.2.2. Đặc điểm kích thước vết thương

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ kích thước vết thương từ 5mm

trở xuống nhiều nhất khi có 50 bệnh nhân chiếm 55,6%. Còn lại kích

thước từ 9 - 12mm và >12mm chiếm tỉ lệ rất ít với 6,7% và 3,3%.

Bảng 4.6. Kích thước vết thương theo các tác giả

Tác giả

Hani.S.A (2010) [14]

Mojca.G.P (2004) [40]

Chang (2017) [12]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Kích thước vết thương

<10 mm

> 10mm

88,6%

21,3%

78,8%

11,2%

72,8%

17,2%

90%

10%



Nghiên cứu của chúng tôi tương đương với các tác giả Hani, Mojca

và Chang với kích thước vết thương <10mm chiếm đa số.

4.2.3 Đặc điểm tổn thương mống mắt

Tổn thương mống mắt trong chấn thương nhãn cầu hở ở nghiên cứu

của chúng tôi chủ yếu là phòi kẹt mống mắt (47,8%).



Bảng 4.7. Tỷ lệ phòi kẹt mống mắt theo các tác giả

Tác giả

Chang (2017) [12]



Tỷ lệ phòi kẹt mống mắt

38,2%



53



Entezari. M (2006) [42]

Oluyemi F (2011) [2]

Rao L G (2010) [32]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



45%

68,1%

58%

47,8%



Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chang (2017) [12] và

nghiên cứu của Entezari. M (2006) [42] và thấp hơn nghiên cứu của

Oluyemi F (2011) [2] và Rao L G (2010) [32]. Ngun nhân có thể do kích

thước vết thương trong nghiên cứu của chúng tôi nhỏ ( chủ yếu <5mm) nên

nguy cơ phòi kẹt mống mắt ít hơn. Tỷ lệ khơng có tổn thương mống mắt trong

nghiên cứu của chúng tôi là 35,6%, cao hơn nghiên cứu của Chang (2017)

[12]: 10,6%.

4.2.4 Đặc điểm tổn thương tiền phòng

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ xuất huyết tiền phòng chiếm tỉ lệ

cao 44,4% với 40 bệnh nhân.

Bảng 4.8. Tỷ lệ xuất huyết tiền phòng theo các tác giả

Tác giả



Tỷ lệ %



Chang (2017) [12]



50%



Oluyemi F (2011) [2]



47,4%



Rao L G (2010) [32]



42%



L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



44,4%



Kết quả này của chúng tôi tương tự với các tác giả Chang (2017) [12],

Oluyemi F (2011) [2] và Rao L G (2010) [32]. Xuất huyết tiền phòng trong

chấn thương nhãn cầu hở thường do tác nhân xuyên qua thành của nhãn cầu

gây tổn thương mống mắt, thể mi dẫn đến xuất huyết tiền phòng. Các tổn

thương khác chiểm tỷ lệ nhỏ và gần tương đương nhau như mủ tiền phòng là

4 mắt (4,4%), xẹp tiền phòng là 9 mắt (10,1%), dị vật trong tiền phòng là



54



2mắt (2,2%), Chất nhân TTT có 7 mắt (7,8%).

4.2.5 Đặc điểm tổn thương thể thủy tinh

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa phần bệnh nhân bị chấn thương

nhãn cầu hở có tổn thương thể thủy tỉnh ở các mức độ và hình thái khác nhau

(73 mắt/81,1%), chỉ có 17 mắt (18,9%) là khơng có tổn thương thể thủy tinh.

Khi đánh giá kỹ hơn các tổn thương TTT chúng tôi nhận thấy TTT đục vỡ

chiếm tỷ lệ cao nhất (40 mắt/44,4%). Tiếp theo đó là tổn thương đục TTT

(23mắt/25,6%). Tổn thương lệch TTT là 4 mắt (4,4%). Trong đó có 1 mắt

TTT sa buồng dịch kính

Bảng 4.9. Tỷ lệ tổn thương TTT theo các tác giả

Tác giả

Oluyemi F (2011) [2]

Rao L G (2010) [32]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Tỷ lệ %

35%

41%

81,1%



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các tác giả Oluyemi F

(2011) [2] và Rao L G (2010) [32]. Trong số mắt tổn thương TTT thì phần lớn

là đục vỡ TTT, một số trường hợp là đục một phần và đục toàn bộ TTT, tỷ lệ

không thấy tổn thương TTT và không quan sát được TTT sau khi chấn thương

lần lượt là 18,9% và 3,3%.



55



4.2.6 Đặc điểm tổn thương dịch kính, võng mạc

Võng mạc bình thường có tỷ lệ cao với 48bệnh nhân (53,3%), có 23

bệnh nhân (25,6%) có bong võng mạc, 5 bệnh nhân (5,6%) bị hoại tử võng

mạc, và 8 bệnh nhân (8,9%) bong hắc mạc.

Bảng 4.10. Tỷ lệ bong võng mạc theo các tác giả

Tác giả

Rao L G (2010) [32]

Yu Meng(2015) [10]

Hatice D. I ( 2013) [33]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Tỷ lệ %

6%

10,1%

17%

25,6%



Tỷ lệ bệnh nhân bong võng mạc trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn các nghiên cứu Rao L G (2010) [32], Yu Meng(2015) [10] và Hatice D. I (

2013) [33].

4.3 Một số yếu tố liên quan đến thị lực cuối cùng theo thang điểm OTS

4.3.1 Liên quan hình thái chấn thương và thị lực cuối cùng

Hình thái chấn thương có mối quan đến thị lực sau 3

tháng với p=0.000. Chúng tôi nhận thấy vỡ nhãn cầu là một

yếu tố tiên lượng thị lực xấu cho bệnh nhân, trong tất cả 15

bệnh nhân có thị lực cuối cùng là ST (-) thì tất cả 15 bệnh

nhân đều bị vỡ nhãn cầu. Tỷ lệ thị lực <20/200 trong nhóm có

vỡ nhãn cầu và nhóm khơng có vỡ nhãn cầu tương ứng là

92,3% và 18% (sử dụng Chi – Square test), sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa 2 tỷ lệ này (P=0,000). Với tỷ suất chênh

OR = 54,545, khả năng thị lực <20/200 sau 3 tháng điều trị

của nhóm vỡ nhãn cầu cao gấp 54,545 lần so với nhóm khơng

có vỡ nhãn cầu. Theo Yu Meng và cộng sự (2015) [10], có đến

70,5% số mắt chấn thương vỡ nhãn cầu có thị lực cuối cùng <

20/200. Trong khi đó những mắt bị vết thương xuyên thấu



56



nhãn cầu có 68,18 % số mắt có thị lực cuối cùng là 20/200

hoặc tốt hơn.

Vỡ nhãn cầu thường xảy ra khi tác nhân gây bệnh là một

vật đầu tù, tác động vào mắt với một lực rất mạnh làm nhãn

cầu bị nén lại theo chiều trước sau dẫn đến tăng áp lực nội

nhãn mà hậu quả là nhãn cầu sẽ bị vỡ tại những vùng củng

mạc yếu nhất. Ở hình thái vỡ nhãn cầu, bên cạnh các yếu tố

nguy cơ của một chấn thương nhãn cầu hở (nhiễm trùng, phòi

kẹt tổ chức nội nhãn….) các tổ chức nội nhãn còn bị hủy hoại

dưới một lực tác động đụng dập rất mạnh làm tất các các

thành phần trong mắt đều bị tổn thương, đặc biệt là các tổn

thương liên quan đến thị thần kinh và các vết thương nhãn

cầu hở chạy sâu ra sau các cơ trực. Có lẽ đây là nhưng lý do lý

giải tại sao khi có vỡ nhãn cầu, mức thị lực ít hoặc không cải

thiện sau phẫu thuật điều trị.

4.3.2 Mối liên quan giữa thị lực lúc vào viện với thị lực cuối cùng

Khi đánh giá mối liên quan giưa thị lực vào viện và thị lực

sau ra viện 3 tháng, chúng tơi nhận thấy thị lực lúc vào viện

có liên quan chặt chẽ với thị lực ra viện (P=0,000). Thị lực vào

viện ở mức độ tốt tương ứng với mức thị lực sau ra viện 3

tháng tốt và ngược lại. Quan điểm này giống các tác giả

Hatice Deniz Ilhan (2013) [45], X Liu (2014) [36] đều cho rằng

thị lực vào viện tốt thì tiên lượng tốt hơn so với bệnh nhân vào

viện với thị lực ban đầu kém. Theo kết quả nghiên cứu của

Cruvinel Isaac (2003) [5] những bệnh nhân có thị lực kém

trước mổ có nguy cơ thị lực cuối cùng kém cao gấp 5,8 lần so

với nhóm có thị lực tốt trước phẫu thuật. Chúng tôi cho rằng,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình thái chấn thương nhãn cầu hở chủ yếu là VTXNC với 61 BN chiếm 67,8%, vỡ nhãn cầu có 26 BN chiếm 28,9% và VTXTNC chỉ gặp 3 ca tương ứng vỡi 3,3%. Kết quả này tương đương với nghiên cứu Yu Meng và cộng sự (2015) [10] VTXNC chiếm tỉ lệ lớn với 61,12%,

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×