Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thang điểm OTS được tính toán dựa trên 6 biến số chính: Thị lực ban đầu, chấn thương vỡ nhãn cầu, viêm mủ nội nhãn, bong võng mạc, vết thương xuyên thấu nhãn cầu và RAPD. Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các bệnh nhân đều không thể đánh giá được RA

Thang điểm OTS được tính toán dựa trên 6 biến số chính: Thị lực ban đầu, chấn thương vỡ nhãn cầu, viêm mủ nội nhãn, bong võng mạc, vết thương xuyên thấu nhãn cầu và RAPD. Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các bệnh nhân đều không thể đánh giá được RA

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



Bảng 3.9. Mối liên quan giữa hình thái chấn thương và

thị lực đạt được sau 3 tháng

TL3thangCT



Vỡ



nhãn



cầu

Hình thái VTXNC

VTXTNC

CT



n

tỷ lệ %

n

tỷ lệ %

n

tỷ lệ %



Tổng



20/200 -



1/200 -



ST(+)/



≥20/40



20/50



19/200



BBT



ST (-)



Tổng



1



1



7



7



10



26



3.8%



3.8%



26.9%



30



20



9



2



0



61



49.2%



32.8%



14.8%



3.3%



.0%



100.0%



0



0



2



1



0



3



.0%



.0%



66.7%



33.3%



.0%



100.0%



31



21



18



10



10



90



34.4%



23.3%



20.0%



26.9% 38.5% 100.0%



11.1% 11.1% 100.0%



P = 0,000



Khi đánh giá hình thái chấn thương nhãn cầu hở, chúng tôi nhận thấy

vết thương xuyên nhãn cầu chiếm đa số với 61 bệnh nhân (67,8%), tiếp theo

lần lượt là vỡ nhãn cầu 26 bệnh nhân (28,9%) và vết thương xuyên thấu nhãn

cầu có 3 ca (3,3%). Bảng 3.10 cho thấy, hình thái chấn thương có mối

liên quan đến thị lực đạt được sau 3 tháng (p=0.000), đặc biệt

hình thái chấn thương vỡ nhãn cầu làm giảm mức độ cải thiện

thị lực của bệnh nhân sau điều trị (p=0,000). Cụ thể, trong 26

ca vỡ nhãn cầu (28,9%) thì có đến 10 bệnh nhân (38.5%) có

thị lực sau 3 tháng là ST(-) và chỉ có 2 bệnh nhân (7.6%) có

thị lực >20/200.



42



3.3.2. Mối liên quan giữa thị lực lúc vào viện với thị lực cuối cùng

Bảng 3.10. Mối liên quan giữa thị lực vào viện và thị lực

đạt được sau 3 tháng

Thị lực vào viện



≥20/40



n

Tỷ lệ %



n

20/200 - 20/50 Tỷ lệ %

n

1/200 - 19/200 Tỷ lệ %

ST(+)/ BBT



ST (-)

Tổng



n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %



Thị lực sau 3 tháng

20/200 - 1/200 ST (+)/

≥20/40

3



20/50

0



19/200

0



BBT

0



ST (-)

0



Tổng

3



100.0%



.0%



.0%



.0%



.0%



100.0%



14



1



0



0



0



15



93.3%



6.7%



.0%



.0%



.0%



100.0%



11



7



4



0



0



22



50.0%



31.8%



18.2%



.0%



.0%



100.0%



3



13

28.9%



5

11.1%



0



0



0



10

22.2%

64,4%

0



45



6.7%



14

31.1%



5



5



.0%



.0%



.0%



.0%



100.0%



100.0%



31

34.4%



21

23.3%



18

20.0%



10

11.1%



10

11.1%



90

100.0%



100.0%



P=0,000



Bảng trên cho thấy, có mối liên quan giữa thị lực ban đầu

và thị lực sau ra viện 3 tháng (p=0.000). Nghĩa là, nếu thị lực

vào viện thấp thì mức thị lực sau ra viện 3 tháng tương ứng

cũng ở mức thấp. Cụ thể trong nghiên cứu của chúng tơi, ở

nhóm thị lực ban đầu là ST(-) thì 100% thị lực sau 3 tháng là

ST(-). Khi thị lực vào viện ở mức ST(+)/BBT thì có đến 64,4%

thị lực sau 3 tháng < 20/200 và chỉ có 6,7% có thị lực ra viện

≥20/40. Ngược lại, ở nhóm thị lực ban đầu ≥ 20/40 thì 100%



thị lực sau 3 tháng ≥ 20/40. Ở nhóm thị lực vào viện 1/200 19/200 thì 100% có thị lực sau 3 tháng >20/200, trong đó

93,3% có thị lực sau 3 tháng ≥20/40.



43



3.3.3. Mối liên quan giữa bong võng mạc và thị lực đạt được sau 3 tháng

Bảng 3.11. Mối liên quan giữa bong võng mạc và thị lực

đạt được sau 3 tháng

Thị lực sau 3 tháng

20/200 - 1/200 - ST (+)



Bong Võng mạc







N

Tỷ lệ %



Không



N

Tỷ lệ %



Tổng



N

Tỷ lệ %

P = 0,000



≥20/40

0



20/50

1



19/200

7



/BBT

5



ST (-)

10



Tổng

23



.0%



4.3%



30.4%



21.7%



43.5%



100.0%



5



0



67



7.5%



.0%



100.0%



10

11.1%



10

11.1%



90

100.0%



31

20

11

46.3%

29.9%

16.4%

76,2%

31

21

18

34.4%

23.3% 20.0%



Bong võng mạc có liên quan đến đến thị lực sau 3 tháng

(P = 0,000), nghĩa là nếu có bong võng mạc thì mức thị lực

sau ra viện 3 tháng tương ứng ở mức thấp. Trong 23 ca bong

võng mạc thì chỉ có 1 ca có thị lực ra viện sau 3 tháng

>20/200, khơng có ca nào có thị sau ra viện 3 tháng ≥20/40,

có đến 10 ca (43,5%) có thị sau ra viện 3 tháng là ST(-). Số

còn lại thị lực sau 3 tháng chỉ ở mức từ ST(+) đến 19/200. Ở

những bệnh nhân khơng có bong võng mạc thì khơng có trường hợp nào có

thị lực sau 3 tháng là ST(-), và có đến 51 bệnh nhân (76,2%) có thị lực sau 3

tháng >20/200.

3.3.4. Mối liên quan giữa viêm mủ nội nhãn và thị lực đạt được sau 3

tháng



44



Bảng 3.12 Mối liên quan giữa viêm mủ nội nhãn và thị

lực đạt được sau 3 tháng

Viêm mủ nội nhãn ≥20/40



Thị lực sau 3 tháng

20/200 1/200 ST (+)/BBT

20/50

19/200

0

3

1



n



0



Tỷ lệ %



.0%



.0%



50.0%



n



31



21



Tỷ lệ %

n



36.9%

31



Tỷ lệ %

P = 0,012



34.4%





Khơng

Tổng



ST (-)



Tổng



2



6



16.7%



33.3%



100.0%



15



9



8



84



25.0%

21



17.9%

18



10.7%

10



9.5%

10



100.0%

90



23.3%



20.0%



11.1%



11.1%



100.0%



Bảng 3.13 cho thấy viêm mủ nội nhãn có mối liên quan

đến thị lực sau 3 tháng (p = 0,012), nghĩa là nếu có viêm mủ

nội nhãn thì mức thị lực sau ra viện 3 tháng tương ứng ở mức

thấp. Trong nghiên cứu của chúng tơi có 100% trường hợp

viêm mủ nội nhãn có thị lực sau 3 tháng kém hơn 20/200,

trong khi khơng có viêm mủ nội nhãn thì thị lực khi sau 3

tháng có 61,9% có thị lực > 20/200 và chỉ có 9,5% có thị lực

sau 3 tháng là ST(-).



3.3.5 Mối liên quan giữa thang điểm OTS và thị lực cuối cùng



45



Bảng 3.13. Mối liên quan giữa điểm OTS và thị lực cuối

cùng của bệnh nhân sau 3 tháng

TL3thangCT

20/200 1/200 -



ĐIỂM OTS

n

tỷ lệ %



Mức 1



0-44



Mức 2



n

45-65 tỷ lệ %

n

66-80 tỷ lệ %



Mức 3



ST (+)



≥20/40

0



20/50

0



19/200

0



/BBT

5



ST (-)

10



Tổng

15



.0%



.0%



.0%



33.3%



66.7%



100.0%



0



0



17



5



0



22



.0%



.0%



77.3%



22.7%



.0%



100.0%



15



21



1



0



0



37



40.5%



56.8%



2.7%



.0%



.0%



100.0%



0



0



0



0



13



.0%



.0%



.0%



.0%



100.0%



0



0



0



0



3



100.0%



.0%



.0%



.0%



.0%



100.0%



31

34.4%



21

23.3%



18

20.0%



10

11.1%



10

11.1%



90

100.0%



n

13

81-91 tỷ lệ % 100.0%

n

3

Mức 4

92-100 tỷ lệ %

Mức 5

Tổng

P = 0,000



Qua bảng trên ta thấy có mối liên hệ giữa mức điểm OTS

với thị lực sau 3 tháng (p= 0,000). Ở nghiên cứu của chúng

tơi nhóm bệnh nhân OTS mức 1 (0-40 điểm) thì 100 % thị lực

sau 3 tháng thị lực kém hơn BBT, trong đó 10 bệnh nhân

(66.7%) có thị lực ST(-) và 5 bệnh nhân (33.3%) thị lực

ST(+)/BBT. Ngược lại mức thang điểm OTS 4 và 5 thì 100%

bệnh nhân có thị lực ≥20/40.



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thang điểm OTS được tính toán dựa trên 6 biến số chính: Thị lực ban đầu, chấn thương vỡ nhãn cầu, viêm mủ nội nhãn, bong võng mạc, vết thương xuyên thấu nhãn cầu và RAPD. Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các bệnh nhân đều không thể đánh giá được RA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×