Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả và tiên lượng thị lực

2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả và tiên lượng thị lực

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



mà còn phụ thuộc vào những yếu tố liên quan khác. Các yếu tố này bao gồm

1.2.1 Hình thái chấn thương

Theo Yu Meng và cộng sự (2015) [10] trong chấn thương

nhãn cầu hở vỡ nhãn cầu là một yếu tố tiên lượng thị lực xấu

cho bệnh nhân do trong nghiên cứu có đến 70,5% số mắt

chấn thương vỡ nhãn cầu có thị lực cuối cùng < 20/200. Trong

những mắt bị vết thương xuyên thấu nhãn cầu có 31,82% số

mắt có thị lực cuối cùng thấp hơn 20/200, và 68,18 % số mắt

có thị lực cuối cùng là 20/200 hoặc tốt hơn. Trong những mắt

bị vết thương xuyên nhãn cầu có 60,4% có thị lực cuối cùng

<20/200.

1.2.2 Hình thái chấn thương

Dị vật nội nhãn là một bệnh lý nặng, đặc biệt khi dị vật

nằm ở phía sau nhãn cầu. Dị vật nội nhãn không những phá

hủy cấu trúc của nhãn cầu mà còn gây biến chứng trầm trọng

như: nhiễm khuẩn nội nhãn, nhiễm kim loại nhãn cầu, bong

võng mạc… Theo nghiên cứu thống kê 287 bệnh nhân có dị

vật nội nhãn tại 5 năm viện mắt TW thì có tới 65,5% số mắt

có thị lực mù (thị lực < ĐNT 3m), trong đó có 4,2% mắt mất

chức năng [11]. Những dị vật nội nhãn bán phần sau nhãn

cầu nhất là vị trí gần hồng điểm có tiên lượng thị lực tồi do

tổn thương vùng hoàng điểm gây ra một ám điểm trung tâm

lớn và gây ra mất thị lực trung tâm.

1.2.3 Thị lực ban đầu

Theo đa số các nghiên cứu thì thị lực ban đầu khi vào

viện là yếu tố tiên lượng đến thị lực cuối cùng. Thị lực ban đầu



14



tốt thì thị lực cuối cùng cũng sẽ tốt và thị lực lúc vào viện xấu

thì thị lực ra viện sẽ tồi.

Kết quả nghiên cứu của Chang [12] đã cho thấy nếu thị

lực ban đầu < 10/200 thì đến 83% có thị lực ra viện < 10/200

và chỉ có 14,2% đạt thị lực ra viện ≥ 20/40. Ngược lại, ở nhóm

thị lực ban đầu ≥ 20/40 thì chỉ 5% thị lực ra viện là <10/200 và 90% thị

lực ra viện ≥ 20/40.

Theo kết quả nghiên cứu của Cruvinel Isaac [5] những bệnh nhân có thị

lực kém trước mổ có nguy cơ thị lực cuối cùng kém cao gấp 5,8 lần so với

nhóm có thị lực tốt trước phẫu thuật.

1.2.4 Tổn hại phản xạ đồng tử hướng tâm (RAPD: Relative Afferent

Pupillary Defect)

Tổn thương phản xạ đồng tử hướng tâm là một rối loạn dải thị hướng

tâm của con đường đáp ứng ánh sáng đồng tử.

Tổn thương phản xạ hướng tâm đồng tử gây ra bởi tín hiệu vào tới nhân

Edinger-Westphal khơng đối xứng do cấu trúc dải thị hướng tâm.

Nghiên cứu Rahman và cộng sự [13] cho thấy có 48% mắt tổn hại phản

xạ đồng tử hướng tâm bị bỏ mắt trong khi khơng có bệnh nhân nào bị bỏ mắt

nếu khơng bị tổn hại phản xạ đồng tử hướng tâm.

1.2.5 Bong võng mạc

Bong võng mạc là một trong những yếu tố đánh giá thi lực ra viện khi

mà trong nghiên cứu của Al-Mezaine HS và cộng sự [14] có đến 86,6% mắt bị

bong võng mạc có thị lực cuối cùng là kém hơn ĐNT, trong đó có 53,5% thị

lực kém hơn BBT. Ngược lại thì đến 57,5 % mắt khơng bị bong võng mạc có

thị lực cuối cùng ≥ 20/200.

Trong một nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị BVM



15



sau chấn thương do Thẩm Trương Khánh Vân và Đỗ Như Hơn tiến hành vào

năm 2004 [15] cho thấy 100% BVM do vết thương xuyên có tổn thương phối

hợp kèm theo, tại cuối thời điểm theo dõi 6 tháng tỷ lệ võng mạc áp tốt là

83,5%. Khơng có sự cải thiện về thị lực tại thời điểm ra viện, thị lực chỉ bắt

đầu cải thiện 1 tuần và dần ổn định tại thời điểm 1 tháng. Tại cuối thời điểm

theo dõi, khơng có bệnh nhân nào ở nhóm BVM đạt thị lực trên ĐNT 3m dù

rằng có tới 82,3% bệnh nhân có thể ĐNT ở các mức độ khác nhau.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi có bong võng mạc mặc dù đã điều trị

tích cực và được phẫu thuật cắt dịch kính kết hợp với các phương pháp khác

nhưng cũng chỉ thành công về mặt giải phẫu, còn mặt chức năng thì hạn chế.

1.2.6 Viêm mủ nội nhãn

Viêm mủ nội nhãn là một tình trạng viêm của các tổ chức nội nhãn đáp ứng

với sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh, dẫn đến phá hủy các thành phần dịch

kính, võng mạc, hắc mạc…và đây là một tình trạng bệnh lý nặng nề của mắt.

Điều trị viêm mủ nội nhãn gặp nhiều khó khăn do:

+ Nồng độ kháng sinh ngấm vào nội nhãn khi dùng đường toàn thân rất

thấp, chỉ từ 2 - 3 % nồng độ huyết thanh.

+ Nhãn cầu là một khoang kín làm cho sự dẫn lưu các yếu tố độc hại (vi

khuẩn, độc tố của vi khuẩn, các sản phẩm viêm, hoại tử và thối hóa) khó khăn.

+ Các tổ chức của nhãn cầu dễ bị tổn thương do kháng sinh và hóa chất

liều cao.

+ Nhiễm trùng nhiều khi được chữa khỏi nhưng những biến đổi về giải

phẫu cũng có thể làm mất chức năng nhãn cầu.

Theo Yu Meng và cộng sự [10], nếu có viêm mủ nội nhãn thì có đến 80%

mắt thị lực khi ra viện kém hơn 20/200, trong khi khơng có viêm mủ nội nhãn

thì thì lực khi ra viện tốt và xấu không khác nhau nhiều.

1.3 Thang điểm OTS



16



và ứng dụng

Năm 2002 Kulhn và cộng sự



[16] đã phát triển thang



điểm chấn thương mắt OTS (ocular trauma score) để tiên

lượng thị lực sau điều trị cho bệnh nhân chấn thương nhãn

cầu. Họ đã phân tích hơn 2500 mắt chấn thương từ Mỹ và

Hungary, và phân tích hơn 100 biến để dự đoán thị lực ra

viện. Thang điểm OST được tính điểm dựa trên 6 biến: Thị lực

ban đầu, chấn thương vỡ nhãn cầu, viêm mủ nội nhãn, vết

thương xuyên thấu nhãn cầu, bong võng mạc và RAPD.

Cách tính thang điểm OTS: trước tiên dựa vào thị lực ban

đầu của bệnh nhân khi đến khám sẽ tương ứng với số điểm

nhất định. Sau đó dựa vào các triệu chứng mà bệnh nhân có

như: chấn thương vỡ nhãn cầu, viêm mủ nội nhãn, vết thương

xuyên thấu nhãn cầu, bong võng mạc và RAPD mà trừ đi số

điểm tương ứng, triệu chứng nào khơng có sẽ là 0 điểm. Kết

quả thang điểm OTS sẽ là tổng số điểm của các biến, được

chia thành 5 độ để đánh giá tiên lượng thị lực có thể đạt được

sau điều trị. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh nhân có

OTS độ 1 và có thị lực ban đầu thấp sẽ có nguy cơ thị lực cuối

cùng kém hơn so với những bệnh nhân có OST độ 5 và có thị

lực ban đầu tốt.



17



Bảng 1. Thang điểm OTS và các biến số

Biến số



Điểm



Thị lực ban đầu

ST (-)



60



ST(+)/ BBT



70



1/200 – 19/200



80



20/200 – 20/50



90



≥ 20/40



100



CT vỡ NC



- 23



VMNN



- 17



VTXTNC



- 14



BVM



- 11



Tổn hại phản xạ đồng tử

hướng tâm



- 10



Cách tính thang điểm OTS rất đơn giản, nếu như biến số

khơng có trên bệnh nhân thì biến số sẽ nhận giá trị 0 điểm. Và

chúng ta cũng dễ dàng thấy rằng những thông tin cung cấp

bởi thang điểm OTS thì sẽ chính xác và tổng hợp hơn là nếu

như ta quyết định tiên lượng thị lực cuối cùng chỉ dựa vào một

biến đơn thuần ví dụ như thị lực ban đầu.

Thang điểm OTS hiện tại được coi là một hệ thống dùng

để chẩn đốn tiên lượng bởi vì nếu ta biết và hiểu cách sử

dụng nó, giá trị của việc chẩn đốn là định tính chứ khơng



18



phải định lượng, giá trị này đạt được từ những biến đơn giản,

có thể tính tốn được và hệ thống này thì hữu dụng có thể

dùng lại được [17]. Giá trị của thang điểm OTS có thể tính

được từ số liệu ban đầu hoặc ngay lập tức sau lần phẫu thuật

đầu tiên để đưa cho chúng ta những thơng tin có giá trị về

tiên lượng [16].

Cách tính tốn thang điểm OTS rất đơn giản và có thể

tính tốn cho hầu hết bệnh nhân, ai cũng có thể tự tính được

như bác sỹ nhãn khoa, những chuyên gia nghiên cứu sức khỏe

về cộng đồng, hoặc những nhà khoa học có sở thích nghiên

cứu về mắt chấn thương. Việc có bảng OTS ở phòng khám sẽ

giúp ích cho bác sỹ trong việc tiên lượng thị lực của bệnh

nhân cũng như đưa ra những khuyến cáo thích hợp.

Một điểm đáng ghi nhận ở thang điểm OTS là thang điểm

này là một công cụ đáng tin cậy để tiên lượng thị lực trong

chấn thương nhãn cầu hở cho bệnh nhân nhi kể cả khi không

xác định rõ ràng được RAPD [18].

Bảng 1.2. Chuyển đổi từ điểm sang OTS và tiên lượng

mức thị lực

có thể đạt được

Tổng

điểm



OTS



ST (-)



ST (+) /

BBT



1/20019/200



20/20020/50



≥ 20/40



0-44



1



74%



15%



7%



3%



1%



45-65



2



27%



26%



18%



15%



15%



66-80



3



2%



11%



15%



31%



41%



81-91



4



1%



2%



3%



22%



73%



92-100



5



0%



1%



1%



5%



94%



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả và tiên lượng thị lực

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×