Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỷ lệ dị vật nội nhãn

Tỷ lệ dị vật nội nhãn

Tải bản đầy đủ - 0trang

51



Bảng 4.5. Thị lực vào viện của bệnh nhân CTNCH theo

các tác giả

Thị lực



ST(-)



ST(+)/ 1/200 – 20/200 ≥20/40



Tác giả

Yu Meng(2015) [10]



9,6%



BBT

46,8%



19/200 - 20/50

22%

17,8%



3,8%



X Liu (2014) [37]



9%



42,2%



21,7%



22,2%



4,9%



Rao L G (2010) [32]



7%



64%



6%



10%



12%



L.V.Cường, T.T.K.Vân



5,6%



50%



24,4%



16,7%



3,3%



(2018)

Chúng tôi cho rằng nguyên nhân thị lực lúc vào viện của bệnh nhân chấn

thương nhãn cầu hở thường ở mức thấp là do chấn thương nhãn cầu hở thường

rất nặng nề, bên cạnh các tổn thương thành nhãn cầu ( giác mạc, củng mạc) là

các tổn thương khác của mơi trường trong suốt như xuất huyết tiền phòng, đục

vỡ thủy tinh thể, xuất huyết dịch kính… Khi đánh giá lại trong y văn chúng tôi

nhận thấy kết quả của chúng tôi tương đương tương với nghiên cứu của Yu

Meng(2015) [10], có 147 BN (46,8%) có thị lực là ST(+)/BBT, chỉ có 12 BN

(3,8%) có thị lực ≥20,40 và còn 9,6% bệnh nhân là thị lực ST(-). Rao L G

(2010) [32] có 44 bệnh nhân (64%) có thị lực lúc vào viện là ST(+)/BBT, có 5

bệnh nhân (7%) thị lực lúc vào viện là ST(-) và có 8 bệnh nhân (12%) có thị

lực vào viện ≥20/40.

4.2. Đặc điểm lâm sàng chấn thương nhãn cầu hở

4.2.1 Đặc điểm tổn thương giác mạc – củng mạc

Trong nghiên cứu của chúng tôi tổn thương chỉ đi qua giác mạc chiếm tỷ

lệ cao nhất 69 mắt (76,7%), tiếp theo là tổn thương giác củng mạc 19 mắt

(21,1%). Tổn thương củng mạc đơn thuần chỉ có 2,2%. Kết quả thu được của

chúng tơi tương đương với nghiên cứu của N.T.T. Yên(2014) [38] trên nhóm



52



trẻ em bị vết thương xuyên nhãn cầu nặng cần điều trị can thiệp cần điều trị

bằng cắt dịch kính với tỷ lệ tổn thương đi qua giác mạc chiếm tỷ lệ cao:

83,1%. Chúng tôi cho rằng giác mạc là phần nằm phía trước nhất của nhãn

cầu, ít được bảo vệ nhất bởi thành xương hốc mắt nên tỷ lệ chấn thương đi

qua giác mạc thường chiếm tỷ lệ cao. Khi đánh giá trong y văn chúng tôi nhận

thấy tỷ lệ tổn thương đi qua giác mạc đơn thuần của chúng tôi cao hơn các tác

giả khác như: Thompson C G (1997) [39] : 57%, Rao L G (2010) [32]: 53%.

4.2.2. Đặc điểm kích thước vết thương

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ kích thước vết thương từ 5mm

trở xuống nhiều nhất khi có 50 bệnh nhân chiếm 55,6%. Còn lại kích

thước từ 9 - 12mm và >12mm chiếm tỉ lệ rất ít với 6,7% và 3,3%.

Bảng 4.6. Kích thước vết thương theo các tác giả

Tác giả

Hani.S.A (2010) [14]

Mojca.G.P (2004) [40]

Chang (2017) [12]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Kích thước vết thương

<10 mm

> 10mm

88,6%

21,3%

78,8%

11,2%

72,8%

17,2%

90%

10%



Nghiên cứu của chúng tôi tương đương với các tác giả Hani, Mojca

và Chang với kích thước vết thương <10mm chiếm đa số.

4.2.3 Đặc điểm tổn thương mống mắt

Tổn thương mống mắt trong chấn thương nhãn cầu hở ở nghiên cứu

của chúng tơi chủ yếu là phòi kẹt mống mắt (47,8%).



Bảng 4.7. Tỷ lệ phòi kẹt mống mắt theo các tác giả

Tác giả

Chang (2017) [12]



Tỷ lệ phòi kẹt mống mắt

38,2%



53



Entezari. M (2006) [42]

Oluyemi F (2011) [2]

Rao L G (2010) [32]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



45%

68,1%

58%

47,8%



Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chang (2017) [12] và

nghiên cứu của Entezari. M (2006) [42] và thấp hơn nghiên cứu của

Oluyemi F (2011) [2] và Rao L G (2010) [32]. Ngun nhân có thể do kích

thước vết thương trong nghiên cứu của chúng tôi nhỏ ( chủ yếu <5mm) nên

nguy cơ phòi kẹt mống mắt ít hơn. Tỷ lệ khơng có tổn thương mống mắt trong

nghiên cứu của chúng tôi là 35,6%, cao hơn nghiên cứu của Chang (2017)

[12]: 10,6%.

4.2.4 Đặc điểm tổn thương tiền phòng

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ xuất huyết tiền phòng chiếm tỉ lệ

cao 44,4% với 40 bệnh nhân.

Bảng 4.8. Tỷ lệ xuất huyết tiền phòng theo các tác giả

Tác giả



Tỷ lệ %



Chang (2017) [12]



50%



Oluyemi F (2011) [2]



47,4%



Rao L G (2010) [32]



42%



L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



44,4%



Kết quả này của chúng tôi tương tự với các tác giả Chang (2017) [12],

Oluyemi F (2011) [2] và Rao L G (2010) [32]. Xuất huyết tiền phòng trong

chấn thương nhãn cầu hở thường do tác nhân xuyên qua thành của nhãn cầu

gây tổn thương mống mắt, thể mi dẫn đến xuất huyết tiền phòng. Các tổn

thương khác chiểm tỷ lệ nhỏ và gần tương đương nhau như mủ tiền phòng là

4 mắt (4,4%), xẹp tiền phòng là 9 mắt (10,1%), dị vật trong tiền phòng là



54



2mắt (2,2%), Chất nhân TTT có 7 mắt (7,8%).

4.2.5 Đặc điểm tổn thương thể thủy tinh

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa phần bệnh nhân bị chấn thương

nhãn cầu hở có tổn thương thể thủy tỉnh ở các mức độ và hình thái khác nhau

(73 mắt/81,1%), chỉ có 17 mắt (18,9%) là khơng có tổn thương thể thủy tinh.

Khi đánh giá kỹ hơn các tổn thương TTT chúng tôi nhận thấy TTT đục vỡ

chiếm tỷ lệ cao nhất (40 mắt/44,4%). Tiếp theo đó là tổn thương đục TTT

(23mắt/25,6%). Tổn thương lệch TTT là 4 mắt (4,4%). Trong đó có 1 mắt

TTT sa buồng dịch kính

Bảng 4.9. Tỷ lệ tổn thương TTT theo các tác giả

Tác giả

Oluyemi F (2011) [2]

Rao L G (2010) [32]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Tỷ lệ %

35%

41%

81,1%



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các tác giả Oluyemi F

(2011) [2] và Rao L G (2010) [32]. Trong số mắt tổn thương TTT thì phần lớn

là đục vỡ TTT, một số trường hợp là đục một phần và đục toàn bộ TTT, tỷ lệ

không thấy tổn thương TTT và không quan sát được TTT sau khi chấn thương

lần lượt là 18,9% và 3,3%.



55



4.2.6 Đặc điểm tổn thương dịch kính, võng mạc

Võng mạc bình thường có tỷ lệ cao với 48bệnh nhân (53,3%), có 23

bệnh nhân (25,6%) có bong võng mạc, 5 bệnh nhân (5,6%) bị hoại tử võng

mạc, và 8 bệnh nhân (8,9%) bong hắc mạc.

Bảng 4.10. Tỷ lệ bong võng mạc theo các tác giả

Tác giả

Rao L G (2010) [32]

Yu Meng(2015) [10]

Hatice D. I ( 2013) [33]

L.V.Cường, T.T.K.Vân (2018)



Tỷ lệ %

6%

10,1%

17%

25,6%



Tỷ lệ bệnh nhân bong võng mạc trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn các nghiên cứu Rao L G (2010) [32], Yu Meng(2015) [10] và Hatice D. I (

2013) [33].

4.3 Một số yếu tố liên quan đến thị lực cuối cùng theo thang điểm OTS

4.3.1 Liên quan hình thái chấn thương và thị lực cuối cùng

Hình thái chấn thương có mối quan đến thị lực sau 3

tháng với p=0.000. Chúng tôi nhận thấy vỡ nhãn cầu là một

yếu tố tiên lượng thị lực xấu cho bệnh nhân, trong tất cả 15

bệnh nhân có thị lực cuối cùng là ST (-) thì tất cả 15 bệnh

nhân đều bị vỡ nhãn cầu. Tỷ lệ thị lực <20/200 trong nhóm có

vỡ nhãn cầu và nhóm khơng có vỡ nhãn cầu tương ứng là

92,3% và 18% (sử dụng Chi – Square test), sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa 2 tỷ lệ này (P=0,000). Với tỷ suất chênh

OR = 54,545, khả năng thị lực <20/200 sau 3 tháng điều trị

của nhóm vỡ nhãn cầu cao gấp 54,545 lần so với nhóm khơng

có vỡ nhãn cầu. Theo Yu Meng và cộng sự (2015) [10], có đến

70,5% số mắt chấn thương vỡ nhãn cầu có thị lực cuối cùng <

20/200. Trong khi đó những mắt bị vết thương xuyên thấu



56



nhãn cầu có 68,18 % số mắt có thị lực cuối cùng là 20/200

hoặc tốt hơn.

Vỡ nhãn cầu thường xảy ra khi tác nhân gây bệnh là một

vật đầu tù, tác động vào mắt với một lực rất mạnh làm nhãn

cầu bị nén lại theo chiều trước sau dẫn đến tăng áp lực nội

nhãn mà hậu quả là nhãn cầu sẽ bị vỡ tại những vùng củng

mạc yếu nhất. Ở hình thái vỡ nhãn cầu, bên cạnh các yếu tố

nguy cơ của một chấn thương nhãn cầu hở (nhiễm trùng, phòi

kẹt tổ chức nội nhãn….) các tổ chức nội nhãn còn bị hủy hoại

dưới một lực tác động đụng dập rất mạnh làm tất các các

thành phần trong mắt đều bị tổn thương, đặc biệt là các tổn

thương liên quan đến thị thần kinh và các vết thương nhãn

cầu hở chạy sâu ra sau các cơ trực. Có lẽ đây là nhưng lý do lý

giải tại sao khi có vỡ nhãn cầu, mức thị lực ít hoặc không cải

thiện sau phẫu thuật điều trị.

4.3.2 Mối liên quan giữa thị lực lúc vào viện với thị lực cuối cùng

Khi đánh giá mối liên quan giưa thị lực vào viện và thị lực

sau ra viện 3 tháng, chúng tơi nhận thấy thị lực lúc vào viện

có liên quan chặt chẽ với thị lực ra viện (P=0,000). Thị lực vào

viện ở mức độ tốt tương ứng với mức thị lực sau ra viện 3

tháng tốt và ngược lại. Quan điểm này giống các tác giả

Hatice Deniz Ilhan (2013) [45], X Liu (2014) [36] đều cho rằng

thị lực vào viện tốt thì tiên lượng tốt hơn so với bệnh nhân vào

viện với thị lực ban đầu kém. Theo kết quả nghiên cứu của

Cruvinel Isaac (2003) [5] những bệnh nhân có thị lực kém

trước mổ có nguy cơ thị lực cuối cùng kém cao gấp 5,8 lần so

với nhóm có thị lực tốt trước phẫu thuật. Chúng tôi cho rằng,



57



bệnh có thị lực ban đầu cao chứng tỏ các vết thương ban đầu

ít đi qua và ảnh hưởng đến trục thị giác, các tổn thương phối

hợp cũng thường ít và ở mức độ nhẹ. Chính vì vậy, thị lực thu

được sau điều trị thường tương đối tốt.

4.3.3 Mối liên quan giữa bong võng mạc và thị lực đạt được sau 3 tháng

Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 10 ca có thị lực

cuối cùng là ST(-) đều có bong võng mạc, và trong tất cả 23

ca có bong võng mạc thì khơng có ca nào có thị lực cuối cùng

≥20/40. Bong võng mạc là một trong những yếu tố ảnh hưởng

đến khả năng phục hồi thi lực. Nghiên cứu của Al-Mezaine HS

và cộng sự (2010) [14] trên nhóm bệnh nhân bị chấn thương

nhãn cầu hở cho thấy, có đến 86,6% mắt bị bong võng mạc

chỉ đạt được mức thị lực cuối cùng là kém hơn ĐNT, trong đó

có tới 53,5% thị lực kém hơn BBT. Ngược lại thì đến 57,5 %

mắt khơng bị bong võng mạc có thị lực cuối cùng ≥ 20/200.

Trong một nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả

điều trị BVM sau chấn thương do Thẩm Trương Khánh Vân và

Đỗ Như Hơn tiến hành vào năm 2004 [15] cho thấy 100% BVM

do vết thương xuyên có tổn thương phối hợp kèm theo, tại

cuối thời điểm theo dõi 6 tháng tỷ lệ võng mạc áp tốt là

83,5%. Tuy nhiên, khơng có bệnh nhân nào ở nhóm BVM đạt

thị lực trên ĐNT 3m dù rằng có tới 82,3% bệnh nhân có thể

ĐNT ở các mức độ khác nhau.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mắt chấn thương nhãn

cầu hở khi có bong võng mạc mặc dù đã điều trị tích cực cũng

chỉ thành cơng về mặt giải phẫu, còn cải thiện về mặt chức

năng thì còn hạn chế [46], [47].



58



Tỷ lệ thị lực <20/200 trong nhóm có bong võng mạc và

nhóm khơng có bong võng mạc tương ứng là 95,7% và 23,9%

(Chi – Square test), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 tỷ

lệ này (P=0,000). Với tỷ suất chênh OR = 70,125, khả năng

thị lực <20/200 sau 3 tháng điều trị của nhóm bong võng mạc

cao gấp 70,125 lần so với nhóm khơng có bong võng mạc.

4.3.4 Liên quan viêm mủ nội nhãn và thị lực cuối cùng

Viêm mủ nội nhãn có mối liên quan đến thị lực sau 3 tháng (p=0,012),

nghĩa là khi có viêm mủ nội nhãn đi kèm, tiên lượng về mặt thị lực của bệnh

nhân sau 3 tháng sẽ bị giảm đi rất nhiều. Kết quả này tương đồng với kết quả

nghiên cứu của Meng Y và cộng sự [10]. Nếu có viêm mủ nội nhãn thì có đến

80% mắt thị lực khi ra viện kém hơn 20/200, trong khi khơng có viêm mủ nội

nhãn thì thì lực khi ra viện tốt và xấu khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê.

Viêm mủ nội nhãn là một thàm họa trong nhãn khoa, dù điều trị tích cực

nhưng kết quả thường rất xấu, nhiều mắt bị teo nhãn cầu, mất nhận thức ánh

sáng, thậm chí đau nhức phải khoét bỏ. Theo tác giả X Liu [36] trong 18

bệnh nhân viêm mủ nội nhãn thì có 55,6% thị lực sau điều trị dưới 20/200.

Điều trị viêm mủ nội nhãn gặp nhiều khó khăn do nồng độ kháng sinh

ngấm vào nội nhãn khi dùng đường toàn thân rất thấp, chỉ từ 2 - 3 % nồng độ

huyết thanh. Mặt khác, nhãn cầu là một khoang kín làm cho sự dẫn lưu các

yếu tố độc hại (vi khuẩn, độc tố của vi khuẩn, các sản phẩm viêm, hoại tử và

thối hóa) khó khan. Hơn nữa, các tổ chức của nhãn cầu dễ bị tổn thương do

kháng sinh và hóa chất liều cao, nhiễm trùng nhiều khi được chữa khỏi nhưng

những biến đổi về giải phẫu cũng có thể làm mất chức năng nhãn cầu….Vì

những lý do nêu trên, khi có viêm mủ nội nhãn, thị lực sau ra viện của bệnh

nhân thường phục hồi không tốt

4.3.5 Liên quan thang điểm OTS và thị lực cuối cùng



59



Nghiên cứu của chúng tơi cho thấy có mối liên quan giữa

thang điểm OTS và thị lực cuối cùng (p=0,000). Nhóm bệnh

nhân có điểm OTS mức 1 (0-40 điểm) thì 100 % thị lực sau 3

tháng kém hơn BBT. Nhóm có điểm OTS mức 2 (45-65 điểm)

khơng có bệnh nhân nào có thị lực cuối cùng là ST (-). Tuy nhiên cũng khơng

có bệnh nhân nào có thị lực cuối cùng >20/200. Ngược lại mức thang

điểm OTS 4 và 5 thì 100% bệnh nhân có thị lực ≥20/40. Kết

quả thu được của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của

Hossain A (2014) [24] Và Meng Y (2015) [10]. Hossain A khi

sử dụng thang điểm OTS để đánh giá thị lực cuối cùng trên

nhóm trẻ từ 4 – 16 tuổi bị chấn thương nhãn cầu hở nhận

thấy, ở các bệnh nhân có điểm OTS mức 1 thì tiên lượng thị

lực rất xấu với 93,3% có thị lực cuối cùng là ST(-). Ngược lại

những bệnh nhân có điểm OTS ở mức 5 thì tiên lượng tốt khi

89,6% bệnh nhân ở nhóm này có thị lực cuối cùng > 20/200.

Nghiên cứu của Meng Y [10] nhằm xác định các yếu tố tiên

lượng thị lực và mối liên quan với thang điểm OTS trên 298

bệnh nhân bị chấn thương nhãn cầu hở cho thấy, những mắt

có điểm OTS độ 1 (0-44 điểm) chỉ có 16,98% có thị lực cuối

cùng ≥ 20/200, trong khi đó có tới 30,19% có thị lực cuối cùng

là ST(-). Ngược lại ở những mắt có điểm OST độ 5 thì 100% thị

lực cuối cùng đạt được ≥ 20/40.

Theo nghiên cứu của Yu Wai Man (2010) [22] độ nhạy

cảm để dự đoán thị lực ra viện ST(+) hoặc tốt hơn của thang

điểm OTS là 97,4%. Để dự đoán mất thị lực cuối cùng (ST(-)

hoặc bỏ mắt) thì độ đặc hiệu của thang điểm OTS là 100%. Có

chung kết quả gần giống như vậy, trong nghiên cứu của Q.



60



Islam (2016) [23] độ nhảy cảm của thang điểm OTS để tiên

lượng thị cuối cùng ST(+) là 94,80%, và độ đặc hiệu của

thang điểm OTS với thị lực cuối cùng là ST(-) hoặc bỏ mắt là

100%.

Khi đánh giá giá trị của thang điểm OTS trên nhóm bệnh

nhân bị vết thương xuyên nhãn cầu có dị vật nội nhãn, Unal

MH (2008) [17] nhận thấy, thang điểm OTS hiện tại được coi

là một hệ thống dùng để chẩn đốn tiên lượng bởi vì nếu ta

biết và hiểu cách sử dụng nó, giá trị của việc chẩn đốn là

định lượng chứ khơng phải định tính, giá trị này đạt được từ

những biến đơn giản, có thể tính tốn được và hệ thống này

có thể dùng lại được. Giá trị của thang điểm OTS có thể tính

được từ số liệu ban đầu hoặc ngay lập tức sau lần phẫu thuật

đầu tiên để đưa cho chúng ta những thơng tin có giá trị về

tiên lượng [16].

Thang điểm OTS là một công cụ để đánh giá tiên lượng

thị lực trong các chấn thương nhãn cầu với các cơ chế chấn

thương khác nhau bao gồm cả vết thương xuyên nhãn cầu có

dị vật nội nhãn. Nghiên cứu của Zhu (2015) [29] trên nhóm

bệnh nhân bị nhiễm sắt do dị vật nội nhãn đã chỉ ra rằng kết

quả thị lực cuối cùng



tương đương với kết quả dự đoán ở



thang điểm OTS. Qua đó tác giả đưa ra kết luận thang điểm

OTS có thể đưa ra những tiên lượng thị lực của bệnh nhân

nhiễm sắt do dị vật nội nhãn sau phẫu thuật. Mức OTS cao có

xu hướng định hướng đến tiên lượng thị lực tốt hơn và đó là cơ

sở quan trọng có thể dựa vào để đưa ra những khuyến cáo

cho bệnh nhân và gia đình.



61



Cũng đưa ra kết luận tương tự, nghiên cứu của Burak

Turgut (2014) [19] nghiên cứu 114 bệnh nhân phải phẫu thuật

do chấn thương nhãn cầu đã kết luận thang điểm OTS là một

hệ thống có ích cho cả bác sĩ nhãn khoa và bệnh nhân để

cung cấp những thông tin về kết quả chấn thương và tiên

lượng. Thang điểm OTS sử dụng ít số lượng biến để có thể

quyết định tại thời điểm ban đầu ở phòng khám để tiên lượng

chức năng cuối cùng của đến 70-80% chỉ với bảng phân loại

thị lực ngay sau khi chấn thương. Với những giá trị OTS cao

giúp cho chúng ta có những thơng tin định lượng để định

hướng tiên lượng thị lực tốt hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ dị vật nội nhãn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×