Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
có thể đạt được

có thể đạt được

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



Nhìn vào bảng trên ta thấy Nếu thang điểm OTS ở mức 1

tương ứng với điểm 0-44 thì có đến 74% khả năng thị lực cuối

cùng sẽ là ST (-), trong khi đó nếu OTS ở mức 5 thì tiên lượng

thị lực rất tốt khi có đến 94% thị lực cuối cùng sẽ > 20/40.

Nghiên cứu của Burak Turgut [28] trên 114 bệnh nhân phải phẫu thuật

do chấn thương nhãn cầu đã kết luận thang điểm OTS là một hệ thống có ích

cho cả bác sĩ nhãn khoa và bệnh nhân để cung cấp những thông tin về kết quả

chấn thương và tiên lượng. Chỉ với bảng phân loại thị lực ngay sau khi chấn

thương đã có thể quyết định tại thời điểm ban đầu ở phòng khám để tiên

lượng chức năng cuối cùng của đến 70-80%. Với những giá trị OTS cao giúp

cho chúng ta tiên lượng thị lực tốt hơn.

Nhờ sự tiện lợi và cách tính điểm dễ dàng của thang

điểm OTS đã cho phép bác sỹ, y tá ở những trình độ kinh

nghiệm khác nhau có thể đưa ra những hiểu biết chung về

tiên lượng bệnh cho bệnh nhân và gia đình. Tuy nhiên thang

điểm OTS cũng không thể thay thế những đánh giá của những

nhà lâm sàng



giỏi và có kinh nghiệm, thêm vào đó thang



điểm OTS chỉ có giá trị nếu tất cả những dữ liệu được cung

cấp một cách chính xác để quản lý tình trạng chấn thương

nhãn cầu.

1.4 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới

Nghiên cứu của Phan Đức Khâm và cộng sự (2005), trên 33 mắt bị đục

thể thủy tinh do vết thương xuyên có dị vật nội nhãn, nhận thấy thị lực dưới

0,1 của mắt bị vết thương xuyên có dị vật nội nhãn chiếm 12,5%. Chấn

thương xuyên có dị vật nội nhãn là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến thị

lực, đặc biệt là dị vật ở bán phần sau nhãn cầu [20].

Kết quả nghiên cứu của Trần Quyết (2015) chỉ ra một số yếu tố ảnh



20



hưởng đến kết quả thị lực: tuổi bệnh nhân càng nhỏ, thị lực vào viện ban

đầu kém, kích thước vết thương lớn trên 5mm, vị trí vết thương, sự có mặt

của bong võng mạc và viêm mủ nội nhãn là những yếu tố tiên lượng thị

lực kém sau điều trị [21].

Ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào về OTS.

Theo nghiên cứu của Yu Wai Man [22] độ nhạy cảm để

dự đoán thị lực ra viện ST(+) hoặc tốt hơn của thang điểm

OTS là 97,4%. Để dự đoán mất thị lực cuối cùng (ST(-) hoặc

bỏ mắt) thì độ đặc hiệu của OTS là 100%.

Có chung kết quả gần giống như vậy, trong nghiên cứu

của Q. Islam [23] độ nhảy cảm của thang điểm OTS để tiên

lượng thị cuối cùng ST(+) là 94,80%, và độ đặc hiệu của

thang điểm OTS với thị lực cuối cùng là ST(-) hoặc bỏ mắt là

100%.

Nghiên cứu của Yu Meng [10] cho thấy những mắt OTS

độ 1 chỉ có 16,98% có thị lực cuối cùng ≥ 20/200, trong khi đó

có tới 30,19% có thị lực cuối cùng là ST(-). Ngược lại ở những

mắt OST độ 5 thì 100% thị lực cuối cùng đạt được ≥ 20/40.

Nghiên cứu của Hossain [24] với những trẻ từ 4 – 16 tuổi thì thang

điểm OTS mức 1 có tiên lượng thị lực rất xấu với 93,3% có thị lực cuối cùng

là ST(-), và những bệnh nhân có điểm OTS ở mức 5 có tiên lượng tốt khi

89,6% bệnh nhân ở nhóm này có thị lực cuối cùng > 20/200.

Shah [25] nghiên cứu cho thấy khơng có sự khác biệt về thị lực ở tuần

thứ 6 và thị lực dự đoán của thang điểm OTS trong chấn thương đục TTT.

Nghiên cứu này cũng kết luận rằng dùng thang điểm OTS để tiên lượng thị

lực cuối cùng trong chấn thương đục TTT là đáng tin cậy.

Trong một nghiên cứu khác của Ozec at al [26] đã tính chỉ số OTS của 125

bệnh nhân và đã kết luận rằng thị lực cuối cùng sau 1 năm tương ứng với tiên lượng

thị lực của thang điểm OTS. Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng thang điểm



21



OTS có liên quan mật thiết đến thị lực cùng của bệnh nhân [27], [28].

Thang điểm OTS là một công cụ để đánh giá tiên lượng thị lực trong

các chấn thương nhãn cầu với các cơ chế chấn thương khác nhau bao gồm cả

vết thương xuyên nhãn cầu có dị vật nội nhãn. Nghiên cứu của Zhu [29] trên

nhóm bệnh nhân bị nhiễm sắt do dị vật nội nhãn đã chỉ ra rằng kết quả thị lực

cuối cùng tương đương với kết quả dự đoán ở thang điểm OTS. Qua đó tác

giả đưa ra kết luận thang điểm OTS có thể đưa ra những tiên lượng thị lực của

bệnh nhân nhiễm sắt do dị vật nội nhãn sau phẫu thuật. Mức OTS cao có xu

hướng định hướng đến tiên lượng thị lực tốt hơn và đó là cơ sở quan trọng có

thể dựa vào để đưa ra những khuyến cáo cho bệnh nhân và gia đình.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân bị chấn thương nhãn cầu hở đã được điều trị

tại khoa Chấn thương Bệnh viện Mắt Trung ương từ 8/2017

đến 8/2018.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán chấn thương nhãn

cầu hở đã điều trị tại khoa Chấn thương, có hồ sơ bệnh án lưu

tại Bệnh viện Mắt Trung ương khơng có chỉ dịnh bỏ nhãn cầu.

- Có điều kiện theo dõi thường xuyên.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Có tiền sử bệnh lý nhãn cầu trước đó.

- Thơng tin thị lực khơng rõ ràng (ví dụ bệnh nhân quá

nhỏ), bệnh nhân già yếu, bệnh toàn thân nặng, không phối

hợp thăm khám



22



2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mô tả tiến cứu không có nhóm chứng.

2.2.2. Cỡ mẫu

Cơng thức tính cỡ mẫu

Trong đó: n: cỡ mẫu (đơn vị là mắt)

P: tỷ lệ chấn thương nhãn cầu hở từ nghiên

cứu trước

1-p: là đối tượng khơng có bệnh

: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tham số

mẫu và tham số quần thể, chọn = 0,1

α: Mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05

Z: giá trị Z thu được ứng với giá trị α

với α = 0,05 thì Z = 1,96

Lấy p = 0,707 theo nghiên cứu của Wang

[30], từ cơng thức trên tính ra n ≈ 79,58 nghiên cứu của chúng

tơi có n = 90

2.2.3. Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu toàn thể liên tục các bệnh nhân bị chấn

thương nhãn cầu hở đáp ứng được tiêu chuẩn lựa chọn của

nghiên cứu

2.2.4. Phương tiện nghiện cứu

+ Bảng thị lực snellen

+ Nhãn áp kế Maclakov

+ Kính sinh hiển vi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

có thể đạt được

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×