Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình ảnh siêu âm có dịch trong BTC chiếm tỷ lệ cao nhất là 65,8% sau đó là hình ảnh BTC có khối AVKĐN chiếm 25% và ít nhất là niêm mạc tử cung dày không đều 9,2%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (Bảng 3.10). Tỷ lệ hình ảnh có dịch trong B

Hình ảnh siêu âm có dịch trong BTC chiếm tỷ lệ cao nhất là 65,8% sau đó là hình ảnh BTC có khối AVKĐN chiếm 25% và ít nhất là niêm mạc tử cung dày không đều 9,2%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (Bảng 3.10). Tỷ lệ hình ảnh có dịch trong B

Tải bản đầy đủ - 0trang

71



thối hóa và 7%(Biểu đồ 3.9). Kết quả này tương tự như trong nghiên cứu của

các tác giả khác như Phạm Thị Trang [11], Nguyễn Thùy Nhung [28] viêm

niêm mạc tử cung chiếm 56,4%, giải phẫu bệnh là gai rau chiếm 15,4% và

hoại tử huyết chiếm 12,8%.

Điều này cho thấy nếu chỉ dựa vào kết quả GPBL nao, hút BTC chỉ chẩn

đốn được hơn 50% các trường hợp còn gần 50% các trường hợp sẽ bị bỏ sót.

Mặt khác kết quả GPBL thường sau 1 tuần mới có kết quả nếu như chờ có kết

quả GPBL mới bắt đầu điều trị thì sẽ bị chậm trễ trong điều trị làm tăng khó

khăn cho điều trị gây nhiều biến chứng cho sản phụ. Vì vậy ngồi GPBL là

tiêu chuẩn vàng để chẩn đốn VNMTC cần có các tiêu chuẩn lâm sàng và cận

lâm sàng khác để chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời VNMTC.

4.3. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VIÊM NIÊM MẠC TỬ CUNG SAU

MỔ LẤY THAI VÀ HIỆU QUẢ CỦA TỪNG PHƯƠNG PHÁP

4.3.1. Phương pháp điều trị viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy thai

Trong 120 trường hợp nghiên cứu, điều trị bằng phương pháp nội khoa

đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 2 nhóm MLT chủ động và MLT khi có

chuyển dạ là 63,5% và 60%, điều trị phối hợp nội khoa và sản khoa chỉ chiếm

35,3% ở nhóm mổ lấy thai chủ động và 40% ở nhóm mổ lấy thai khi có chuyển

và chỉ có 1 BN điều trị ngoại khoa là nút mạch do rong huyết kéo dài không kết

quả và cuối cùng là cắt tử cung bán phần (Biểu đồ 3.10). Kết quả này tương tự

kết quả nghiên cứu nhiều tác giả khác như nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh

(2002) [63] có 50,96 trường hợp NKHS là điều trị nội khoa hay như trong

nghiên cứu của Cấn Bá Quát tỷ lệ điều trị nội khoa của VNMTC là 53% [64].

4.3.1.1. Phương pháp nội khoa điều trị viêm niêm mạc tử cung

Điều trị nội khoa đơn thuần cách đơn giản nhất là sử dụng kháng sinh

phối hợp với tăng co tử cung thường được áp dụng trong các trường hợp viêm

niêm mạc tử cung mà siêu âm thấy buồng tử cung sạch hoặc chỉ có một lớp

dịch mỏng khơng cần thiết phải can thiệp sản khoa.



72



Kết quả nghiên cứu này nhận thấy, sản phụ viêm niêm mạc tử cung 100%

đều có điều trị kháng sinh và 98,3% dùng tăng co, ngoài ra các biện pháp khác

như truyền dịch, hạ sốt cũng được áp dụng tùy từng trường hợp cụ thể ( Biểu đồ

3.11). Kết quả này tương tự như kết quả của Phạm Thị Trang là 100% BN được

dùng kháng sinh và 98,6% bệnh nhân được dùng tăng co và kết quả của Nguyễn

Thùy Nhung là 100% bệnh nhân được dùng kháng sinh và tăng co. Điều này

cũng phù hợp với hướng dân chẩn đoán và điều trị sản phụ khoa của Bộ Y Tế đó

là sử dụng tăng co và kháng sinh trong điều trị VNMTC.

4.3.1.2. Phương pháp nội khoa kết hợp sản khoa trong điều trị viêm niêm

mạc tử cung

Các can thiệp sản khoa bao gồm các phương pháp nong cổ tử cung, hút,

lại buồng tử cung trong trường hợp bế sản dịch hay nạo buồng tử cung trong

trương hợp sót rau. Trong 45 trường hợp có can thiệp sản khoa thì có 44

trường hợp là nạo, hút BTC và chỉ có một trường hợp là nong cổ tử cung. Hút

và nạo buồng tử cung nhằm mục đích hút hết các tổ chức viêm trong buồng tử

cung, làm sạch buồng tử cung, lấy hết rau vụn và máu cục tạo điều kiện cho

niêm mạc tử cung tái tạo lại. Tuy nhiên can thiệp thủ thuật sản khoa chỉ được

làm sau khi đã dùng kháng sinh cho cắt sốt hoặc giảm sốt và cũng cần phải

lưu ý các tai biến của thủ thuật như chảy máu do tổn thương vết mổ tử cung,

thủng tử cung, nhiễm trùng lan sang tổ chức lân cận…Do đó việc can thiệp

thủ thuật sản khoa cần được cân nhắc và làm khi có chỉ định như: Sốt cao

điều trị nội khoa không kết quả, bế sản dịch, sót rau, ra máu nhiều trong các

trường hợp viêm niêm mạc tử cung thể chảy máu.

4.3.1.3. Phối hợp kháng sinh trong điều trị viêm niêm mạc tử cung

Hơn 10 năm gần đây, nhiều nghiên về tình trạng NKHS tại bệnh viện

phụ sản trung ương đều có kết quả cấy vi khuẩn gây NKHS là E.Coli và tụ

cầu trắng như nghiên cứu của Cấn Bá Quát (2007) [64] tỷ lệ cấy vi khuẩn



73



dương tính với E.coli chiếm tỷ lệ cao nhất sau đó là tụ cầu trắng chiếm

26,7%, theo Nguyễn Thị Kim Anh (2002) [63] thì tỷ lệ dương tính với E.Coli

là 55,5% và tụ cầu trắng là 47,5%. Và gần đây nhất là nghiên cứu của Nguyễn

Sỹ Thịnh tỷ lê dương tính với E.coli là 47,4% và tụ cầu trắng là 14,75 [8].

Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thùy Nhung tỷ lệ dương tính với E.Coli là

38,7%, tụ cầu trắng là 37%. Do đó trong điều trị VNMTC tại Phụ - Sản trung

ương là phối hợp các loại kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng để điều trị cả

Gram âm và Gram dương, vi khuẩn kỵ khí và ái khí. Trong đa số các nghiên

cứu tại bệnh viện Phụ - Sản trung ương, phác đồ phối hợp kháng sinh đều là

nhóm β- lactamin phối hợp với metronidazole hoặc có thể phối hợp thêm

quinolone đều cho kết quả tốt, thời gian khỏi bệnh chủ yếu dưới 5 ngày [8]

[11] [63] [64].

Ở Bảng 3.11 ta thấy phác đồ phối hợp 2 kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất

50%, thấp nhất là phác đồ sử dụng 1 kháng sinh chiếm 16,7%. Có sự khác

biệt về phác đồ sử dụng kháng sinh ở 2 nhóm điều trị nội khoa đơn thuần và

điều trị nội khoa phối hợp sản khoa. Tỷ lệ điều trị 1 kháng sinh của nhóm điều

trị nội khoa đơn thuần chỉ chiếm 6,7% thấp hơn so với nhóm nội khoa phối

hợp sản khoa là 33,3% còn tỷ lệ phối hợp 3 kháng sinh của nhóm điều trị nội

khoa đơn thuần là 40% cao hơn so với nhóm nội khoa kết hợp sản khoa

22,2%. Điều này cho thấy khi phối hợp với các can thiệp sản khoa trong điều

trị VNMTC góp phần làm giảm số loại kháng sinh trong điều trị, giảm tác

dụng phụ của thuốc cũng như chi phí tiền thuốc.

Ngày nay, sự ra đời của hàng loạt các loại kháng sinh thế hệ mới đã mở

ra nhiều hướng mới trong cơng tác dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn, tuy

nhiên việc sử dụng kháng sinh tràn lan cũng đã tạo nên nhiều chủng vi khuẩn

đột biến có khả năng kháng lại các loại kháng sinh. Ở bệnh nhân viêm niêm

mạc tử cung cũng không ngoại lệ, sự kháng thuốc của các loại vi khuẩn đã



74



xuất hiện và không ngừng tăng lên, việc phối hợp nhiều loại kháng sinh trong

điều trị nhằm tạo ra phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn ở

cả nhóm kỵ khí và ái khí trong khi đang chờ đợi kết quả kháng sinh đồ. Điều

này cũng phù hợp với phương pháp điều trị viêm niêm mạc tử cung của các

tác giả trên thế giới. Lauren và Pritchart đều cho rằng điều trị VNMTC sau đẻ

phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sỹ lâm sàng là chính vì kháng sinh đồ

thường cho kết quả muộn, sau 48 giờ với vi khuẩn ái khí và sau 7 ngày với vi

khuẩn kỵ khí, trong khi diễn biến lâm sàng lại đòi hỏi phải điều trị sớm. Việc

điều trị sớm đó đã đưa lại kết quả tốt cho bệnh nhân trước khi có kết quả

kháng sinh đồ [29] [41].

Tuy nhiên, không thể không cấy sản dịch và làm kháng sinh đồ ở những

bệnh nhân VNMTC. Việc làm kháng sinh đồ và cấy sản dịch trong VNMTC

vẫn đóng vai trò quan trọng trong điều trị VNMTC sau đẻ. Nó có tác dụng với

những trường hợp sốt kéo dài, không đáp ứng với kháng sinh điều trị, đồng

thời việc cấy sản dịch cũng giúp xác định loại vi khuẩn gây bệnh và điều trị

hiệu quả trong các trường hợp có biến chứng. Cấy sản dịch và làm kháng sinh

đồ giúp cho thầy thuốc lâm sàng biết từng loại vi khuẩn cụ thể đồng thời cung

cấp thông tin loại kháng sinh nào có tác dụng tốt nhất với vi khuẩn đó để lựa

chọn kháng sinh điều trị [10].

Trên thế giới đã có nhiều tác giả đề cập đến điều trị kháng sinh trong

VNMTC ở những nghiên cứu của mình, Theo Cunningham F.G, Charles R.B

và một số tác giả khác còn đưa ra phác đồ sử dụng đơn thuần 1 loại kháng

sinh thuộc nhóm Cephalosporin cũng cho kết quả tốt [10][41]. Trong nghiên

cứu của chúng tôi những trường hợp sử dụng đơn thuần 1 loại kháng sinh

nhóm β –lactamin là những trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ, triệu chứng lâm

sàng không rầm rộ, bạch cầu không cao, CRP < 96mg/l. Biểu đồ 3.11 cho ta



75



thấy phác đồ một kháng sinh chỉ có 20% bệnh nhân có tình trạng sốt > 38,5

độ C và tất cả bệnh nhân này đều được nạo/ hút BTC. Tương tự tỷ lệ BC >

11G/l và CRP > 48mg/l chỉ chiếm 30 % và 25%. Trong khi ở nhóm phối hợp

3 kháng sinh tỷ lệ sốt trên 38,5 độ C là 82,5%, BC > 11 G/l là 85% và CRP

>46 mg/l là 87,5%. Kháng sinh sử dụng trong phác đồ 1 loại kháng sinh trong

nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là Biofumoksym chiếm 13,4 % ( Bảng

3.13). Biofumoksym có dược chất là Cefuroxim – một kháng sinh bán tổng

hợp phổ rộng, thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 2, Cefuroxim có hoạt tính

kháng khuẩn hữu hiệu do ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn bằng cách gắn

vào các protein đích thiết yếu (các protein gắn penicilin) và rất đặc trưng

chống nhiều tác nhân gây bệnh thông thường, kể cả các chủng tiết beta lactamase/ cephalosporinase của cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm.

Cefuroxim đặc biệt rất bền với nhiều enzym beta - lactamase của vi khuẩn

Gram âm. Việc sử dụng phác đồ một loại kháng sinh trong điều trị VNMTC

cũng cho kết quả tốt và kết quả điều trị cũng không khác so với những trường

hợp phối hợp 2 -3 loại kháng sinh. Vì thế việc sử dụng kháng sinh trong điều

trị phụ thuộc vào nhạy cảm lâm sàng của người thầy thuốc. Không nên cho

quá nhiều kháng sinh khi không cần thiết bởi lẽ khi phối hợp nhiều loại kháng

sinh với nhau bên cạnh việc làm tăng phổ tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn thì

chi phí tiền thuốc cũng tăng cao và tác dụng phụ của thuốc cũng tăng lên. Đặc

biệt, với sản phụ đang cho con bú, kháng sinh có thể qua sữa mẹ tác động đến

em bé. Chính vì lẽ đó chúng ta cũng phải cân nhắc, lựa chọn kháng sinh thích

hợp cho từng trường hợp cụ thể để vừa nâng cao hiệu quả điều trị vừa an toàn

cho bệnh nhân.

Các tác giả AlanH (1990) [29], Cunningham (1993) [10], Charles( 2002)

[65] đưa ra phác đồ điều trị chuẩn trong VNMTC là phối hợp giữa

Clindamycin với Gentamycin, có sự khác biệt với phác đồ điều trị trong



76



nghiên cứu của chúng tơi. Hai nhóm kháng sinh này có ưu điểm hơn phương

pháp điều trị của Việt Nam là không ảnh hưởng đến việc cho con bú và sản

phụ khi dùng thuốc vẫn có thể cho con bú bình thường. Mattcato M.L ngồi

phác đồ Clindamycin và Gentamycin còn đưa ra Ciprofloxacin trong điều trị

viêm niêm mạc tử cung cũng rất hiệu quả [66]. Hiện nay, ở bệnh viện Phụ sản

Trung Ương cũng đã có một số bác sỹ sử dụng Clindamycin trong điều trị

VNMTC nhưng chỉ sử dụng trong các trường hợp bệnh nhân dị ứng với kháng

sinh thuộc nhóm β – lactamin, còn phần lớn các bác sỹ vẫn sử dụng phác đồ cũ,

hay gặp nhất vẫn là phối hợp 2 loại kháng sinh β –lactamin + Nitroimidazole

hoặc 3 loại kháng sinh β –lactamin + Nitroimidazole + Quinolon.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phác đồ sử dụng 2 loại kháng sinh hoặc

3 loại kháng sinh chủ yếu dùng trong các trường hợp VNMTC vừa và nặng,

sốt cao, bạch cầu tăng cao > 11G/L, CRP > 48mg/l. Từ biểu đồ 3.11 ta thấy

với nhóm sử dụng phác đồ 2 kháng sinh thì tỷ lệ sốt cao trên 38,5 độ C là

56,7% tỷ lệ này tăng lên là 82,5% trong nhóm phác đồ 3 kháng sinh. Tương

tự tỷ lệ BC > 11G/l và CRP > 48mg/l cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong các

nhóm phác đồ sử dụng nhiều kháng sinh hơn.

Hiện nay tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong phác đồ sử dụng 2

kháng sinh (β –lactamin + Nitroimidazole ) và 3 kháng sinh (β –lactamin +

Nitroimidazole + quinolone) thì nhóm β –lactamin có thể là Unasyn

( Ampicilin + Sulbactam) hoặc Biofumoksym ( cefuroxime) hoặc Bacqure

( Imipenem + Cilastatin).Trong nghiên cứu này kháng sinh nhóm β –lactamin

được sử dụng chủ yếu là unasyn và biofumoksym , nhóm imipenem ít được

sử dụng nhất (Bảng 3.12). Trong 25 bệnh nhân sử dụng bacqure (10 bệnh

nhân của nhóm 2 kháng sinh và 15 bệnh nhân của nhóm 3 kháng sinh) thì có

tới 19 bệnh nhân là sử dụng sau khi dùng unasyn/biofymoksym. Nguyên nhân

là do nhóm thuốc imipenem có phổ kháng khuẩn rộng hơn, nhạy cảm với



77



nhiều vi khuẩn hơn nhưng giá thành đắt hơn. Hơn nữa việc sử dụng phổ biến

imipenem sẽ làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh. Vì vậy khơng được lựa

chọn là thuốc đầu tay trong điều trị VNMTC nói riêng và nhiễm trùng nói

chung mà chỉ được sử dụng trong những trường hợp nặng hoặc thất bại với

các kháng sinh thông thường khác.

4.3.2. Kết quả điều trị của các phương pháp điều trị VNMTC

4.3.2.1. Thời gian điều trị khỏi của các phương pháp điều trị

Qua bảng 3.13 ta thấy thời gian điều trị khỏi trong vòng 3-4 ngày chiếm

tỷ lệ cao nhất 53,8% và thấp nhất là >7 ngày chiếm 5,9%. Số ngày điều trị

trung bình 4,17±2,10, ngắn nhất 1 ngày và dài nhất là 13 ngày. Kết quả này

tương tự như kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Trang [35] tỷ lệ khỏi trong

vòng 3-4 ngày chiếm 52,3% và trên 7 ngày chiếm tỷ lệ thấp nhất là 1,1% và

các tác giả khác như Nguyễn Thị Kim Anh, Cấn Bá Quát đều kết luận đa số

các bệnh nhân có thời gian điều trị dưới 5 ngày [63] [64].

Có sự khác nhau về tỷ lệ thời gian khỏi của 2 phương pháp điều trị nội

khoa đơn thuần và nội khoa phối hợp sản khoa. Tỷ lệ khỏi trong vòng 1-2

ngày của phương pháp nội khoa phối hợp sản khoa là 29,5% cao hơn so với

nội khoa đơn thuần là 8%, nhưng tỷ lệ khỏi trên 7 ngày của phương pháp phối

hợp sản khoa là cũng cao hơn (Bảng 3.13). Nguyên nhân của sự khác biệt này

là do một phần lớn các trường hợp có can thiệp sản khoa có nguyên nhân

VNMTC là bế sản dịch hoặc sót rau, các can thiệp sản khoa khi đó giải quyết

triệt để được nguyên nhân gây VNMTC, làm sạch buồng tử, loại trừ ổ nhiễm

khuẩn nên đáp ứng điều trị khá nhanh. Tuy nhiên vẫn còn các trường hợp dịch

trong trong buồng tử cung không nhiều được điều trị nội khoa nhưng không

kết quả mới tiến hành nao, hút buồng tử cung dẫn đến làm tăng số ngày điều

trị khỏi của phương pháp phối hợp sản khoa.



78



Khi chúng tôi so sánh thời gian điều trị trung bình của 2 nhóm điều trị

nội khoa đơn thuần và điều trị nội khoa kết hợp với sản khoa, chúng tơi thấy

số ngày điều trị trung bình của bệnh nhân chỉ điều trị nội khoa đơn thuần là

4,2 ±1,619(ngày), số ngày điều trị trung bình ở nhóm bệnh nhân điều trị nội

khoa kết hợp với sản khoa là 4,11±2,57(ngày). Tuy nhiên sự khác biệt về số

ngày điều trị của 2 phương pháp là khơng có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy

95%. Do đó khơng nhất thiết phải can thiệp sản khoa ở bệnh nhân viêm niêm

mạc tử cung khi không cần thiết. Quyết định điều trị phụ thuộc nhiều vào

nhạy cảm lâm sàng của người thầy thuốc với bệnh nhân nên cần phải thường

xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho các bác sỹ để góp phần nâng

cao hiệu quả trong điều trị bệnh nhân nói chung và điều trị nhiễm khuẩn hậu

sản nói riêng.

4.3.2.2. Thời gian điều trị khỏi của các phác đồ phối hợp kháng sinh

Qua bảng 3.14 ta thấy trong nhóm phác đồ sử dụng 1 loại kháng sinh

50% khỏi bệnh trong vòng 1-2 ngày. Nhóm sử dụng 2 loại kháng sinh và 3

loại kháng sinh tỷ lệ khỏi trong vòng 1 -2 ngày chỉ 13,3 % và 2,5%. Số ngày

điều trị trung bình của 3 nhóm cũng khác nhau trong đó số ngày điều trị trung

bình của nhóm phối hợp 3 kháng sinh là cao nhất 4,8 ± 1,47(ngày), của nhóm

phối hợp 2 kháng sinh là 4,3±2,26 (ngày) và của nhóm sử dụng 1 kháng sinh

đơn thuần là thấp nhất 2,8±1,96 (ngày). Nguyên nhân của sự khác biệt này là

do nhóm điều trị 1 loại kháng sinh được lựa chọn là những bệnh nhân có tình

trạng nhiễm trùng nhẹ, sốt khơng cao do đó đáp ứng nhanh với điều trị còn

nhóm điều trị 2 kháng sinh đặc biệt là 3 kháng sinh là những bệnh nhân nặng,

sốt cao kéo dài, hoặc đã được điều trị 1 – 2 kháng sinh nhưng không kết quả

phải phối hợp thêm kháng sinh là cho số ngày điều trị bị kéo dài hơn so với

nhóm 1 kháng sinh và 2 kháng sinh. Điều này cho thấy không phải trường

hợp nào VNMTC cũng cần phải điều trị phối hợp nhiều loại kháng sinh ngay,



79



một số trường hợp tình trạng nhiễm khuẩn nhiều chúng ta cũng nên cân nhắc

sử dụng phác đồ 1 loại kháng sinh vừa có kết quả tốt vừa hạn chế được tác

dụng phụ của thuốc và chi phí điều trị. Tuy nhiên việc đánh giá tình trạng

nặng và mức độ nhiễm khuẩn của VNMTC phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm

của các bác sĩ thực hành lâm sàng để đánh giá đúng mức độ bệnh lựa chọn

phương pháp điều trị và phác đồ kháng sinh phù hợp tránh tình trạng đánh giá

sai dẫn đến thời gian điều trị kéo dài, thất bại điều trị dẫn đến các biến chứng

nguy hiểm.

4.3.2.3. Thời gian điều trị khỏi theo tình trạng nhiễm trùng

Biểu đồ 3.13 cho thấy chỉ có 7% bệnh nhân sốt > 38,5 độ C, 9,6% bệnh

nhân có BC > 11G/l và 8,6% bệnh nhân có CRP> 48 mg/l là có thời gian điều

trị 1 – 2 ngày. Tỷ lệ điều trị 3- 4 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất là 54,9% ; 59% và

55,6%. Sau đó là 5-7 ngày chiếm 35,2%; 25,3% và 29,6%. Thời gian điều trị

> 7 ngày chiếm tỷ lệ rất thấp lần lượt là 2,6%; 6% và 6,2%. Điều này là hoàn

toàn phù hợp với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng cảu đối tượng nghiên

cứu của chúng tôi chủ yếu các bệnh nhân có tình trạng sốt vừa phải 38,5-39

độ C, bạch cầu chủ yếu là 11-15G/l và CRP chủ yếu 49-192 mg/l. Tỷ lệ bệnh

nhân nhiễm trùng nặng với sốt 39-40 độ C, BC > 20 G/l và CRP > 192 mg/l là

rất thấp (bảng 3.6, bảng 3.7 và bảng 3.9). Mặt khác cùng với sử việc sử dụng

kháng sinh hợp lý cũng góp phần rút ngắn thời gian điều trị của những bệnh

nhân có tình trạng nhiễm trùng nặng.

4.3.2.4. Thời gian điều trị theo tình trạng thiếu máu

Máu có vai trò quan trọng đối với cơ thể thơng qua 3 chức năng chính

một là máu giữ vai trò vận chuyển oxy và đào thải khí cacbonic nhờ huyết cầu

tố của hồng cầu. Ngồi ra còn ln chuyển các nội tiết tố, các chất nuôi dưỡng

tế bào và chuyển các chất cặn bã, sản phẩm chuyển hoa, chất độc… đến các



80



bộ phận bài tiết đào thải ra ngoài. Hai là máu có nhiệm vụ bảo đảm sự hằng

định nội môi nhờ các thành phần của máu: protein, chất điện giải, pH máu…

nên có sự trao đổi đều đặn giữa máu và tổ chức để tế bào sống và phát triển.

Ba là máu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống bệnh tật nhờ các chức phận thực

bào, miễn dịch, chống độc của các bạch cầu và vai trò của tiểu cầu trong duy

trì cân bằng đơng máu [67]

Như vậy máu chảy qua tất cả các cơ quan bộ phận, cung cấp oxy và chất

dinh dưỡng, điều hòa chức năng sinh lý của toàn bộ cơ thể, liên kết các bộ

phận nên tham gia vào mọi trạng thái bệnh lý cũng như tham gia đấu tranh

chống mọi sự tấn cơng của bệnh tật. Do đó khi thiếu máu khả năng đáp ứng

với điều trị cũng bị ảnh hưởng.

Theo bảng 3.15 cho thấy có 52,2% bệnh nhân có Hb từ 90-110 g/l có

thời gian điều trị 1- 4 ngày, trong khi đó có tới 74% bệnh nhân có Hb > 110

g/l có thời gian điều trị 1-4 ngày và 13% bệnh nhân có Hb 90-110 có thời gian

điều trị > 7 ngày trong khi đó chỉ có 4,2% bệnh nhân có Hb >110 g/l có thời

gian điều trị > 7 ngày. Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có bệnh nhân

nòa có Hb < 70g/l và có duy nhất một bệnh nhân có hb 70-90g/l và bệnh nhân

này có thời gian điều trị > 7 ngày. Điều này cho thấy tình trạng thiếu máu có

ảnh hưởng đến kết quả điều trị của VNMTC. Với mức độ thiếu máu nhẹ hoặc

không thiếu máu thường có thời gian điều trị ngắn hơn so với bệnh nhân có

mức độ thiếu máu vừa và nặng.



81



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu chẩn đoán và điều trị viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy

thai tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ 01/08/2017 đến 30/06/2018 chúng

tơi có kết luận sau đây:

1.



Một số yếu tố nguy cơ gây viêm niêm mạc tử cung:

Trong nghiên cứu của chúng tôi đã tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ gây



VNMTC trong đó viêm phụ khoa và mổ lấy thai chủ động là hai yếu tố nguy

cơ thường gặp nhất.

-



Tiền sử viêm phụ khoa chiếm 68,3% đặc biệt là tiền sử viêm phụ khoa trong

khi mang thai không được điều trị chiếm 82,5%.



-



Tỷ lệ mổ lấy thai chủ động chiếm 70,8%.



-



Bệnh lý tồn thân mẹ 40% trong đó ĐTĐTN chiếm tỷ lê cao nhất 28,3%.



-



Thời gian vỡ ối kéo dài trên 6h chiếm 75%



-



Thời gian theo dõi tại phòng đẻ kéo dài trên 6h của nhóm bệnh nhân mổ lấy

thai khi có chuyển dạ là 62,1%



-



Thời gian mổ lấy thai kéo dài dưới 30 phút, 30-45 phút và trên 45 phút của

nhóm MLT tại viện lần lượt là 61,7%; 34,6% và 3,7%.

2.



Nhận xét về điều trị VNMTC sau mổ lấy thai tại bệnh viện Phụ Sản



-



trung ương.

Phương pháp điều trị nội khoa đơn thuần chiếm 62,5%, sản khoa chiếm



-



36,85% và ngoại khoa chiếm 0,85%

Trong phương pháp điều trị nội khoa 100% bệnh nhân được dùng kháng sinh

đường tiêm và 98,3% bệnh nhân được dùng tăng co truyền dịch cho kết quả



-



điều trị tốt.

Trong phương pháp can thiệp sản khoa thường gặp nhất là nạo, hút buồng tử

cung chiếm 35,8% và chỉ có 0,85 % nong CTC



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình ảnh siêu âm có dịch trong BTC chiếm tỷ lệ cao nhất là 65,8% sau đó là hình ảnh BTC có khối AVKĐN chiếm 25% và ít nhất là niêm mạc tử cung dày không đều 9,2%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (Bảng 3.10). Tỷ lệ hình ảnh có dịch trong B

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×