Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy thai là hình thái VNMTC sớm thường nặng hơn so với VNMTC sau đẻ đường âm đạo. Tỷ lệ VNMTC sau mổ lấy thai cũng cao hơn khoảng 20 lần so với sau đẻ đường âm đạo.

Viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy thai là hình thái VNMTC sớm thường nặng hơn so với VNMTC sau đẻ đường âm đạo. Tỷ lệ VNMTC sau mổ lấy thai cũng cao hơn khoảng 20 lần so với sau đẻ đường âm đạo.

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



1.3.6. Biến chứng của viêm niêm mạc tử cung

1.3.6.1. Tiến triển nặng lên của viêm niêm mạc tử cung



 Viêm tử cung tồn bộ

Viêm niêm mạc tử cung nếu khơng điều trị, quá trình nhiễm khuẩn sẽ lan

rộng đến lớp cơ tử cung, có khi có những ổ abces nhỏ trong cơ tử cung [1]

Các triệu chứng toàn thân, cơ năng, thực thể nặng hơn các hình thái viêm

niêm mạc tử cung: sản dịch thối, ra huyết vào ngày thứ 8 – 10. Nắn tử cung

rất đau, cảm giác như có hơi. Tiến triển có thể dẫn đến viêm phúc mạc hay

nhiễm khuẩn huyết. Loại vi khuẩn hay gây nhiễm khuẩn huyết là Clostridium

Perfringer hoặc các Clostridium khác. Ngoài ra còn có một số loại vi khuẩn

khác gây hoại tử cơ tử cung như liên cầu tan huyết nhóm A, E.coli [31].

Hầu hết các trường hợp viêm tử cung toàn bộ đều phải phẫu thuật cắt tử

cung, phối hợp với điều trị kháng sinh liều cao, kéo dài.



 Viêm phần phụ và dây chằng rộng

Nhiễm khuẩn ở tử cung có thể lan sang các cơ quan lân cận gây các triệu

chứng viêm nhiễm ở tiểu khung: viêm vòi trứng, buồng trứng, dây chằng

rộng. Đơi khi vòi tử cung và buồng trứng bị nhiễm khuẩn bởi sự lan tràn của

vi khuẩn từ đường bạch huyết.

Tiến triển của viêm phần phụ và dây chằng rộng có thể dẫn đến viêm

phúc mạc khu trú hoặc tạo thành khối mủ vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc

toàn thể.



 Viêm phúc mạc tiểu khung

Viêm phúc mạc tiểu khung thường do viêm niêm mạc tử cung, vi khuẩn

lan qua lớp cơ tử cung, vòi tử cung và buồng trứng đến phúc mạc tiểu khung.

Vi khuẩn cũng có thể lan theo đường bạch huyết và tĩnh mạch của dây chằng

rộng đến túi cùng sau, manh tràng, đại tràng, bàng quang và trực tràng tạo

thành các giả mạc và các tủi mủ ở vùng tiểu khung. Viêm phúc mạc tiểu



17



khung nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến viêm phúc mạc tồn thể,

nhiễm khuẩn huyết, biến chứng tim mạch, phổi [32].



 Viêm phúc mạc tồn thề

Viêm phúc mạc tồn thể có thể xảy ra sau viêm niêm mạc tử cung, viêm

tử cung toàn bộ. Ngồi đường lan truyền trực tiếp vi khuẩn còn có thể lan

theo đuờng bạch huyết. Cũng có khi viêm phúc mạc toàn thể phát triển từ

viêm phúc mạc tiểu khung hay từ túi mủ của abces douglas, của ứ mủ vòi tử

cung [32].



 Nhiễm khuẩn huyết

Nhiễm khuẩn huyết là hình thái nặng nề nhất của nhiễm khuẩn hậu sản.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Tuấn (1996) trên 93 truờng hợp nhiễm

khuẩn huyết từ năm 1983 – 1995 được điều trị tại VBVBM&TS tỷ lệ nhiễm

khuẩn huyết chiếm khoảng 7,09% trong số các trường hợp nhiễm khuẩn sản

khoa và xu hướng số trường hợp nhiễm khuẩn huyết ngày càng giảm [32].

1.3.6.2. Chảy máu sau đẻ

Chảy máu sau đẻ là một tai biến sản khoa nặng nề, nguyên nhân thường

do nhiễm khuẩn tại tử cung. Chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời nhiễm khuẩn

sau đẻ là cách tốt nhất để phòng tổn thương nặng. Nhưng khi đã có tổn

thương vào mạch máu gây chảy máu nặng thì điều trị bảo tồn tử cung là rất

khó khăn.

Chảy máu sau đẻ có thể sảy ra sớm trong vòng 24h đầu sau đẻ hoặc

muộn hơn sau 24h đầu đến 6 tuần sau đẻ. Chảy máu sau đẻ muộn thường do

sót rau hoặc nhiếm khuẩn tử cung. VNMTC thể chảy máu là hình thái rất

nặng của VNMTC gây mất máu cấp, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến

tử vong. Nếu điều trị nội khoa thất bại, chảy máu nhiều, thường phải mổ cắt

tử cung cấp cứu.

Chảy máu sau đẻ (sau đẻ đường âm đạo và sau mổ lấy thai) do tổn

thương nhánh tận của động mạch tử cung trước đây là khó xử trí thường phải



18



dẫn đến cắt tử cung. Tuy nhiên ngày nay nhờ phương pháp nút mạch tử cung

đã hạn chế được tỷ lệ phải cắt tử cung do chảy máu sau đẻ. Tổng kết 12

trường hợp chảy máu sau đẻ đã được điều trị nút mạch tử cung năm 2008 tại

bệnh viện PSTƯ, gồm 4 ca VNMTC, 5 ca chảy máu sau đẻ muộn, 3 ca tụ máu

vết mổ. Kết quả 100% cầm máu ngay lập tức sau nút mạch và khơng có

trường hợp nào phải cắt tử cung [33].

1.3.6.3. Viêm tắc tĩnh mạch

Viêm tắc tĩnh mạch ở Việt Nam thường ít gặp hơn so với các nước

phương Tây. Thường gặp các trường hợp sau đẻ hay sau mổ lấy thai. Tỷ lệ

gặp 1-2% trong các hình thái NKHS [24].

Viêm tắc tĩnh mạch thường gặp ở người đẻ con dạ, chuyển dạ kéo dài, đẻ

khó, có can thiệp thủ thuật, chảy máu nhiều sau đẻ.

Vi khuẩn gây bệnh thường là vi khuẩn kỵ khí: liên cầu khuẩn kỵ khí,

Bacteroides. Vi khuẩn khu trú trong buồng tử cung tiết ra men Streptokinase

hủy hoại các thrombus (cục máu), rồi lan theo thành mạch dọc đường đi của

tĩnh mạch, viêm có thể lan tới các tĩnh mạch của dây chằng rộng, buồng

trứng. Có khi lan đến cả tĩnh mạch chậu, tĩnh mạch đùi. Tĩnh mạch buồng

trứng hay bị viêm tắc vì tĩnh mạch này dẫn lưu một nửa lượng máu phía trên

tử cung. Ở phổi đơi khi có các huyết khối gây nghẽn mạch có thể gây nhồi

máu phổi, áp xe phổi, viêm phổi, tràn dịch màng phổi.

Viêm tắc tĩnh mạch thường xảy ra vào ngày 12-15 sau đẻ. Sốt nhẹ, mạch

tăng dần. Hay gặp nhất là viêm tắc tĩnh mạch ở chân, với các triệu chứng phù,

ấn đau, nóng từ đùi trở xuống, gót chân khơng nhấc được khỏi giường. Đơi

khi khơng có triệu chứng ở chân mà đột ngột thấy khó thở khạc ra bọt hồng, đau

tức ngực, đó là viêm tắc mạch phổi, bệnh cảnh có thể gây tử vong đột ngột.



19



1.3.6.4. Hoại tử vết mổ tử cung và vết mổ thành bụng

Viêm niêm mạc tử cung nếu không được điều trị có thể gây viêm tử cung

tồn bộ. Trong trường hợp mổ lấy thai, vết mổ tại tử cung bị nhiễm khuẩn sẽ

không liền được gây ra bục vết mổ, nếu tổn thương vào các xoang mạch tử

cung sẽ gây ra chảy máu cấp biểu hiện lâm sàng là ra máu ồ ạt, máu đỏ tươi.

Chảy máu do hoại tử vết mổ thường xảy ra 2-3 tuần sau mổ lấy thai, có thể

sốt hoặc khơng nhưng sản dịch thường hơi và tử cung co hồi kém.

Viêm tử cung tồn bộ làm cho vết mổ tại tử cung khó lành ngay cả khi

cắt lọc cẩn thận, nguy cơ hoại tử vết mổ tử cung và chảy máu là rất cao.

Trước đây, nguy cơ phải cắt tử cung là khá cao, nhưng ngày nay nhờ có kĩ

thuật nút mạch đã hạn chế được nguy cơ phải cắt tử cung do hoại tử vết mổ

gây chảy máu.

Viêm tử cung toàn bộ gây bục vết mổ tử cung nếu tiếp tục tiến triển có

thể lan ra thành bụng gây nhiễm khuẩn vết mổ thành bụng và hoại tử vết mổ

thành bụng, làm cho vết mổ khó liền và gây chảy máu vết mổ. Điều trị là phải

cắt lọc tổn thương, đôi khi phải khâu da thưa hoặc để hở trong những trường

hợp nhiễm trùng nặng. Viêm, hoại tử vết mổ thành bụng làm nặng nề thêm

tình trạng nhiễm khuẩn của bệnh nhân và gây khó khăn trong điều trị.

1.3.6.5. Viêm dính buồng tử cung gây mất kinh và di chứng vô sinh

Viêm niêm mạc tử cung là tổn thương lơp nội mạc tử cung, ít khi tiến

triển thành mạn tính, tuy nhiên nếu khơng được điều trị kịp thời và triệt để có

nguy cơ để lại di chứng dính buồng tử cung một phần hoặc tồn bộ gây ít

kinh, vơ kinh và vơ sinh thứ phát…Trong viêm niêm mạc tử cung, vi khuẩn

có thể lan tới VTC ra tiểu khung gây viêm phần phụ, viêm phúc mạc tiểu

khung và viêm phúc mạc toàn thể và có thể để lại di chứng viêm tắc VTC và

viêm dính tiểu khung cũng là nguyên nhân gây vơ sinh.



20



1.3.7. Tiêu chuẩn chẩn đốn viêm niêm mạc tử cung [34]

Tiêu chuẩn chẩn đoán VNMTC: Theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế, chẩn

đoán viêm niêm mạc tử cung khi người bệnh có ít nhất một trong hai tiêu

chuẩn sau

- Tiêu chuẩn 1: có ít nhất hai trong ba triệu chứng sau:

 Sau đẻ sản phụ sốt từ 38 độ C trở lên sau khi đã loại trừ các nguyên

nhân gây sốt khác.

 Tử cung co hồi chậm, mềm.

 Sản dịch hơi bẩn, hoặc có mủ.

- Tiêu chuẩn 2: kết quả cấy sản dịch dương tính với vi khuẩn gây bệnh.

1.3.8. Điều trị viêm niêm mạc tử cung



 Các phương pháp điều trị viêm niêm mạc tử cung

- Điều trị nội khoa:

 Kháng sinh liều cao phối hợp.

 Thuốc co hồi tử cung Oxytocin, Ergometrin.

 Hạ sốt kháng viêm.

 Bồi phụ nước, điện giải và truyền máu nếu cần.

- Điều trị sản khoa:

 Nong CTC trong trường hợp bế sản dịch do CTC chít hẹp

 Nạo BTC trong trường hợp sót rau, sót màng

 Hút BTC khi trong BTC có dịch

Nạo, hút BTC bệnh nhân phải được điều trị bằng kháng sinh cho đến khi

giảm sốt hoặc cắt sốt trước rồi mới tiến hành nạo, hút BTC. Vì nếu can thiệp

thủ thuật sớm trước khi hết sốt hoặc giảm sốt có thể phá vỡ hàng rào bảo vệ tự

nhiên quanh vùng nhiễm khuẩn, gây ra tình trạng lan tràn vi khuẩn ra xuang

quanh gây viêm tử cung toàn bộ, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết.

Nạo và hút BTC ngoài việc loại bỏ ổ nhiễm khuẩn còn kết hợp làm giảỉ

phẫu bệnh, cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ.

- Điều trị ngoại khoa:

Trong trường hợp VNMTC nặng điều trị nội khoa khơng kết quả hoặc có

biến chứng viêm phúc mạc, chảy máu, nhiễm trùng huyết có thể phải cắt tử



21



cung bán phần phối hợp với kháng sinh liều cao để loại trừ ổ nhiễm khuẩn

nguyên phát.

Cắt tử cung bán phần trong các trường hợp:

 Nhiễm khuẩn ở tử cung nặng, điều trị nội khoa khơng kết quả

 Có biến chứng nhiễm khuẩn huyết

Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị hữu hiệu trong trường

hợp đã có ổ di bệnh, nhưng nguyên tắc chung vẫn là loại trừ ổ nhiễm khuẩn

nguyên phát, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân, bồi phụ nước điện giải,

truyền máu nếu có thiếu máu, dùng kháng sinh liều cao phối hợp đường tĩnh

mạch tốt nhất là dùng theo kháng sinh đồ và phải duy trì thường xun nồng

dộ kháng sinh có trong máu và phải duy trì thêm 7-10 ngày kể từ khi hết sốt.

Trong viêm phúc mạc khu trú, sau điều trị nội khoa nếu khối viêm đã

hóa mủ cần kết hợp dẫn lưu túi mủ qua túi cùng âm đạo, không nên mở thông

qua đường bụng tránh dễ làm vi khuẩn lan vào ổ bụng



 Các kháng sinh dùng trong điều trị viêm niêm mạc tử cung

a) Nhóm Betalactam

- Ampicillin: là kháng sinh thuộc phân nhóm penicillin có tác dụng tốt

với vi khuẩn kị khí, ái khí, các cầu khuẩn gram (+), gram (-). Liều điều trị từ

4-8g/ngày, có thể tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.

- Phân nhóm cephalosporin:

 Cephalosporin thế hệ 1: tác dụng tốt trên vi khuẩn gram (+), kháng

được penicillinase của tụ cầu. Thuốc có tác dụng trên một số trực khuẩn gram

(-) trong đó có vi khuẩn đường ruột.

 Cephalosporin thế hệ 2: Hoạt tính kháng khuẩn trên vi khuẩn gram (-)

đã tăng lên nhưng còn kém cephalosporin thế hệ 3, có thể kháng được

cephalosporinase.

 Cephalosporin thế hệ 3: tác dụng tốt trên các trực khuẩn gram (+) nhất

là trực khuẩn đường ruột.



22



 Cephalosporin thế hệ 4: phổ kháng khuẩn rộng và bền vững với

betalactamase hơn thế hệ 3, đặc biệt chỉ định trong nhiễm trực khuẩn gram (-)

ái khí đã đề kháng với thế hệ 3

b) Nhóm Aminosid

Hay dùng là gentamycin, có phổ kháng khuẩn rộng được dùng phối hợp

với penicillin trong điều trị nhiễm khuẩn gram (-), có tác dụng chống lại các

vi khuẩn ái khí gram (-) và tụ cầu.

Liều lượng: 3-5mg/kg/ ngày, tiêm bắp chia 2-3 lần

c) Nhóm Nitroimidazole

Thường sử dụng là Metronidazole có tác dụng chọn lọc trên các vi khuẩn

kị khí, phổ kháng khuẩn rộng với cầu khuẩn kị khí, trực khuẩn kị khí gram (-),

trực khuẩn kị khí gram(+) tạo được bào tử.

d) Nhóm Quinolon

Thuốc thường sử dụng là Cravit có tác dụng trên các vi khuẩn gram âm

và tụ cầu, phổ kháng khuẩn của thuốc gồm: E.Coli, Salmonella, Shigella,

Enterobacter, phế cầu, tụ cầu cả loại kháng Methicillin.

e) Nhóm Lincosamid

Thuốc thường dùng là Clindamycin, có tác dụng mạnh trên các vi khuẩn

kị khí.



 Phác đồ điều trị VNMTC trên thế giới và tại Việt Nam

 Phác đồ điều trị trên thế giới:

Liệu pháp cơ bản là nuôi cấy vi khuẩn làm kháng sinh đồ và sử dụng

kháng sinh theo kháng sinh đồ và đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân

Theo một nghiên cứu cộng gộp từ 38 nghiên cứu khác được phân tích

dựa trên các kết quả nghiên cứu từ Cochrane (30/1/2004) [35]

Phác đồ đầu tay là:

- Clindamycin 900 mg IV mỗi 8 giờ cộng với aztreonam 1-2 g mỗi 8 giờ

Phác đồ thay thế:

- Metronidazole 500 mg mỗi 12 giờ cộng với penicillin 5 triệu đơn vị mỗi 6 giờ.



23



Hoặc là:

- Ampicillin 2 g mỗi 6 giờ cộng với gentamicin 5 mg / kg mỗi 24 giờ

- Cefoxitin 2 g IV mỗi 6 giờ. Thêm ampicillin 2 g IV mỗi 6 giờ, nếu thất

bại lâm sàng sau 48 giờ

- Cefotetan 2 g IV mỗi 12 giờ. Thêm ampicillin 2 g IV mỗi 6 giờ, nếu

thất bại lâm sàng sau 48 giờ

 Phác đồ điều trị tại Việt Nam

- Sử dụng kháng sinh toàn thân đường tiêm theo kháng sinh đồ + thuốc

co cơ tử cung

- Tuy nhiên trên thực tế lâm sàng không phải trường hợp nào cũng nuôi cấy

vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Mặt khác nếu chờ kết quả nuôi cấy và làm kháng

sinh đồ thường sẽ làm chậm trễ điều trị vì vậy tại bệnh viện Phụ - Sản trung

ương hiện tại sử dụng kháng sinh theo nguyên tắc: Kháng sinh phổ rộng, phối

hợp 2-3 kháng sinh có phổ tác dụng trên cả gram âm và gram dương

 Phác đồ hiện nay đang sử dụng tại bệnh viện Phụ - Sản trung ương:

- Phác đồ phối hợp 2 kháng sinh nhóm β-lactamin và metronidazole,

trong những trường hai kháng sinh không kết quả hoặc những trường hợp

nặng có thể phối hợp thêm nhóm quinolon.

1.4. Các nghiên cứu trên thế giới và việt nam

Bảng 1.1. Tỷ lệ viêm niêm mạc tử cung theo một số tác giả

Năm

nghiên cứu



Tỷ lệ VNMTC

sau mổ lấy thai



Tỷ lệ VNMTC sau

đẻ thường



Yokoe và cộng sự [5]



2001



7,4%



5,5%



Nguyễn Thị Phương Liên

[7]



2005



1,3%



0,3%



Nguyễn Sỹ Thịnh [8]



2008



0,75%



0,39%



Phạm Thị Trang [36]



2015



0,46%



Khơng có kết quả



Tên tác giả



Theo đa số các nghiên cứu thì tỷ lệ VNMTC sau MLT cao hơn sau đẻ

thường. Nguyên nhân có thể do khi mổ lấy thai buồng tử cung khơng còn



24



ngun vẹn, vi khuẩn có thể khư trú tại vết mổ, vết khâu cầm máu hay do

vết cặp ở vết mổ tử cung gây thiếu máu tại chỗ, những ổ máu tụ nhỏ là nơi

thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Mổ lấy thai thường gây mất nhiều máu,

làm giảm sức đề kháng của cơ thể và có thể gặp tình trạng phản ứng với chỉ

khâu tại vết mổ… hoặc cũng có thể do mổ lấy thai chủ động khi cổ tử cung

chưa mở hết có thể gây bế sản dịch, dẫn đến viêm niêm mạc tử cung.

Ngày nay có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ viêm niêm mạc tử cung

trong đó đặc biệt là sự gia tăng của tỷ lệ MLT đặc biệt là MLT chủ động.

Tại BV Phụ Sản Trung ương, MLT vào những năm 2000 là 35,1% [37],

đến năm 2005 con số này tăng lên 39,71% [9] và đến năm 2017 tăng lên

54,4% [11].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Ánh và Phạm Thị Trang tỷ lệ

VNMTC sau MLT tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 01/2014 đến 06/2015 là

0,46% và trong số VNMTC sau MLT có tới 59,7% là sau MLT chủ động [36].

Tuy nhiên cũng có nhiều yếu tố làm giảm nguy cơ viêm niêm mạc tử

cung như quy trình vơ khuẩn trong sản phụ khoa cũng được cải thiện rõ rệt,

sự phát triển của các loại kháng sinh và việc sử dụng kháng sinh dự phòng

cũng góp phần làm hạn chế phần nào tình trạng viêm niêm mạc tử cung.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Liên, tỷ lệ viêm niêm mạc tử

cung sau đẻ tại bệnh viện phụ sản trung ương từ 6/2004 đền 5/2006 là 0,7%

và nguy cơ viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy thai cao gấp 4,7 lần so với đẻ

đường âm đạo [7]. Theo nghiên cứu của Eschenback D.A khi chưa có kháng

sinh dự phòng, tỷ lệ viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy thai là 50 - 90%,

nhưng khi đã dự phòng kháng sinh thì tỷ lệ này chỉ còn lại 15 - 20% [38].



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



25



2.1. Đối tượng nghiên cứu

Là các sản phụ được chẩn đoán là VNMTC sau mổ lấy thai được điều trị

tại bệnh viện phụ sản trung ương từ 01- 08 - 2017 đến 30 - 06 - 2018

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy

thai và điều trị VNMTC tại Phụ sản Trung Ương theo tiêu chuẩn chẩn đốn

của Bộ Y Tế hoặc có kết quả GPBL là viêm niêm mạc tử cung trong thời gian

từ ngày 01 tháng 08 năm 2017 đến 30 tháng 06 năm 2018.

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Viêm niêm mạc tử cung kèm theo các bệnh nhiễm virus khác như HIV,

thủy đậu, sốt xuất huyết, sốt virus..

Viêm niêm mạc tử cung kèm theo áp xe vú, lao..

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang.

2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2.1. Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

2.2.2.2. Cơng thức tính cỡ mẫu

Sử dụng cơng thức tính cỡ mẫu cho kiểm định sự khác nhau của hai tỷ lệ

Trong đó



26



p1: Tỷ lệ vỡ ối > 6h mắc VNMTC sau mổ lấy thai theo nghiên cứu của

Phạm Thị Trang [36] là 75,4%

p2: Tỷ lệ vỡ ối < 6h mắc VNMTC sau mổ lấy thai theo nghiên cứu của

Phạm Thị Trang là 24,6% [36]

P1 – P2: Mức sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ VNMTC của hai thời điểm

mổ lấy thai (50%)

Từ công thức trên chọn α = 0,1 β = 0,1 với độ tin cậy 90%

Z2(α,β): Tra trong bảng là 8,6

Tính N= 101

Chúng tơi lấy 120 bệnh nhân

2.2.3. Phương tiện và phương pháp thu thập thơng tin

Chọn bệnh nhân được chẩn đốn xác định là VNMTC sau mổ lấy thai,

hỏi bệnh, khám lâm sàng, theo dõi lâm sàng, thu thập kết quả cận lâm sàng và

theo dõi điều trị đến khi ra viên

Lấy thông tin về mổ lấy thai dựa vào hồ sơ lưu trữ với những bệnh nhân

mổ lấy thai tại viện và giấy chuyển viện và hỏi bệnh nhân với những bệnh

nhân mổ lấy thai ngoại viện.

Sử dụng phiếu thu thập thông tin (xem phụ lục kèm theo). Phiếu thu thập

thông tin xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, biến số nghiên cứu. Lập

bảng số liệu, từ đó đưa ra các nhận xét về kết quả thu được trả lời cho mục

tiêu nghiên cứu đã đề ra.

2.2.4. Biến số nghiên cứu

2.2.4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

o

o

o

o

o



Tuổi: được phân thành các nhóm:

< 20 tuổi

Từ 20 đến 24 tuổi

Từ 25 đến 29 tuổi

Từ 30 đến 34 tuổi

≥ 35 tuổi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Viêm niêm mạc tử cung sau mổ lấy thai là hình thái VNMTC sớm thường nặng hơn so với VNMTC sau đẻ đường âm đạo. Tỷ lệ VNMTC sau mổ lấy thai cũng cao hơn khoảng 20 lần so với sau đẻ đường âm đạo.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×