Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật các bệnh nhân bị ung thư ruột non.

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật các bệnh nhân bị ung thư ruột non.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN

1.1. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ RUỘT NON

1.1.1. Giải phẫu

1.1.1.1. Đại thể

Ở người trưởng thành, ruột non dài từ 5-6m, đi từ dây chằng Treitz tới

van hồi – manh tràng (Bauhin). 2/5 đoạn đầu tiên, tiếp nối với tá tràng ở phía

trên gọi là hỗng tràng. 3/5 còn lại tiếp theo ở phía dưới được gọi là hồi tràng.

Khơng có đường ranh giới rõ ràng giữa 2 đoạn ruột này. Tuy nhiên, có thể

nhận thấy rõ một điều là ruột non càng đi xa xuống dưới thì lòng ruột càng

hẹp lại, các cung mạch mạc treo ruột càng trở nên phức tạp, các nếp niêm mạc

vòng tròn càng thấp và thưa dần. Nói chung hỗng tràng nằm phía bên trái

khoang bụng, hồi tràng nằm ở tiểu khung và hố chậu phải. Ruột ron được cố

định vào thành bụng sau bởi mạc treo, đó chính là nếp gấp quặt ngược của lá

phúc mạc thành sau. Nếp phúc mạc xuất phát từ một đường nằm chếch từ trên

xuống dưới và từ trái qua phải, nghĩa là một đường chéo đi từ bên trái đường

giữa tới hố chậu phải. Mạc treo tiếp cận với ruột non ở một bờ, sau đó ơm

vòng ốp sát lấy tồn bộ chu vi ruột và được gọi là lá phúc mạc thành hay

thanh mạc ruột non.

Mạc treo có chứa mỡ, mạch máu, bạch mạch, hạch bạch huyết và thần

kinh. Động mạch mạc treo tràng trên cung cấp máu cho hỗng tràng và hồi

tràng. Các mạch máu khi đến gần bờ ruột non thì tiếp nối với nhau tạo thành

rất nhiều các cung mạch, cuối cùng mới tách ra thành các mạch thẳng ngắn đi

vào bờ ruột (bờ mạc treo). Bờ tự do của ruột non (đối chiếu với bờ mạc treo)

được cấp máu động mạch ít hơn phía bờ mạc treo, vì thế khi máu khơng đủ

cấp thì phía bờ tự do bị thiếu máu trước tiên. Máu tĩnh mạch từ ruột non được

dẫn về tĩnh mạch mạc treo tràng trên và sau đó đổ về gan qua tĩnh mạch cửa.



4



Các mảng bạch huyết dưới niêm mạc (mảng peyer) thấy nhiều ở hồi

tràng hơn là ở hỗng tràng. Các ông bạch huyết thu gom bạch huyết từ ruột non,

đi qua các trạm hạch bạch huyết cuối cùng đổ về các hồ chứa dưỡng chất. Thần

kinh phó giao cảm của ruột non xuất phát từ dây thần kinh phế vị (dây thần kinh

X) bên phải và thần kinh giao cảm xuất phát từ thần kinh tạng của bờ cong nhỏ

và bờ cong lớn dạ dầy. Cả 2 loại dây thần kinh “tự động” đều có các sợi li tâm và

hướng tâm, nhưng hiện tượng “đau” của ruột non thì chỉ do sợi hướng tâm của

thần kinh giao cảm mà thôi.

1.1.1.2 Vi thể

Thành ruột non bao gồm 4 lớp: Niêm mạc, dưới niêm mạch, cơ và

thanh mạc.

* Niêm mạc: Bề mặt hấp thụ của niêm mạc ruột được nhân lên gấp

nhiều lần nhờ các cuốn niêm mạc hình vòng tròn. Các cuốn này cao và nhiều

ở phần trên ruột non (hỗng tràng) hơn là phần hồi tràng. Trên bề mặt của các

cuốn niêm mạc ấy có các nhú niêm mạc (cao khơng q 1mm), Mỗi nhú có

một lỗ tiết, động mạch và tĩnh mạch, lại có các sợi cơ từ lớp cơ niêm đi tới

làm cho các nhú này có thể co bóp được. Các nhú này lại được phủ trên bề

mặt bởi các tế bào biểu mơ trụ với rất nhiều các nhung mao (có chiều cao 1

nanomet). Chính nhờ các nhú mà khả năng hấp thụ của niêm mạc ruột được

tăng lên gấp 8 lần, và các nhung mao tăng thêm gấp 14-24 lần. Toàn bộ vùng

hấp thụ của ruột non như vậy tính ra là vào khoảng từ 200-500 m 2. Lớp biểu

mô phủ của ruột non gồm nhiều loại tế bào: tế bào trụ, tế bào chế nhầy, tế bào

paneth, tế bào nội tiết, và tế bào M. Tế bào trụ có chức năng hấp thụ; chúng

khởi phát từ các tế bào không biệt hóa tăng trưởng khơng ngừng tại các hốc

tuyến Lieberkuhn và di chuyển tới đỉnh của các nhung mao. Tất cả q trình

đó diễn ra trong vòng từ 3-7 ngày. Thời gian tồn tại của tế bào trụ ở người là

5-6 ngày. Các tế bào chế nhầy cũng xuất phát từ các hốc tuyến và cũng di



5



chuyển về phía đỉnh của các nhung mao; các tế bào chế nhầy trưởng thành

được gọi là các tế bào hình đài (Goblet cells). Các tế bào paneth chỉ thấy ở

các hốc tuyến; chức năng khơng được rõ, có thể là tham gia vào nhiệm vụ chế

tiết. Các tế bào nội tiết có rất nhiều hạt bào tương trong có chứa 5hydroxtryptamin và nhiều peptides khác. Nhiều nhất là các tế bào ruột ưa sắc

(enterochromafin); cũng thấy có sự hiện diện của các tế bào N (chứa

Neurotensin), tế bào N (glucagon), các tế bào khác chứa motilin và

cholecystokinin. Tế bào M là những tế bào dạng màng rất mỏng bao phủ các

mảng payer. Chúng có khả năng thu gom các kháng ngun trong lòng ruột

như protein và các vi sinh vật.

* Các lớp khác: Lớp dưới niêm mạc là một lớp xơ chun chứa mạch

máu và thần kinh. Lớp dưới niêm mạc là thành phần cấu trúc khỏe nhất của

thành ruột và bắt buộc phải lấy nó khi khâu nối ruột. Lớp cơ bao gồm 2 lớp

áo: bên trong là lớp áo sợi hình vòng và bên ngồi là các sợi cơ dọc. Thanh

mạc là lớp bao phủ ngoài cùng của thành ruột.

1.1.2. Sinh lý

1.1.2.1. Vận động

Hoạt động cơ học của ruột non có nhiều hình thức:

- Co thắt: Chủ yếu do cơ vòng, khi cơ vòng co thắt, từng đoạn ruột non thu nhỏ

thiết diện, dịch tiêu hóa nhờ đó ngấm sâu vào khối thức ăn trong ruột.

- Cử động quả lắc: Do lớp cơ dọc ở hai bên của ruột thay nhau co giãn làm cho

các đoạn ruột lật bên này rồi bên kia, khiến dịch têu hóa nhào trộn kỹ vào

khối thức ăn, tăng cường tốc độ tiêu hóa thức ăn.

- Nhu động: Là những co thắt lan truyền theo kiểu làn sóng, theo chiều từ dạ

dày xuống ruột già với tốc độ 3m/s.

- Phản nhu động: Cũng là những co thắt lan truyền theo kiểu làn sóng, nhưng

theo chiều ngược lại với nhu động.



6



Tất cả các hình thức hoạt động cơ học của ruột non đều thực hiện tự

động dưới sự điều khiển của đám rối thần kinh Auerbach. Kích thích dây X và

motilin (một hóc mơn của ống tiêu hóa) sẽ làm tăng nhu động ruột non.

Ngược lại, kích thích thần kinh giao cảm làm giảm hoạt động cơ học của ruột

non. Những kích thích tại chỗ do giun, do viêm ruột… cũng làm tăng hoạt

động nhu động của ruột non [12].

1.1.2.2. Tiêu hóa, bài tiết và hấp thụ

Ruột non có 2 chức năng tiêu hóa chính: hồn tất q trình tiêu hóa các

thức ăn, hấp thụ nước và các chất điện giải: Mỗi ngày có khoảng từ 5-9 lít

nước tiếp xúc với bề mặt hấp thụ của ruột non, bao gồm các dịch vào qua

đường miệng (ăn và uống), nước bọt, dịch dạ dày, nước mật, dịch tụy và dịch

tiết của ruột non. Trong số đó chỉ có khoảng 1-2 lít nước được tống từ hồi

tràng xuống đại tràng. Việc hấp thu nước và điện giải được thực hiện chủ yếu

qua các nhung mao còn bài tiết thì ở các hốc tuyến.

Nói tóm lại, nước khuyếch tán thụ động theo các chất hòa tan, do đó

dịch chứa trong lòng ruột ln ln đẳng trương với máu. Nước cũng còn

được hấp thu bằng cơ chế tích cực, đặc biệt ở ruột già. Ngồi ra nó còn tham

gia hấp thu các chất vô cơ dưới dạng các ion.

- Carbohydrates: Một nửa lượng calo cung cấp cho cơ thể mỗi ngày là từ các

tinh bột dưới dạng polysaccharides và glycogene; các đường dạng

disaccharides (sucrose và lactose). Tiêu hóa tinh bột bắt đầu bởi amylase của

nước bọt và được hoàn tất bởi amylase của tụy trong tá tràng và phần đầu

hỗng tràng.

- Proteine: Được phân giải và tiêu hóa một phần trong dạ dày nhưng đấy không

phải là chủ yếu. Hơn 80% hấp thu protein xẩy ra ở 100cm đầu tiên của hỗng

tràng.

- Vitamines: Tất cả các vitamins đều được hấp thu dưới dạng tự do nhưng

không bị phân giải. Đa số vitamins được hấp thu nhờ các cơ chế vận chuyển

tích cực [13].



7



1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI GIẢI PHẪU BỆNH HỌC UNG THƯ

RUỘT NON.

Các khối u ác tính ruột non chiếm tỷ lệ nhiều hơn các khối u lành tính,

được chia thành các loại: Ung thư biểu mô tuyến, Saccom cơ trơn, u thần kinh

ác tính, u lympho ác tính và u carcinoid.

1.2.1. Ung thư biểu mô tuyến (UTBMT)

- Được mô tả đầu tiên bởi Hamburger, một tác giả người Đức, ông ghi

lại một trường hợp UTBMT tá tràng năm 1746.

- Năm 1924 một trường hợp ung thư biểu mô tá tràng được mô tả lần

đầu tiên bởi Sorlin.

- Năm 1876, Leichtenstein đưa ra thông báo tập hợp bệnh án đầu tiên

về URN [14].

* Đại thể: Vị trí ở tá tràng (40%), hỗng tràng (36%), hồi tràng (22%).

Chia làm 3 thể:

+ Thể loét: Lan từ niêm mạc ra phía thanh mạc.

+ Thể sùi: U sùi vào trong lòng ruột trên bề mặt có thể loét, gây tắc ruột.

+ Thể thâm nhiễm: Hay gặp nhất phát triển kiểu hình nhẫn gây hẹp và

tắc ruột.

*Vi thể:

+ UTBMT biệt hóa cao: Phổ biến nhất là các tế bào hình trụ phần lớn

ưa kiềm, thường hướng vào trong lòng ruột, sếp thành hình ống tuyến chứa

chất nhầy, đơi khi trong các dạng biệt hóa này người ta thấy dạng nhú.

+ UTBMT ít biệt hóa: Hiếm hơn, các tế bào u sắp xếp hỗn độn với

nhiều nhân khơng điển hình và giãn phân bất thường. Các tế bào u tách biệt

hoặc tập trung thành dây hay đám với những hình dạng tuyến sắp xếp hỗn

độn. Sự tiết nhầy không hằng định.

+ UTBMT dạng keo nhầy: Rất hiếm, có những đám nhầy, trong có

những lớp tế bào u, phản ứng đệm đa dạng. Chất đệm thường rất nhiều, đôi

khi thâm nhiễm vào các tế bào viền.



8



* Tiến triển:

+ Tiên lượng thường xấu vì phát hiện muộn và thường gây nhiều khó

khăn trong phẫu thuật.

+ Xâm lẫn tại chỗ: Thành ruột non, hạch vùng.

+ Di căn xa: Hạch xa và di căn gan, tụy, phúc mạc, phổi.

* Phân chia giai đoạn: Ung thư biểu mô tuyến ruột non được AJCC

(The American Joint Committee on Cancer – Hiệp hội chống ung thư của Mỹ)

phân chia giai đoạn theo TNM năm 1997 [15] như sau:

+ TNM:

• T Khối u ngun phát (Primary tumor):

• Tx: Khơng xác định được khối u ngun phát.

• T0: Khơng có bằng chứng của khối u nguyên phát.

• Tis: Ung thư tại chỗ.

• T1: Khối u xâm lấn tới lớp dưới niêm mạc.

• T2: Khối u xâm lấn tới lớp cơ thành ruột.

• T3: Khối u xâm lấn qua lớp cơ vào lớp thanh mạc. Hoặc xâm lấn tới lớp phúc

mạc xung quanh (Mạc treo phúc mạc thành sau) < 2cm.

• T4: Khối u xâm lấn vào các tạng lân cận. (các quai ruột non bên cạnh, mạc

treo hoặc phúc mạc thành sau > 2cm).

• N hạch vùng (lympho node):

• Nx: Khơng xác định được sự xâm lấn hạch vùng.

• N0: Khơng có di căn hạch vùng.

• N1: có di căn hạch vùng.

• M di căn (metastase):

• Mx: Khơng đánh giá được là có di căn hay khơng.

• M0: Khơng di căn.



9



• M1: Có di căn.

+ Phân loại giai đoạn AJCC

• Giai đoạn 0: Tis, N0.

• Giai đoạn 1: T1, N0, M0.

T2, N0, M0.

• Giai đoạn 2: T3, N0, M0.

T4, N0, M0.

• Giai đoạn 3: Bất kỳ T nào, N1, M0.

• Giai đoạn 4: Bất kỳ T, bất kỳ N, M1.

+ Phân loại theo độ biệt hóa tế bào:

• Độ 1: Rất biệt hóa.

• Độ 2: Biệt hóa vừa.

• Độ 3: Ít biệt hóa.

1.2.2. U lympho ác tính tiên phát ngồi hạch khơng Hodgkin ruột non.

Chiếm 12% các u ác tính của ruột non. Thường khu trú ở hồi tràng, hay

gặp ở nam hơn ở nữ, tỷ lệ nam/nữ là 3/1 [16].

* Đại thể: Diện cắt u có màu trắng, xám nhạt, tương đối đồng nhất như

thịt cá, mềm với bờ có nhiều vòng. Có di căn hạch vệ tinh.

+ Dạng u đơn độc: 70% số trường hợp, các tổn thương thường ngăn

cách bởi những đoạn niêm mạc bình thường.

+ Dạng thâm nhiễm: Thường thâm nhiễm một đoạn ống tiêu hóa theo

hình ống, sự thiếu sóng nhu động cùng với sự căng của vùng u tạo ra dạng giả

phình mạch. Thường gây biến chứng thủng ruột, hiếm hơn gây biến chứng

hẹp ruột, nhanh chóng dẫn đến nguy cơ tắc ruột.

+ Dạng loét: Một vùng u bị lõm xuống nơng hoặc sâu, có thể tạo nên ở

chu vi một bờ không đều, thường gây biến chứng thủng ruột.

+ Dạng sùi: Có hình dạng chồi, nhú lồi vào trong lòng ruột, thường có



10



lt ở bề mặt. Xâm lấn sâu vào thành đến tận thanh mạc và có thể gây lồng ruột.

* Vi thể: U thường xâm lấn thành ruột theo nhiều bình diện rồi đến hạch

vùng. Thời gian sống phụ thuộc vào độ ác tính của mơ, của giai đoạn u.

+ Các u lympho B: Độ ác tính cao (70-90% ca) thường là typ tế bào

miễn dịch, typ Burkitt hoặc tế bào lớn giảm biệt hóa.

+ Các u lympho T: Nhiều dạng, nhỏ, trung bình hay các tế bào lớn.

Tuy nhiên về vi thể rất dễ nhầm với thể UTBMT ít biệt hóa - chẩn đốn

phân biệt cần tới hóa mơ miễn dịch.

* Phân loại mơ bệnh học của u lympho:

+ Phân loại của Rappaport 1966.

+ Phân loại của Lukes và Colins 1974.

+ Phân loại của Kiel 1975.

+ Công thức thực hành 1982.

+ Phân loại của Real 1994.

+ Phân loại giai đoạn bệnh theo Ann Arbor có sửa đổi của Musshoff.

1.2.3. U cơ trơn ác tính (Saccơm cơ trơn)

Đường tiêu hóa là nơi có nhiều cơ trơn nhất trong cơ thể vì thế saccơm

cơ trơn hay gặp nhất. U phát triển từ lớp cơ, có thể đạt được thể tích rất lớn,

chủ yếu phát triển về phía tanh mạc, hiếm khi gây hẹp ruột, ít gây tắc ruột hơn

là loại UTBMT [17]. Tính chất u giàu mạch máu nên rất dễ chảy máu.

1.2.4. Saccôm thần kinh

* Lemonnier và Peycelon là những người đã trình bày trường hợp đầu

tiên về u thần kinh ở ruột non tại Paris năm 1933.

* Tới năm 1956, 40 trường hợp u thần kinh ở ruột non đã được Gradin

tập hợp trong y văn thế giới.

* Đây là loại u rất hiếm gặp.

* U thần kinh đường tiêu hóa được Monchet và Samin chia làm 3 loại

khác nhau: U thần kinh đơn độc, nguyên phát; u thần kinh nhiều nơi trên ống

tiêu hóa (thực quản, dạ dày, ruột non, đại tràng); u thần kinh nhiều nơi của hội



11



chứng Vonrecklinghausen bao gồm ở cả ruột non.

1.2.5. Các u cácxinôit (Carcinoid)

- Đại thể: U nổi gồ dưới niêm mạc, màu vàng sang, chắc, phủ bởi một

lớp niêm mạc bình thường.

- Vi thể: U được tập hợp bởi những tế bào nhỏ, đồng đều, xếp thành

hàng, tập hợp như một đảo tế bào kiểu bè tuyến. Bằng phương pháp nhuộm

đặc biệt và xem dưới kính hiển vi thấy phản ứng ưa bạc rõ. U gồm có 5 typ

mô bệnh học được mô tả [18]. Xác định u Carcinoid lành tính hay ác tính trên

vi thể rất khó, mà phải căn cứ vào tính chất u di căn xa hay xâm lấn tạng lân

cận, tính chất ác tính và tỷ lệ di căn phụ thuộc vào một vài yếu tố: Kích thước

u nguyên thủy, nhiều hay ít ổ tổn thương, mức độ xâm lấn thành ruột [19].

1.3. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ RUỘT NON.

1.3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng các khối UTRN

1.3.1.1. Đặc điểm lâm sàng

* Các dấu hiệu cơ năng:

- Triệu chứng của các khối u nguyên phát thường âm thầm, không đặc

hiệu ở giai đoạn khởi đầu. Bao gồm [20]:

+ Rối loạn tiêu hóa: Ỉa lỏng, táo bón hoặc ỉa lỏng xen kẽ với những đợt

táo bón. Nơn hoặc buồn nơn, chán ăn, gày sút, khó tiêu.

+ Đau tức nhẹ vùng trên rốn.

+ Trong một vài trường hợp bệnh nhân khơng có triệu chứng gì cho đến

khi có biến chứng của khối u gây nên.

- Vì có các triệu chứng lâm sàng khơng đặc hiệu như vậy nên các thầy

thuốc thường nghĩ tới các bệnh loét hành tá tràng, viêm đại tràng, bệnh lý

đường mật hoặc các bệnh lý khác của đường tiêu hóa, cho tới khi có các biến

chứng trầm trọng xẩy ra cần phải can thiệp phẫu thuật thì các khối u thường ở



12



giai đoạn muộn.

- Hai biến chứng hay gặp nhất của u ruột non là xuất huyết tiêu hóa và

tắc ruột (hoặc bán tắc). Về triệu chứng lâm sàng tắc ruột do u ruột non cũng

giống như tắc ruột do các nguyên nhân khác gây nên.

- Tắc ruột do u ruột non gây nên bởi: Khối u phát triển lớn làm bít tắc

lòng ruột, u phát triển từ thành ruột chèn ép gây tắc, xoắn ruột hoặc lồng ruột.

- Biểu hiện lâm sàng của tắc ruột do u ruột non: Bệnh nhân đau bụng cơn

đột ngột, bụng chướng, nôn hoặc buồn nơn, bí trung đại tiện. Tình trạng này

có thể qua khỏi nhưng tái diễn lại rất nhanh trong vòng một vài tuần.

- Bệnh cảnh của tắc ruột hay bán tắc ruột ở một bệnh nhân có tiền sử của

đau bụng hoặc đầy bụng sau khi ăn, thỉnh thoảng có nơn cần phải nghĩ tới u ruột

non [21].

- Chảy máu tiêu hóa từ các khối u ruột non thường khơng liên tục, chảy

máu vi thể, khó phát hiện. Biểu hiện đi ngồi ra phân đen khá phổ biến. Vì

vậy ở những bệnh nhân có thiếu máu nhược sắc khơng rõ lý do phải nghĩ tới u

ruột non [22], [23], [24] nếu thăm khám lâm sàng không phát hiện được tổn

thương ở đại tràng và dạ dày, cần làm thêm các xét nghiệm như: Chụp lưu

thơng ruột non, tìm hồng cầu trong phân, chụp động mạch mạc treo tràng trên

chọn lọc… để chẩn đốn bệnh.

- Xuất huyết tiêu hóa ồ ạt cũng có khi xẩy ra đặc biệt ở các thể lâm sàng

như u mạch, u cơ trơn, u thần kinh khi đó cần được mổ cấp cứu kịp thời.

- Các biến chứng khác: Viêm phúc mạc gây nên bởi khối u ăn thủng

thành ruột, suy kiệt do khối u ở giai đoạn muộn di căn, ho ra máu do u di căn

lên phổi…

* Khám thực thể:

- Kết quả khám lâm sàng tùy thuộc vào giai đoạn và biến chứng của khối

u gây nên.

- Dấu hiệu lâm sàng của tắc ruột: Bụng chướng, tăng nhu động ruột, dấu



13



hiệu quai ruột nổi, rắn bò trong cơn đau, các dấu hiệu kích thích phúc mạc.

- Dấu hiệu lâm sàng sờ thấy khối u bụng thường do các khối u ác tính

hoặc ở giai đoạn muộn gây nên. Khi sờ thấy u bụng thì ít có khả năng phẫu

thuật triệt để khối u. Trường hợp ngoại lệ đó là u lympho mà thường biểu hiện

là một khối u bụng vẫn còn khả năng cắt bỏ vì khối u thường khu trú ở một

đoạn ruột, có tính chất di động, trừ các trường hợp u ở giai đoạn muộn đã xâm

lấn ra xung quanh.

- Dấu hiệu của thủng ruột: Bệnh nhân ở trong bệnh cảnh của viêm phúc

mạc: Bụng chướng, cảm ứng phúc mạc khắp bụng thường gặp nhất do

UTBMT và u lympho ác tính gây nên.

- Theo Dai và cộng sự [25]:

+ Hồn cảnh 1: cấp cứu (34%) với các bệnh cảnh như tắc ruột, viêm

phúc mạc, xuất huyết tiêu hóa cấp tính, hội chứng viêm ruột thừa.

+ Hồn cảnh 2: Mạn tính (62%), hội chứng koenig, đau bụng khơng

điển hình, thay đổi tình trạng tồn thân, sờ thấy u bụng.

+ Hồn cảnh 3: Tình cờ phát hiện được khi mổ bụng.

Như vậy các triệu chứng lâm sàng của u ruột non không đặc hiệu,

thường lẫn trong bệnh cảnh của các bệnh lý khác như xuất huyết tiêu hóa, tắc

ruột, viêm phúc mạc…

1.3.1.2. Các thăm khám cận lâm sàng

Các thăm khám cận lâm sàng đều được thực hiện dựa vào các bệnh

cảnh lâm sàng. Đối với các u ruột non do tính chất hiếm gặp, do biểu hiện

lâm sàng phong phú, cho nên các thầy thuốc lâm sàng không nghĩ tới. Tuy

vậy các thăm khám cận lâm sàng cũng có một số giá trị để chẩn đoán các

khối u ruột non.

* Chụp XQ:

- Chụp bụng khơng chuẩn bị: Hình ảnh quai ruột giãn, hình mức



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật các bệnh nhân bị ung thư ruột non.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×