Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phản ứng kháng thể - Phản ứng kháng thể chủ đối với độc tố S. aureus đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của TSS [7] 

Phản ứng kháng thể - Phản ứng kháng thể chủ đối với độc tố S. aureus đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của TSS [7] 

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Bệnh nhân có những biểu hiện của tình trạng nhiễm khuẩn: sốt cao, hội

chứng nhiễm trùng môi khô lưỡi bẩn và những tổn thương cơ quan. Xét

nghiệm công thức máu thấy tăng hoặc giảm bạch cầu chủ yếu là bạch cầu đa

nhân trung tính, tăng các marker viêm như máu lắng, Procalcitonin. Hình ảnh

học giúp phát hiện những tổn thương nguyên phát hay thứ phát, thường gặp đó

là viêm phổi, áp xe phổi, viêm nội tâm mạch nhiễm khuẩn với tổn thương ở các

van tim và những tổn thương áp xe ở các cơ quan (gan, não, thận, xương …).

Phân biệt được giữa nhiễm khuẩn do S. aureus có biến chứng và không biến

chứng là một mục tiêu quan trọng. Các yếu tố dự đốn nhiễm khuẩn huyết S.

aureus có biến chứng gồm một cấy máu dương tính tiếp theo 48 giờ đến 96 giờ,

khởi phát ở cộng đồng, sốt duy trì vào giờ thứ 72 giờ, các tổn thương ở da, và biểu

hiện bất thường của tim, van tim trên siêu âm qua thực quản [2] ,[13] ,[14]

1.1.4. Nguyên tắc phòng và điều trị bệnh

1.1.4.1. Phòng bệnh

 Tại cộng đồng:

Phòng tránh cơ bản: vệ, sinh tay, phòng ngừa tiếp xúc

Giám sát chủ động

 Trong bệnh viện – Đơn vị chăm sóc tích cực:

Quản lý sử dụng kháng sinh

Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn: vệ sinh tay, mặc áo bảo hộ, đi

găng, tắm cho bệnh nhân, vệ sinh dụng cụ, vệ sinh môi trường xung quanh và

giám sát [15] .

1.1.4.2 Điều trị

 Nguyên tắc điều trị chung

Kháng sinh liệu pháp

Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm

Điều trị kháng sinh theo vị trí nhiễm khuẩn

Điều trị kháng sinh dựa vào kết quả vi sinh: là MSSA hay MRSA



14



Giải quyết ổ nhiễm khuẩn: dẫn lưu, phẫu thuật

Điều trị các nhiễm khuẩn cụ thê:

 Nhiễm khuẩn da mô mềm [16] ,[2] :

Chốc lở: kháng sinh tại chỗ dạng bơi da có tác dụng

Nhiễm trùng da, mô mềm không biến chứng: dẫn lưu ổ áp xe là quan trọng

nhất, việc sử dụng kháng sinh còn tranh cãi.

Nhiễm khuẩn da mơ mềm có biến chứng: kháng sinh liệu pháp và phẫu

thuật, dẫn lưu các tổn thương là nền tảng cho điều trị

Hướng dẫn điều trị hiện tại của IDSA cho nhiễm khuẩn MRSA khuyến

nghị dùng vancomycin, linezolid, daptomycin, telavancin hoặc ceftaroline cho

bệnh nhân nhập viện với SSTI có mủ nặng. Trong trường hợp của một SSTI

không sinh mủ, một kháng sinh β-lactam được khuyến cáo cho nhiễm trùng nhẹ

hoặc vừa phải, trong khi vancomycin được khuyến cáo như là một phần của

điều trị thực nghiệm cho SSTI không sinh mủ nghiêm trọng.

Đối với nhiễm trùng có hoại tử điều trị theo kinh nghiệm là MRSA và kỵ khí.

 Nhiễm khuẩn phổi, màng phổi do S. aureus [2] ,[17] :

Với nhiễm khuẩn do MSSA thì Betalactam vẫn được khuyến cáo. Đối với

MRSA thì kháng sinh được lựa chọn là vancomycin và linezolide, thời gian

điều trị là 7 đến 21 ngày tùy vào đáp ứng lâm sàng. Trong trường hợp viêm

phổi hoại tử do MRSA thì việc sử dụng linezolide hoặc clindamycin được

khuyến cáo.

Daptomycin chỉ được khuyến cáo trong các trường hợp huyết khối di

chuyển lên phổi từ thất phải thì được khuyến cáo sử dụng.

Đối với bệnh xơ nang thì vancomycin và linezolide là lựa chọn đầu tay

cho điều trị.

 Nhiễm trùng xương khớp do S. aureus [2]

Viêm tủy xương : điều trị kháng sinh > 8 tuần, việc chuyển sang kháng

sinh đường uống có thể được tiến hành sau 2 tuần điều trị kháng sinh tĩnh mạch



15



Viêm khớp: điều trị kháng sinh kết hợp với dẫn lưu ổ khớp nhiễm khuẩn

được tiến hành. Kháng sinh điều trị tối thiểu là 2 tuần tùy vào diễn tiến lâm sàng

 Nhiễm khuẩn huyết do S. aureus (SAB)

Kháng sinh trị liệu là biện pháp quan trọng nhất và quyết định đến thành

công hay thất bại của điều trị. Các nệnh nhân bị SAB nên được phân loại thành

nhóm có biến chứng hay khơng biến chứng dựa vào các tiêu chuẩn của IDSA

[18] và siêu âm tim qua thực quản nên được chỉ định để phát hiện các viêm nội

tâm mạc do S. aureus [17] .

Betalactam tốt hơn Glycopeptide trong điều trị MSSA [19] ,[2] .

vancomycin và daptomycin được FDA cấp phép trong chỉ định nhiễm khuẩn

huyết do MRSA [2] Thời gian điều trị kháng sinh đối với SAB ít nhất là 14

ngày và nhiều hơn với viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn

xương khớp kèm theo [2] ,[18]

 Điều trị các hội chứng nhiễm độc tố vi khuẩn

Việc phân biệt tổn thương là do vi khuẩn hay độc tố của vi khuẩn trên thực

tế lâm sàng là tương đối khó khan nhất là hội chứng sốc nhiễm độc và sốc

nhiễm khuẩn do S. aureus. Hiện nay có tiêu chuẩn của CDC cho chẩn đốn TSS

[7] từ đó có thể áp dụng để chẩn đốn và điều trị. Việc điều trị tập trung vào

giải quyết hai vấn đề đó là vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn vì trong một số

trường hợp vẫn có sự hiện diện của vi khuẩn trong máu.

Đối với TSS: hồi sức, phẫu thuật giải quyết ổ dịch hoặc ổ nhiễm khuẩn và

kháng sinh liệu pháp với việc ưu tiên sử dụng clindamycin hoặc linezolide để

điều trị do tác dụng trung hòa độc tố của các kháng sinh này. Với các chủng gây

bệnh là MSSA thì dung clindamycin kết hợp betalactam diệt S . aureus còn

chủng gây bệnh là MRSA thì có thể kết hợp clindamycin kết hợp vancomycin

hoặc linezolide [7]



16



Đối với hội chứng da phổng dộp và ngộ độc thức ăn do S. aureus thì tiên

lượng tốt hơn, việc điều trị tập trung chủ yếu vào việc điều trị triệu chứng,

chăm sóc với các thuốc giảm đau, các kem bơi chống ẩm, kháng sinh được sử

dụng tùy từng trường hợp [20] .

1.2. Tình hình nhiễm khuẩn và mức độ nhạy cảm của Staphylococcus

aureus trên thế giới và Việt Nam.

1.2.1 Tình hình nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus trên

thế giới và Việt Nam.

Staphylococcus aureus là một tác nhân gây bệnh ở người đáng quan tâm

có thể dẫn đến bệnh cảnh đa dạng từ nhiễm trùng da tương đối nhẹ cho đến các

nhiễm trùng nặng đe dọa tính mạng như nhiễm khuẩn huyết, viêm nội tâm

mạch nhiễm khuẩn, viêm phổi hay các nhiễm khuẩn cơ xương. Các nhiễm

khuẩn này đã gây ra những tổn hại đáng kể về mặt sức khỏe cho con người

cũng như làm gia tăng chi phí cũng như những nguồn lực kinh tế cho quá trình

điều trị bệnh.

Ngày nay với việc gia tăng các chủng Staphylococcus aureus kém nhạy

cảm kháng sinh trên lâm sàng, các chủng này không chỉ gây nhiễm khuẩn bệnh

viện, kết hợp với các yếu tố nguy cơ cụ thể như mới nhập viện, dùng kháng

sinh tĩnh mạch, cư trú tại một cơ sở chăm sóc dài hạn, lọc máu, đặt ống thơng

qua da mà còn phát hiện những nhiễm trùng do MRSA khởi phát trong cộng

đồng ở những người khơng có các yếu tố nguy cơ truyền thống đã gia tăng [21]

Trên thế giới tình hình nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus khác nhau ở

các nước, các khu vực. Khu vực châu Âu, Mỹ và một số nước châu Á có tần suất

các chủng MRSA cao, gây phức tạp cho điều trị nhiễm khuẩn S. aureus.

Trong một nghiên cứu của 10 nước châu Á - nghiên cứu ANSORP, S.

aureus là một trong 4 nguyên nhân hàng đầu của viêm phổi liên quan thở máy



17



(12,2%), trong đó MRSA chiếm 82,1% của các chủng S. aureus được phân lập

[22]

Tại châu Âu, một nghiên cứu đa trung tâm ở nhiều quốc gia cho thấy tỉ lệ

nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus kháng methicilin là 26,7%. Tỷ lệ

MRSA dao động từ 0,6% ở Thụy Điển đến 40,2-43,0% ở Bỉ, Hy Lạp, Ireland,

Anh và Israel đối với các nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện [23] ,[24] .

Tại Mỹ, tỉ lệ nhiễm khuẩn xương do Staphylococcus aureus chiếm một tỉ

lệ rất lớn từ 49% - 55% [2] MRSA cũng là một trong những nguyên nhân gây

ra viêm phổi bệnh viện và viêm phổi liên quan đến thở máy (20% - 40% trường

hợp) tại Mỹ [25]

Ở Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về tình trạng nhiễm khuẩn do

Staphylococcus aureus và nhiễm khuẩn bệnh viện.

Trong nghiên cứu : giám sát sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây

bệnh thường gặp ở Việt Nam năm 2005 được thực hiện trên 10 bệnh viện đã

cho thấy S. aureus là một trong năm căn nguyên chính được phân lập chiếm

9,3% [26]

Trong nghiên cứu của Bùi Nghĩa Thịnh và cộng sự tại khoa Hồi sức tích cực

và Chống độc – Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương vào năm 2010 cho thấy tỉ lệ

nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus chiếm tỉ lệ rất cao là 15,4% căn nguyên

gây bệnh và là căn nguyên hàng đầu gây nhiễm khuẩn huyết (40%) [27]

Tại bệnh viện Hà tĩnh một nghiên cứu trong 3 năm từ 2011 đến 2013 đã

cho tỉ lệ nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng là 15,4% [28]

Nghiên cứu của Phạm Hùng Vân và cộng sự năm 2005 cho thấy tỉ lạ

MRSA trong các chủng Staphylococcus aureus phân lập được tại nhiều trung

tâm trong nước lên đến 47% [29]

Nghiên cứu của Lê Huy Thạch và cộng sự tại bệnh viện tỉnh Ninh Thuận

từ năm 2014 đến năm 2015 cho thấy tỉ lệ MRSA là 69,9% [17]



18



Tại khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu của Bùi Hồng

Giang năm 2012 cho thấy Staphylococcus aureus là một trong những căn nguyên

chính gây bệnh chiếm 8,1% các căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện [30]

Nghiên cứu của Phạm hồng Nhung và Đào xuân Cơ tại khoa HSTC – Bệnh

viện Bạch Mai cho từ 2011 – 2015 cho tỉ lệ nhiễm S. aureus từ: 3,5 – 6,3% [31]

1.2.2 MIC của vancomycin với Staphylococcus aureus

Nồng độ ức chế vi khuẩn tối thiểu (MIC) là chỉ số quan trọng trong nghiên

cứu tác dụng của kháng sinh với vi khuẩn. Dựa trên giá trị MIC và các chỉ số khác

trong nghiên cứu dược động học và dược lực học người ta xác định các liều kháng

sinh có tác dụng trong điều trị nhiễm khuẩn. vancomycin là một kháng sinh bán

tổng hợp thuộc nhóm Glycopeptide đã được biết đến từ lâu với tác dụng nhạy cảm

trên các vi khuẩn Gram (+), đăc biệt là S. aureus. Việc xác định MIC của

vancomycin với S. aureus nhằm xác định mức độ nhạy cảm của kháng sinh này

với vi khuẩn đồng thời giúp tính tốn , lựa chon liều điều trị phù hợp.

FDA đưa ra điểm cắt cho nhạy cảm của S. aureus với vancomycin hiên

nay là <= 2mcg/ ml và kháng vancomycin khi MIC >= 16 mcg/ ml [3] .

Hiện nay một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy có khuynh hướng tăng

MIC của vancomycin ở các chủng S. aureus phân lập được [32] , điều này làm gia

tăng mối lo ngại về việc điều trị nhiễm khuẩn do S. aureus bằng vancomycin –

một kháng sinh đã được biết đến về hiệu quả điều trị với các chủng MRSA.

Các nghiên cứu đã đưa ra những điểm cắt MIC của vancomycin với mối

tương quan với kết cục điều trị, nhìn chung với giá trị MIC >= 1,5 mcg/ml có liên

quan đến thất bại trong kết cục điều trị nhiễm khuẩn do S. aureus [33] ,[34] .

Trên thế giới đã có một số báo cáo về các ca bệnh nhiễm khuẩn S. aureus

đã kháng hoặc kém nhạy cảm với vancomycin [3] .

Từ những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về tình hình nhiễm

khuẩn cũng như mức độ nhạy cảm, MIC của kháng sinh với S. aureus cho thấy

rằng tình hình nhiễm khuẩn do S. aureus diễn biến phức tập với các tỉ lệ khác



19



nhau giữa các vùng, các khu vực, các bệnh viện, ngay cả các đơn vị trong bệnh

viện cũng khác nhau. Cùng với các khuyến cáo trên thế giới về điều trị nhiễm

khuẩn bệnh viện, viêm phổi bệnh viện (HAP) , viêm phổi thở máy (VAP) đã

nhấn mạnh đến việc điều trị kháng sinh sớm theo kinh nghiệm cũng như điều trị

dựa trên tần suất nhiễm khuẩn của Staphylococcus aureus tại đơn vị điều trị

[35] , chính những điều này đã tạo nên tính cần thiết phải thiết lập các tỉ lệ

nhiễm khuẩn của các đơn vị riêng từ đó xây dựng các quy trình kiểm sốt,

phòng ngừa và điều trị nhiễm khuẩn S. aureus thích hợp hơn.

vì vậy chúng tơi thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu tình hình nhiễm

khuẩn Staphylococcus aureus ở bệnh nhân đang điều trị tại khoa Hồi sức

tích cực – bệnh viện Bạch mai”. Nhằm mục đích khảo sát tình hình nhiễm

khuẩn do Staphylococcus aureus, đánh giá những yếu tố nguy cơ gây nhiễm

cũng như mức độ nhiễm khuẩn bệnh viện do S. aureus tại đơn vị khoa hồi sức

tích cực bệnh viện Bạch Mai và đánh giá tính nhạy cảm của các chủng

Staphylococcus aureus phân lập được tại đây với kháng sinh được sử dụng điều

trị, đánh giá tính nhạy cảm của các chủng Staphylococcus aureus được phân lập

với kháng sinh dựa vào kháng sinh đồ và đánh giá mức độ nhạy cảm của

Staphylococcus aureus với Vancomycin theo MIC của vancomycin.



20



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối thượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhân nằm điều trị tại khoa hồi

sức tích cực trong thời gian nghiên cứu có kết quả cấy bệnh phẩm dương tính là

Staphylococcus aureus.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu là những bệnh nhân:

 HSBA của những bệnh nhân có kết quả cấy bệnh phẩm dương tính với

Staphylococcus aureus và có kết quả kháng sinh đồ đánh giá mức độ nhạy cảm

và MIC với Vancomycin

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:

Các HSBA thiếu dữ liệu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu hồ sơ bệnh án

2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

 Thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 đến tháng 3 năm 2018.

 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hồi sức tích cực – Bệnh viên Bạch Mai.

2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu:

 Hồi cứu: Lấy tất cả các HSBA của bệnh nhân điều trị tại khoa HSTC –

Bệnh viện Bạch Mai thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh nhân trong nghiên cứu.

 Các số liệu thu thập được ghi chép vào mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất.

2.2.4. Các phương pháp lấy bệnh phẩm và kỹ thuật xét nghiệm

Các bệnh phẩm nuôi cấy được lấy tại khoa HSTC – bệnh viện Bạch Mai

theo quy trình của khoa Vi sinh - Bệnh viện Bạch Mai.



21



Nuôi cấy bệnh phẩm bằng hệ thống định danh tự động.

Kháng sinh đồ được làm theo phương pháp khoanh giấy khuếch tán.

MIC của vancomycin được làm theo phương pháp dải giấy khuếch tán

theo bậc thang nồng độ.

2.2.5. Mẫu và cách chọn mẫu:

Chon mẫu thuận tiện, toàn bộ bệnh án đáp ứng tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

của nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu.

2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu

2.3.1 Nhóm biến số nền

Họ tên, tuổi, giới.

Các bệnh được chẩn đoán trước đây: COPD, ĐTĐ, THA, xơ gan, suy thận

– TNT chu kỳ, bệnh lý ác tính và bệnh mạn tính khác.

Tiền sử sử dụng chất kích thích: tiền sử nghiện chích ma túy, tiền sử

nghiện rượu hoặc sử dụng rượu kéo dài (số lượng, thời gian sử dụng).

Tiền sử sử dụng kháng sinh tĩnh mạch trong vòng 90 ngày trước nhập viện

đợt này (thời gian sử dụng, nguyên nhân sử dụng, loại kháng sinh sử dụng).

Tiền sử thực hiện các thủ thuật: chích nặn mụn, áp xe, châm cứu, các can

thiệp qua da khác.

2.3.2 Chẩn đoán vào khoa HSTC đợt này.

2.3.3 Chẩn đoán khi rời khoa HSTC đợt này.

2.3.4 Các triệu chứng lâm sàng

 Triệu chứng khởi phát :

Tồn thân: mạch, nhiệt độ (tính theo độ C), huyết áp (HA tâm thu, HA

trung bình)

Thần kinh: điểm GCS, hội chứng màng não; thời gian xuất hiện triệu

chứng, mức độ biểu hiện.

Tim mạch: tiếng tim, tiếng thổi bất thường, loạn nhịp tim. Xác định thời

gian xuất hiện triệu chứng.



22



Da mô mềm: sưng nề, mụn mủ, áp xe da cơ, hoại tử da mơ mềm. Xác định

vị trí, số lượng, thời gian xuất hiện tổn thương.

Hô hấp: ho, đờm (số lượng, tính chất), tần số thở, kiểu thở, tím. Xác định

thời gian xuất hiện triệu chứng, mức độ biểu hiện.

Tiêu hóa: đau bụng (điểm VAS, vị trí đau, tính chất cơn), nơn, đi ngồi

phân lỏng (số lần trong ngày, số ngày, số lượng, màu sắc). Xác định thời gian

xuất hiện các triệu chứng tiêu hóa, mức độ biểu hiện.

Tiết niệu: tiểu buốt, tiểu khó, tiểu máu, bí tiểu, đau hông lung (vỗ hông

lưng). Xác định thời gian xuất hiện các triệu chứng tiết niệu, mức độ biểu hiện.

Cơ xương khớp: sưng cơ, khối trong cơ (tính chất, kích thước), sưng khớp,

tụ dịch khớp, khớp đau, nóng đỏ. Xác định thời điểm xuất hiện triệu chứng,

mức độ biểu hiện.

Đường vào nhiễm khuẩn: NK từ da và mô mềm (tổn thương, thời gian bắt

đầu); đường hô hấp (tổn thương, thờ gian bắt đầu); chân catheter (tổn thương,

thời gian bắt đầu); NK tiết niệu (tổn thương, thời gian bắt đầu); NK tiêu hóa

(tổn thương, thời gian bắt đầu); NK vết mổ (tổn thương, thời gian bắt đầu

nhiễm trùng vết mổ); NK cầu tay TNT; các đường vào khác: tiêm chích ma túy

gần đây, sử dụng kháng sinh tĩnh mạch, châm cứu, chích nặn tổn thương da.

Xác định thời điểm xuất hiện, mức độ biểu hiện.

2.3.4 Các triệu chứng cận lâm sàng

Huyết học: số lượng Hồng cầu, Hb, số lượng Bạch cầu, tỉ lệ bạch cầu, số

lượng Tiểu cầu.

Đông máu: PT / INR, APTT, Fibrinogen, Von – Kaulla, Ethanol test, DDimer

Hóa sinh máu: Ure, Creatinin, điện giải đồ, GPT, GPT, Bilirubin TP/ TT,

CRP, Procalcitonin.



23



Chẩn đốn hình ảnh: XQTP, siêu ân ổ bụng, CT (ngực, bụng, não), MRI

(ngực, bụng, não, mô mềm), siêu âm tim, điện tâm đồ. Mô tả những tổn thương về

hình ảnh học (tổn thương viêm, sùi van, áp xe), vị trí tổn thương, số lượng ổ tổn

thương, thời gian xuất hiện tổn thương, là tổn thương tiên phát hay thứ phát.

Tổng phân tích nước tiểu: mơ tả các giá trị: BC niệu, HC niệu, Nitrit,

Protein niệu.

Khí máu động mạch: mô tả các giá trị pH, pO2, pCO2, HCO3, P/F.

Ổ tiên phát nhiễm khuẩn: sưng nề, tụ dịch, áp xe da mô mềm; viêm phổi,

áp xe phổi; viêm thận bể thận, áp xe thận; viêm tấy, tụ dịch, tăng tiết dịch vết

mổ; sưng nề, đỏ, tạo mủ chân Catheter, các dẫn lưu qua da; mảnh sùi van tim.

Thời gian xuất hiện ổ tiên phát, mức độ nặng ổ tiên phát.

2.3.5. Tổn thương ổ di bệnh

Viêm, áp xe cơ xương; viêm phổi, áp xe phổi; áp xe gan, lách, viêm phúc

mạc; viêm thận, áp xe thận; viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch não.

Số lượng ổ di bệnh (một hay nhiều ổ), tổn thương một hay nhiều cơ quan, thời

gian xuất hiện ổ di bệnh, mức độ nặng ổ di bệnh.

2.3.6. Các kết quả vi sinh

 Cấy máu: thời điểm cấy máu dương tính, thời gian cấy máu âm tính, số

mẫu cấy máu dương tính.

 Cấy đầu Catheter TMTT: thời điểm cấy dương tính, âm tính. Số mẫu cấy

dương tính.

 Cấy dịch phế quản: thời điểm cấy dịch phế quản dương tính, âm tính. Số

mẫu cấy dương tính.

 Cấy nước tiểu: thời điểm cấy dương tính, âm tính. Số mẫu cấy dương tính.

 Cấy dịch ổ bụng: thời điểm cấy dương tính, âm tính. Số mẫu cấy dương tính.

 Cấy dịch ổ áp xe, ổ dịch: thời điểm cấy dương tính, âm tính. Số mẫu cấy

dương tính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phản ứng kháng thể - Phản ứng kháng thể chủ đối với độc tố S. aureus đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của TSS [7] 

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×