Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bản chất của nhận thức

Bản chất của nhận thức

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phạm vi khách thể khơng bất động mà nó ln được mở rộng, vận động và

phát triển cùng với năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.

+ Cả chủ thể và khách thể nhận thức mang tính lịch sử - xã hội.

- Thơng qua hoạt động thực tiễn, chủ thể nhận thức đã tác động tích cực tới

khách thể, buộc nó bộc lộ bản chất, quy luật để chủ thể nhận thức có thể hiểu

biết về khách thể.

+ Quá trình nhận thức là quá trình phản ánh có đối tượng, có mục đích, có

chọn lọc thơng qua hoạt động thực tiễn cải tạo khách thể mang tính tích cực, chủ

động, chứ khơng phải là sự phản ánh thuần tuý, giản đơn.

+ Sự phản ánh có thể vượt trước thơng qua hoạt động thực tiễn.

Ví dụ: Từ năm 1968 Bác Hồ đã dự đoán, Mỹ nhất định sẽ thua ta, nhưng

chúng chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội.

- Nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và

thụ động, mà nhận thức là một quá trình phản ánh biện chứng phức tạp của con

người đối với hiện thực khách quan, diễn ra theo con đường từ trực quan sinh

động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, giữa các giai

đoạn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

V.I. Lênin: “Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến

khách thể...”

Phản ánh của giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải được hiểu không

phải một cách “chết cứng”, “trừu tượng”, không phải không vận động, không

mâu thuẫn, mà là quá trình trong vĩnh viễn của vận động, của sự nảy sinh mâu

thuẫn và sự giải quyết các mâu thuẫn đó.

- Những nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức:

+ Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con

người.

+ Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người.

+ Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là q trình biện chứng, tích cực, tự

giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết,

từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ ít sâu sắc đến sâu sắc

hơn.

+ Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là

động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.

2. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

a) Phạm trù thực tiễn



15



Theo quan điểm mácxít: thực tiễn là tồn bộ những hoạt động vật chất

có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự

nhiên, xã hội.

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần.

- Thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động mang tính lịch sử - xã hội. Mỗi một

hoạt động của con người đều mang tính lịch sử, cụ thể. Nó chỉ diễn ra trong

một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó.

- Hoạt động thực tiễn là dạng hoạt động cơ bản của lồi người trong sự

phát triển của mình. Ngay từ đầu, thực tiễn đã mang bản chất xã hội, không thể

tách rời các quan hệ xã hội.

- Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý

thức. Đó là ý thức về đối tượng, phương pháp, kết quả… và đặc biệt là ý thức về

mục đích của q trình hoạt động.

- Mục đích của hoạt động thực tiễn là thoả mãn những nhu cầu vật chất và

tinh thần của cá nhân và xã hội.

- Hình thức hoạt động thực tiễn

+ Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của

thực tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những cơng cụ lao

động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết

yếu nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của mình và xã hội.

+ Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người

khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội

phát triển.

+ Thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của thực tiễn, là hoạt động mà

con người tạo ra những trạng thái gần giống, giống hoặc lặp lại của tự nhiên và

xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên

cứu.

Tóm lại: Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có chức năng quan

trọng riêng, song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại

lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản

nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.

b) Vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức

Quan điểm về thực tiễn giữ vai trò cơ bản nhất trong việc xây dựng lý luận về

nhận thức của chủ nghĩa Mác. Sở dĩ như vậy là vì: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý

luận), không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.

- Trước hết, thực tiễn là cơ sở của nhận thức. Con người bắt đầu quan hệ

với tự nhiên không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn, chính trong quá trình

thực tiễn, cải tạo thế giới mà nhận thức lý luận của con người mới được hình

thành và phát triển.

16



+ Để đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải cải tạo thế giới bằng hoạt

động thực tiễn, trong q trình đó con người cũng biến đổi ln cả bản thân

mình, các giác quan của con người ngày càng hồn thiện, năng lực tư duy lơgíc,

trí tuệ khơng ngừng được củng cố và phát triển; theo đó, con người ngày càng đi

sâu nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và

sâu sắc hơn tri thức của mình.

+ Trên cơ sở thực tiễn con người mới có khả năng trực tiếp tạo ra cơng cụ,

phương tiện phục vụ cho q trình nhận thức - hoạt động tinh thần khơng thể có

khả năng trực tiếp về vấn đề đó.

+ Bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải

bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người có điều kiện, khả năng nhận

thức.

Như vậy, thực tiễn đã đem lại những tài liệu cho quá trình nhận thức, mà

thiếu chúng sẽ khơng thể có nhận thức. Khơng có thực tiễn thì khơng có nhận

thức; mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp, đối với người này hay người kia, thế

hệ này hay thế hệ khác, dù ở giai đoạn cảm tính hay lý tính xét đến cùng đều bắt

nguồn từ thực tiễn.

- Thứ hai, thực tiễn là động lực của q trình nhận thức.

+ Thơng qua thực tiễn đã xuất hiện những nhu cầu vật chất, tinh thần và

nhu cầu đó ngày càng cao. Nhu cầu nhận thức của con người là vô hạn, đồng

thời thực tiễn luôn luôn vận động biến đổi không ngừng, trong khi đó khả năng

của chủ thể nhận thức ln có hạn.

Vì vậy, con người ln phải giải quyết mâu thuẫn giữa khả năng nhận thức

của mình với những yêu cầu do thực tiễn đặt ra. Q trình khơng ngừng nảy sinh

và giải quyết mâu thuẫn đó chính là động lực thúc đẩy con người phải nỗ lực về

tri thức, trí tuệ để thoả mãn nhu cầu của thực tiễn và của mình. Với những ý

nghĩa đó thực tiễn là động lực của quá trình nhận thức.

+ Con người ngay từ khi mới xuất hiện đã bị quy định bởi nhu cầu sống.

Để sống, để tồn tại con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, đồng thời

những tri thức khoa học - kết quả nhận thức của con người chỉ có ý nghĩa đích

thực khi nó được vận dụng vào sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và

thực nghiệm khoa học... Với nghĩa đó thực tiễn là mục đích của nhận thức.

- Thứ ba, thực tiễn là mục đích của nhận thức.

+ Nhận thức bao giờ cũng phải quay về phục vụ thực tiễn. Kết quả của

nhận thức phải hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Lý luận, khoa học chỉ

thực sự có ý nghĩa khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn.

+ Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp đòi hỏi lý luận phải đi

sâu vào nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu đó như:

17



Vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta; vấn đề về cơng nghiệp hố và hiện đại hoá; về kinh tế thị trường; về đổi mới

hệ thống chính trị.... Qua việc làm sáng tỏ những vấn đề do thực tiễn đặt ra trên,

lý luận sẽ có được vai trò quan trọng, góp phần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới ở

đất nước ta.

- Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức chân lý.

+ Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên thông qua những con người cụ

thể, thế hệ người trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Do đó, nó có thể đúng có

thể sai, sâu sắc hoặc chưa sâu sắc…Vì vậy, chỉ có thơng qua sự kiểm nghiệm

của thực tiễn thì mới xác định được nhận thức đã đạt được là đúng hay là sai, để

tiếp tục sửa đổi, bổ sung, làm cho tri thức của con người ngày càng đầy đủ, sâu

sắc hơn.

+ Thực tiễn luôn vận động biết đổi không ngừng, do vậy chân lý cũng

thường xuyên bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn mới.

+ Tuy nhiên, những cách kiểm nghiệm này không thể thay thế cho tiêu

chuẩn thực tiễn và suy đến cùng nó cũng phải dựa trên cơ sở thực tiễn.

+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, nhưng tiêu chuẩn này vừa có tính

tuyệt đối vừa có tính tương đối.

Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối, vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan

để kiểm nghiệm chân lý của nhận thức, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể

xác định được chân lý.

Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn ln vận động

và phát triển, mặt khác, thực tiễn do con người thực hiện nên khơng thể tránh

khỏi có cả yếu tố chủ quan.

Tóm lại: Qua phân tích vai trò to lớn của thực tiễn đối với nhận thức trên

đây, đòi hỏi chủ thể hoạt động phải luôn quán triệt đúng đắn quan điểm thực tiễn

đối với nhận thức. Trong nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở

thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn.

3. Hai giai đoạn của quá trình nhận thức

a) Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính)

- Trực quan sinh động là giai đoạn đầu tiên của q trình nhận thức mà

thơng qua các giác quan của mình con người nhận thức thế giới khách quan, khi

có sự tác động trực tiếp của các sự vật, hiện tượng cụ thể.

Đặc trưng của giai đoạn này là sự phản ánh cụ thể, cảm tính, trực tiếp, nhờ

chức năng của các giác quan mà con người có thể phản ánh được những thuộc

tính, những mặt, những mối liên hệ bên ngoài các đối tượng, khi chúng trực tiếp

tác động vào các giác quan của con người.

- Trực quan sinh động được biểu hiện qua các hình thức kế tiếp nhau:

18



+ Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện

tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của con người.

+ Tri giác là hình ảnh tương đối trọn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực

tiếp tác động vào các giác quan.

+ Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai

đoạn trực quan sinh động. Biểu tượng là sự lưu giữ lại trong óc những hình

ảnh, những nét chủ yếu nổi bật nhất của sự vật do các giác quan đem lại.

Như vậy, cảm giác, tri giác, biểu tượng là những quá trình kế tiếp nhau

của trực quan sinh động. Những hình thức này là tiền đề là quá trình tiến tới

giai đoạn nhận thức cao hơn. Tuy vai trò của chúng là to lớn, khơng thể thiếu

trong q trình nhận thức, nhưng đó mới chỉ là sự phản ánh trực tiếp, bề ngoài

của khách thể. Để nhận thức cái bên trong, cái bản chất cái quy luật của khách

thể,… nhận thức phải phải chuyển sang giai đoạn cao hơn - giai đoạn tư duy

trừu tượng.

b) Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính)

- Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp về sự vật, là giai

đoạn tiếp theo nhưng cao hơn về chất so với trực quan sinh động nó phản ánh

sâu sắc bản chất, quy luật bên trong của sự vật, hiện tượng.

Đặc trưng của tư duy trừu tượng là sự phản ánh mang tính khái quát và

gián tiếp. Tư duy trừu tượng dựa trên những tài liệu của trực quan sinh động,

thông qua các thao tác tư duy để khái quát tìm ra bản chất, quy luật của sự vật.

- Tư duy trừu tượng được biểu hiện dưới các hình thức:

+ Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những

những mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của sự vật hay một lớp các

sự vật hiện tượng nào đó.

+ Phán đốn là hình thức cơ bản của tư duy, nó liên kết các khái niệm lại

với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của

đối tượng.

+ Suy luận cũng là hình thức cơ bản của tư duy, liên kết các phán đoán lại

với nhau để rút ra tri thức mới.

c) Sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý

tính

- Bằng phương pháp trừu tượng hố người ta có thể tách ra để nghiên cứu

các giai đoạn trực quan sinh động và tư duy trừu tượng - là những nấc thang hợp

thành trong quá trình nhận thức.

- Trên thực tế, trực quan sinh động và tư duy trừu tượng là hai giai đoạn khác

nhau về chất, có đặc điểm và vai trò khác nhau, nhưng hai giai đoạn này có mối

quan hệ thống nhất biện chứng hữu cơ không tách rời chúng liên hệ, tác động, bổ

sung cho nhau.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bản chất của nhận thức

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×