Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

II. NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bản chất thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất; mọi sự

vật, hiện tượng của thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ qua lại, thâm nhập

và chuyển hoá lẫn nhau.

- Khái niệm liên hệ: liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định,

sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa

các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.

- Tính chất mối liên hệ:

+ Mối liên hệ mang tính khách quan:

Các mối liên hệ khơng phụ thuộc vào ý thức của con người, mà nó là vốn

có của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất, bắt nguồn từ tính thống

nhất vật chất của thế giới;

Liên hệ bao giờ cũng là liên hệ của các sự vật, hiện tượng, quá trình.

Sự vật, hiện tượng thay đổi thì sự liên hệ của chúng cũng thay đổi.

+ Mối liên hệ mang tính phổ biến:

Trong giới tự nhiên, mối liên hệ thể hiện ở sự tác động lẫn nhau giữa các

sự vật, hiện tượng trong quá trình tiến hố từ vơ cơ đến hữu cơ và q trình xuất

hiện sự sống;

Trong xã hội, mối liên hệ thể hiện ở sự tác động qua lại giữa các mặt của

đời sống xã hội với tính cách là một cơ thể thống nhất hữu cơ.

Trong tư duy, có mối liên hệ giữa các hình thức của tư duy: Khái niệm,

phán đốn, suy luận…

+ Mối liên hệ mang tính phong phú, đa dạng:

Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài; Mối liên hệ chủ yếu và

mối liên hệ thứ yếu; Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.

Ý nghĩa phương pháp luận

- Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cần quán triệt phương

pháp luận quan trọng là: quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể.

- Quán triệt nguyên tắc toàn diện và lịch sử - cụ thể, giúp chúng ta nghiên

cứu, nhận thức đúng bản chất của các sự vật, hiện tượng, để có cơ sở xác định đúng

đắn đường lối, nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản lâu dài và chủ yếu trước mắt.

- Tránh cách xem xét phiến diện một chiều hoặc cách xem xét tràn lan.

b) Nguyên lý về sự phát triển

Quan điểm các nhà triết học siêu hình cho rằng: phát triển của sự vật,

hiện tượng chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về lượng.



7



Quan điểm triết học Mác - Lênin cho rằng: Các sự vật hiện tượng

khơng những có mối liên hệ phổ biến, mà còn ln vận động, phát triển

khơng ngừng. Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới.

- Khái niệm: Phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận

động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện

đến hoàn thiện hơn của sự vật.

Phát triển khơng bao qt tồn bộ sự vận động nói chung mà phát triển chỉ là

một trường hợp đặc biệt của sự vận động, nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự

vận động là đi lên, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.

Trong quá trình phát triển, sự vật sẽ hình thành dần những quy định mới cao

hơn về chất, là một quá trình diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt đưa tới sự ra đời

của cái mới thay thế cái cũ theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn; sự phát

triển không diễn ra theo đường thẳng mà quanh co, phức tạp, dường như lặp lại

cái ban đầu nhưng trên cơ sở mới cao hơn, trong đó bao gồm cả những bước thụt

lùi tương đối; nguồn gốc của sự phát triển là do mâu thuẫn nằm trong chính

bản thân sự vật.

- Tính chất của sự phát triển

+ Phát triển mang tính khách quan:

Là sự tự phát triển, khơng phụ thuộc vào ý thức của con người, hay một lực

lượng siêu nhiên nào đó.

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là q

trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động

của chúng, nhờ đó sự vật ln ln phát triển khơng ngừng.

+ Phát triển mang tính phổ biến:

Trong giới tự nhiên, sự phát triển được thể hiện sự tiến hoá từ đơn giảm

đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo

xã hội để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người, ở sự

phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, sự kế tiếp các nền văn minh.

Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu

sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn đối với hiện thực tự nhiên và xã hội.

+ Phát triển mang tính đa dạng, phong phú:

Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng.

Tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sự phát triển

sẽ được biểu hiện hết sức khác nhau.

Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại ở không gian, thời gian khác nhau sẽ có q

trình phát triển khác nhau.

8



Ý nghĩa phương pháp luận

- Nguyên lý về sự phát triển cung cấp cho chúng phương pháp luận khoa

học để nhận thức và cải tạo thế giới.

- Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm phát triển trong hoạt động

nhận thức và hoạt động thực tiễn sẽ giúp chúng ta khắc phục những tư tưởng bảo

thủ, trì trệ, định kiến, góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt

động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người.

2. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

a) Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về

chất và ngược lại

Nội dung quy luật: “bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và

lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới sự thay

đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy tại điểm nút; chất mới ra đời

sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng”.

- Mọi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất của chất và lượng.

+ Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự

vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà khơng

phải là cái khác.

+ Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu

thị số lượng, quy mơ, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự

vật cũng như của các thuộc tính của nó.

Lưu ý: Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ mang tính chất tương đối, phụ

thuộc vào mối quan hệ xác định. Trong mối quan hệ này là chất, nhưng trong

mối quan hệ khác lại là lượng và ngược lại.

- Sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong giới hạn độ:

+ Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và

chất của sự vật, nó là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa

làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.

+ Bất kỳ một sự vật nào cũng có chất và lượng, đó là hai mặt cấu thành của

một sự vật hiện tượng quy định lẫn nhau không thể tách rời, một chất nhất định

trong sự vật bao giờ cũng có lượng tương ứng của nó; lượng và chất là hai mặt

mâu thuẫn của cùng một sự vật, hiện tượng.

+ Trong quá trình vận động chất và lượng cũng biến đổi. Sự thay đổi của

lượng và của chất có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng, lượng của của sự vật có

thể thay đổi tới một giới hạn nhất định mà không làm chất của sự vật thay đổi.

+ Sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng được thực hiện trong giới hạn

“độ”.

9



Như vậy: Sự thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất trong giới

hạn “độ” chất và lượng của sự vật tác động qua lại với nhau cùng vận động biến

đổi. Chất của sự vật là yếu tố tương đối ổn định, lượng thường xuyên biến đổi

một cách dần dần, tiệm tiến theo cách thức tăng dần hoặc giảm dần tới một giới hạn

nào đó sẽ làm chất căn bản của sự vật thay đổi.

- Điểm giới hạn xảy ra sự thay đổi về chất của sự vật gọi là “điểm nút”.

Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay

đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.

- Tại “điểm nút” sự chuyển hoá làm chất sự vật thay đổi gọi là “bước

nhảy”.

Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về

chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra.

- Chất mới ra đời tác động trở lại với lượng mới. Đây chính là chiều ngược

lại của quy luật.

Sau khi ra đời chất mới làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay

đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật.

- Ý nghĩa phương pháp luận

+ Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết

từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật;

+ Khi tích luỹ đủ về lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải

kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất.

+ Chống tư tưởng nơn nóng đốt cháy giai đoạn hoặc tư tưởng thụ động trông

chờ, ỷ lại; trong hoạt động của con người phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức

bước nhảy.

b) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Mâu thuẫn biện chứng

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng là một

thể thống nhất của các mặt đối lập.

- Mặt đối lập là những mặt trái ngược nhau, tồn tại trong cùng một sự

vật, hiện tượng.

Các mặt đối lập là các thuộc tính, các bộ phận bên trong sự vật vừa

thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng.

- Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn trong đó bao hàm sự thống nhất và

đấu tranh của các mặt đối lập.

Mâu thuẫn biện chứng là khách quan, phổ biến, nghĩa là: nó vốn có ở

mọi sự vật, hiện tượng của thế giới.

10



Ví dụ: Trong sinh vật có mâu thuẫn giữa biến dị và di truyền, đồng hố

và dị hố. Trong xã hội có mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc

lột.

Nội dung cơ bản của quy luật:

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng là một

thể thống nhất của các mặt đối lập.

+ Thống nhất của các mặt đối lập là nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau

của mặt đối lập, sự tồn tại mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Hay

sự thống nhất của các mặt đối lập là sự phù hợp, tác động ngang nhau của chúng.

Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, “đồng nhất” với

nhau.

+ Mỗi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất của các mặt đối lập. Đó là sự

thống nhất của các mâu thuẫn. Bởi vì mọi sự vật đều có mâu thuẫn từ chính bản thân

nó.

Ví dụ: Ngun tử bao gồm sự thống nhất các mặt đối lập: là các hạt electron

mang điện tích âm và hạt nhân mang điện tích dương. Trong sinh vật là thể thống nhất

của 2 mặt đối lập đồng hóa và dị hóa..

+ Các mặt đối lập nương tựa và làm tiền đề tồn tại cho nhau. Khơng có mặt đối

lập này thì cũng khơng có mặt đối lập kia và ngược lại.

+ Khơng có sự thống nhất của các mặt đối lập thì khơng tạo thành sự vật. Do đó,

khơng có sự vật cụ thể tồn tại.

- Các mặt đối lập trong mỗi sự vật vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau.

+ Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng

bài trừ và phủ định lẫn nhau.

+ Hình thức của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập hết sức đa dạng:

Một là, Có thể làm thay đổi các yếu tố, các bộ phận của mỗi mặt đối lập;

Hai là, Có thể làm cho 2 mặt đối lập chuyển lên một trình độ cao hơn;

Ba là, Có thể làm cho hai mặt đối lập cũ mất đi, hình thành hai mặt đối

lập mới.

Tính đa dạng đó tuỳ thuộc vào tính chất của các mặt đối lập, mối quan

hệ giữa chúng, vào lĩnh vực mà chúng tồn tại và phụ thuộc vào điều kiện

trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng. Và theo cơ chế vận động là từ

khác biệt đến xung đột, đấu tranh gay gắt quyết liệt đến cực độ thì dẫn đến sự

chuyển hố lẫn nhau, khi đó mâu thuẫn được giải quyết.

- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc động lực của mọi sự vận động và

phát triển.



11



+ Sự vật là thể thống nhất của các mặt đối lập, chừng nào thể thống nhất

còn tồn tại thì sự vật còn tồn tại.

+ Đấu tranh của các mặt đối lập làm cho thể thống nhất cũ bị phá vỡ, thể

thống nhất mới được xác lập, làm sự vật phát triển (Sự chuyển hóa).

Ví dụ: Trong xã hội sự đấu tranh giữa 2 mặt đối lập là LLSX và QHSX,

đó chính là nguồn gốc, động lực cho sự phát triển của xã hội.

Chính sự tác động qua lại, sự đấu tranh của các mặt đối lập đã quy định

một cách tất yếu những thay đổi của các mặt đang tác động qua lại với nhau

và của các sự vật nói chung.

Trong q trình phát triển của mâu thuẫn các mặt đối lập có vai trò vị trí

khác nhau. Vai trò của các mặt khơng bất biến mà có sự thay đổi tuỳ theo sự

phát triển của mâu thuẫn.

+ Điều kiện của sự chuyển hoá là khi mâu thuẫn giữa các mặt đối lập đã

phát triển đến đỉnh cao, xung đột cực độ đã có xu hướng trở thành đồng nhất.

Hình thức chuyển hố của các mặt đối lập rất đa dạng tuỳ theo tính chất của

mâu thuẫn.

- Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:

+ Thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời tương đối.

Bởi vì. thống nhất của các mặt đối lập có quan hệ hữu cơ với đứng im,

sự ổn định tạm thời của sự vật.

+ Đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, vĩnh viễn.

Bởi vì, đấu tranh gắn liền với sự vận động, mà vận động của vật chất là

tuyệt đối, do đó đấu tranh cũng là tuyệt đổi

Một số mâu thuẫn cụ thể:

- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.

- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.

- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

Mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng chỉ có trong xã hội lồi người.

- Ý nghĩa phương pháp luận:

+ Để nhận thức đúng đắn bản chất sự vật, tìm ra phương hướng và giải pháp

đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự

vật;

+ Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển

của từng mặt đối lập, xem xét vị trí vai trò và mối quan hệ lẫn nhau của các

mặt đối lập;

12



+ Không được điều hồ mâu thuẫn mà phải tìm mọi cách để giải quyết

mâu thuẫn với phương pháp giải quyết phù hợp với từng loại mâu thuẫn cụ

thể.

c) Quy luật phủ định của phủ định

Nội dung quy luật: “phát triển là quá trình cái mới phủ định cái cũ; cái

mới vừa gạt bỏ cái cũ, vừa kế thừa những hạt nhân hợp lý trong lòng cái cũ

theo chu kỳ phủ định của phủ định để khẳng định sự tiến lên; con đường tiến

lên trong q trình phát triển, do đó, khơng theo đường thẳng mà theo đường

"xoáy ốc"; cái mới là cái tất thắng”.

- Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận

động, phát triển.

Có 2 loại phủ định: Phủ định siêu hình và phủ định biện chứng.

Phép biện chứng duy vật không nghiên cứu phủ định nói chung, mà chỉ

nghiên cứu phủ định biện chứng.

- Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự

thân, là một khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của sự vật mới tiến bộ hơn.

- Phát triển là q trình phủ định của phủ định mang tính chu kỳ: thông

qua sự phủ định của phủ định một sự vật mới ra đời dường như lặp lại cái ban

đầu trên cơ sở mới cao hơn.

Phủ định lần 1: chuyển cái khẳng định sang cái phủ định.

Phủ định lần 2: chuyển cái phủ định sang cái đối lập với nó, sự vật mới

ra đời dường như lặp lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn (cái khẳng

định).

- Tính phong phú đa dạng của quá trình phủ định của phủ định. Số

lượng các lần phủ định trong một chu kỳ phát triển khơng giống nhau, nhiều

khi nó phải trải qua nhiều lần phủ định trung gian. Tuy nhiên, trong một chu

kỳ phủ định của phủ định phải trải qua ít nhất hai lần phủ định cơ bản có đặc

điểm và tính chất hồn tồn khác nhau.

- Con đường của sự phát triển quanh co, phức tạp theo đường "xoáy

ốc".

- Cái mới ra đời là tất thắng. Cái mới là cái tích cực, tiến bộ hợp quy

luật cho dù phải trải qua những thăng trầm, nhưng cuối cùng cái mới vẫn nhất

định chiến thắng cái cũ.

- Ý nghĩa phương pháp luận

+ Nắm vững quy luật phủ định của phủ định là cơ sở để nhận thức và cải tạo sự

vật.

+ Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu đúng xu hướng vận động

phát triển, do đó xem xét sự vật phải phân tích bản chất của nó để vạch ra

13



khuynh hướng phát triển cơ bản, đồng thời dự kiến được những bước quanh co

phức tạp trong quá trình vận động, phát triển của sự vật hiện tượng.

+ Nhận thức đúng đắn con đường của sự phát triển thông qua những chu kỳ

phủ định của phủ định là cơ sở để xây dựng thế giới quan duy vật và phương pháp

luận khoa học trong xem xét các vấn đề thời đại, xây dựng lòng tin vào sự tất thắng

của cái mới.

+ Trong hoạt động thực tiễn cần tích cực phát hiện ra cái mới, tin tưởng

vào cái mới, ủng hộ cái mới, tạo điều kiện để cái mới nảy sinh, chiến thắng

cái cũ.

III. CON NGƯỜI CÓ THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC THẾ GIỚI



1. Bản chất của nhận thức

a) Các quan điểm khác nhau về nhận thức

- Chủ nghĩa duy vật trước Mác (Hêraclít, Đêmơcrít, Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ,...

đỉnh cao là L.Phoiơbắc) thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người và

coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người. Tuy nhiên họ

khơng thể giải thích một cách khoa học về vấn đề này.

- Chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ việc phủ nhận tính khách quan của thế

giới vật chất nên họ đã phủ định khả năng nhận thức thế giới của con người,

hoặc nếu thừa nhận thì cho đó chỉ là sự áp đặt, chi phối từ những lực lượng “siêu

nhiên” và kết quả nhận thức không phải sự phản ánh hiện thực khách quan.

- Thuyết bất khả tri phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người,

cho rằng bản chất của thế giới là không thể nhận thức được.

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận thức là sự hiểu biết của

con người đối với hiện thực khách quan, là quá trình hình thành tri thức trong bộ óc

con người về hiện thực khách quan.

b) Bản chất của nhận thức

- Bản chất nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và

sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.

+ Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể và khách thể

nhận thức trên cơ sở thực tiễn.

+ Chủ thể nhận thức là những con người, những thành viên của những cộng

đồng xã hội nhất định.

Chủ thể của nhận thức có thể là những cá nhân, nhóm người, giai cấp, dân

tộc, nhân loại.

+ Khách thể nhận thức là một bộ phận, một lĩnh vực nào đó của của thế

giới khách quan nơi mà chủ thể hướng vào đó để nhận thức và cải tạo.

Ví dụ: Dòng sơng trong tự nhiên khơng phải là khách thể, nó chỉ trở thành

khách thể khi con người tác động, biến đổi nó.

14



Phạm vi khách thể khơng bất động mà nó ln được mở rộng, vận động và

phát triển cùng với năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.

+ Cả chủ thể và khách thể nhận thức mang tính lịch sử - xã hội.

- Thơng qua hoạt động thực tiễn, chủ thể nhận thức đã tác động tích cực tới

khách thể, buộc nó bộc lộ bản chất, quy luật để chủ thể nhận thức có thể hiểu

biết về khách thể.

+ Quá trình nhận thức là quá trình phản ánh có đối tượng, có mục đích, có

chọn lọc thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo khách thể mang tính tích cực, chủ

động, chứ khơng phải là sự phản ánh thuần tuý, giản đơn.

+ Sự phản ánh có thể vượt trước thơng qua hoạt động thực tiễn.

Ví dụ: Từ năm 1968 Bác Hồ đã dự đoán, Mỹ nhất định sẽ thua ta, nhưng

chúng chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội.

- Nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và

thụ động, mà nhận thức là một quá trình phản ánh biện chứng phức tạp của con

người đối với hiện thực khách quan, diễn ra theo con đường từ trực quan sinh

động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, giữa các giai

đoạn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

V.I. Lênin: “Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến

khách thể...”

Phản ánh của giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải được hiểu không

phải một cách “chết cứng”, “trừu tượng”, không phải không vận động, không

mâu thuẫn, mà là quá trình trong vĩnh viễn của vận động, của sự nảy sinh mâu

thuẫn và sự giải quyết các mâu thuẫn đó.

- Những nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức:

+ Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con

người.

+ Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người.

+ Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là q trình biện chứng, tích cực, tự

giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết,

từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ ít sâu sắc đến sâu sắc

hơn.

+ Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là

động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.

2. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

a) Phạm trù thực tiễn



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×