Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA THIẾT BỊ THEO DÕI BỆNH NHÂN ĐA THÔNG SỐ

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA THIẾT BỊ THEO DÕI BỆNH NHÂN ĐA THÔNG SỐ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 2.1. Dạng tín hiệu điện tim chuẩn

Dạng sóng điện tim bao gồm một chuỗi các sóng lặp lại theo mỗi chu kỳ tim như

minh họa trên hình 2.1. Những sóng thành phần này được ký hiệu bằng các ký tự P, Q, R,

S, T theo quy ước thường dùng trong lâm sàng. Các sóng thành phần này tương ứng với

các hoạt động của một chu kỳ tim. Tổng thời gian cho một chu kì tín hiệu điện tim là

khoảng 800ms, tương ứng với khoảng 75 nhịp/phút.

 Dạng sóng P: Là quá trình khử cực tâm nhĩ, xung động đi từ nút xoang tại nhĩ

phải sẽ tỏa ra làm khử cực cơ tâm nhĩ, hình thành một điện thế dương hướng từ

trên xuống, từ phải sang trái của tim. Thời gian khử cực này khoảng 80 ms. Khi

tâm nhĩ tái cực, nó cũng tạo ra một điện thế cực tính âm nhỏ hơn nhiều so với

điện thế khử cực tâm thất cùng lúc đó, nên ta khơng nhìn thấy trên điện tim đồ.

Như vậy, hoạt động của tâm nhĩ trên điện tim đồ chỉ tồn tại một sóng đơn sóng p.

 Sóng phức họp QRS: Là q trình khử cực tâm thất, bắt đầu từ lúc tâm nhĩ vẫn

còn đang khử cực. Việc khử cực bắt đầu từ phần giữa mặt trái vách liên thất đi

xuyên sang mặt phải vách này tạo nên một vectơ điện thế khử cực đầu tiên

hướng từ trái sang phải tạo nên một sóng âm nhỏ nhọn trên điện tim đồ gọi là

sóng Q. Tiếp đó, xung động được truyền hướng xuống và bắt đầu khử cực cả

hai tâm thất theo hướng xuyên qua bề dày cơ tim. Lúc này, quá trình khử cực

hướng nhiều về phía bên trái hơn vì thất trái dày hom và tim nằm nghiêng

hướng trục giải phẫu sang bên trái. Vì thế vectơ điện thế khử cực lúc này hướng

13/71



từ phải sang trái hình thành một sóng dương rất cao và nhọn gọi là sóng R. Sau

cùng là vùng đáy thất được khử cực tạo nên một vectơ điện thế hướng từ trái

sang phải tạo nên một sóng âm nhỏ nhọn gọi là sóng s. Như vậy, trong q trình

khử cực tâm thất đã sinh ra một sóng phức hợp QRS có biên độ tương đối lớn,

biến thiên nhanh chỉ trong một khoảng thời gian ngắn khoảng 70ms.

 Sóng T và U: Khi tâm thất khử cực xong sẽ qua một thời gian tái cực chậm

không thể hiện trên điện tâm đồ bằng một sóng nào hết mà chỉ là một đường

thắng, đoạn S-T sau đó là đến một thời kỳ tái cực nhanh và xuất hiện sóng T.

Tái cực tiến hành từ vùng điện dương đến vùng điện âm và có vectơ tái cực

hướng từ trên xuống dưới và từ phải sang trái làm phát sinh một làn sóng

dương thấp. Sóng T thường có dạng khơng đối xứng, sườn lên thoai thoải và

sườn xuống dốc đứng hơn. Người ta khơng đo khoảng thời gian của sóng T vì

nó thay đổi theo từng người và điểm bắt đầu của sườn lên là khơng rõ ràng.

Ngay sau khi sóng T kết thúc, ta còn có thể thấy một sóng chậm nhỏ gọi là sóng

U. Sóng U là giai đoạn muộn của q trình tái cực. Sóng T thường có độ rộng

khoảng 0,2s và sóng u có độ rộng khoảng 0,08s.

2.2.1.2. Sơ đồ khối đo tín hiệu điện tim

Thực hiện đo dạng sóng tín hiệu ECG và dạng sóng hơ hấp (RESP) (hình (2.2).

Các mạch trở kháng cao và các bộ hãm khí bảo vệ các bộ khuếch đại đầu vào khỏi sốc tim

và các tín hiệu nhiễu tần số cao từ các điện cực gắn trên người bệnh nhân. Các mạch đầu

vào của khối này được cách ly với các mạch còn lại bằng các bộ nối quang và máy biến

thế. Khối này nhận một kênh tín hiệu ECG từ các đạo trình 3 điện cực hoặc 5 điện cực.

Phụ thuộc vào cài đặt phần mềm mà bộ chọn đạo trình ở khối này chọn đạo trình phù hợp

từ 3 đến 5 điện cực đặt trên người bệnh nhân. Mạch xử lý đường sóng hơ hấp có khả năng

đo trở kháng của các tín hiệu đầu vào. Sự thay đổi trở kháng của các tín hiệu đầu vào gây

ra sự thay đổi điện áp của tín hiệu đầu ra và dựa vào sự thay đổi điện áp này máy tính ra

số nhịp thở của bệnh nhân.



14/71



Hình 2.2. Sơ đồ khối ECG/RESP

Đặc điểm của tính hiệu điện tim đầu ra

Tín hiệu điện tim là tín hiệu sinh học lấy từ cơ thể người thơng qua các điện cực, do

vậy nó có một số đặc điểm sau:

-



Biên độ của tín hiệu điện tim tương đối nhỏ, khoảng lmV.

Tần số nằm trong khoảng từ: 0.1Hz đến 250Hz.

Dễ bị can nhiễu, nguồn nhiễu này sinh ra do một số nguyên nhân cơ bản như:

Nhiễu 50Hz (nhiễu của nguồn điện áp xoay chiều cung cấp cho thiết bị), nhiễu

do tiếp xúc của các điện cực, do sự chuyển động của bệnh nhân, do sự co cơ....



2.2.2. Đo độ bão hòa oxy trong máu SPO2

2.2.2.1. Độ bão hòa Oxy trong máu

Máu trong cơ thể người mang oxy theo hai cách: Hòa tan dưới dạng chất dịch

trong máu hay gọi là huyết tương và kết hợp với hemoglobin. Lượng oxy ở dạng chất dịch

chiếm khoảng 3% toàn bộ oxy. Giá trị này đo được dưới dạng các khí trong máu (blood

gases). Do hầu hết oxy đều kết hợp với hemoglobin, nên có ba yếu tố ảnh hưởng đến

lượng oxy cung cấp cho cơ thể:

-



Dịch truyền mô

Lượng hemoglobin

15/71



-



Sự bão hòa hemoglobin bởi oxy.



Nếu mọi phân tử hemoglobin kết hợp với một phân tử oxy thì tồn bộ hemoglobin

trong cơ thể bão hòa hồn tồn (100% bão hòa). Khi hít thở khơng khí (21% oxy), lượng

oxy này là rất ít để hemoglobin được bão hòa hồn tồn. Nhưng ái lực của hemoglobin

với oxy là rất cao nên gây ra sự bão hòa gần như là hồn tồn trong máu (khoảng 97%).

Khi hemoglobin không mang oxy tới các mô (mức mao dẫn), sự bão hòa

hemoglobin trong mao dẫn tăng dần. Thơng thường sự bão hòa trong tĩnh mạch vào

khoảng 75%. ái lực của hemoglobin đối với oxy cao hạn chế oxy khi bão hòa mức thấp,

bởi vậy mức chênh lệch giữa mức bão hòa ở trạng thái khỏe “ từ 95 - 98%” và mức thở

kém (85-90%) là rất thấp. Nếu oxyhemoglobin thấp (dưới 90%) thì khơng đủ lượng oxy

cung cấp cho cơ thể.

2.2.2.2. Sơ đồ khối đo Độ bão hòa Oxy trong máu

Sơ đồ khối đo độ bão hòa oxy trong máu được thể hiện như Hình 2.3.



Hình 2.3. Sơ đồ nguyên lý của khối SpO2



16/71



2.2.3. Đo huyết áp không xâm lấn

2.2.3.1. Sự hình thành huyết áp

Huyết áp là áp lực gây ra cho thành mạch máu khi máu lưu thơng trong mạch máu.

Sự hình thành của huyết áp động mạch là kết quả của tác dụng tương quan giữa tim (hệ

thống bơm máu) và lực cản bên ngoài.

Khi tim co lại, tâm thất sẽ đẩy máu vào mạch máu. Cơ tâm thất phóng thích ra

năng lượng, một phần dùng để đẩy máu di chuyển, một phần sẽ chuyển hóa thành áp lực

lên thành mạch máu. Trị số huyết áp và lượng máu do tim đẩy ra có liên quan mật thiết

với nhau. Lượng máu đẩy ra là tích số của lượng máu được đẩy ra sau mỗi lần tim đập và

nhịp tim. Vì vậy, nhịp tim nhanh hay chậm đều ảnh hưởng đến trị số huyết áp.

Sức cản ngoại vi được hình thành chủ yếu do lực cản huyết quản, là một nhân tố

quan trọng hình thành nên huyết áp. Nếu khơng có sức cản ngoại vi thì lượng máu từ tim

bơm ra sẽ chảy nhanh ra ngoài. Chỉ khi phối họp với sức cản ngoại vi, lượng máu do tim

bơm ra sẽ không chảy quá nhanh mà lưu lại ở mạch máu. Như thế, năng lượng phóng

thích ra khi tâm thất co lại mới có thể biểu hiện dưới dạng áp lực, hình thành nên huyết áp

tương đối cao. Áp lực ngoại vi tăng cao chủ yếu là do sự thay đổi của đường kính mạch

máu và liên quan mật thiết đến hoạt động co, giãn của thành mạch máu.

Độ đàn hồi của động mạch và độ dính của máu cũng sẽ ảnh hưởng đến trị số huyết

áp. Khi độ đàn hồi của động mạch tăng có tác dụng làm giảm biên độ dao động của huyết

áp, ngăn ngừa hiện tượng áp suất tâm thu quá cao và áp suất tâm trương quá thấp. Độ

dính của máu tăng cao, sức cản ngoại vi lớn cũng sẽ làm cho huyết áp tăng cao.

2.2.3.2. Sơ đồ khối đo huyết áp



17/71



Hình 2.4. Sơ đồ khối đo huyết áp không xâm lấn (NIBP)

Dạng sóng huyết áp đo được bằng phương pháp khơng xâm lấn có dạng như hình 2.5.



Hình 2.5. Dạng sóng huyết áp

2.2.4. Đo tín hiệu thở

2.2.4.1.Tổng quan về hệ hơ hấp của người

Phổi thực hiện chức năng thơng khí vào trao đổi O2, CO2 với máu. về mặt trao đổi

khí, máu sẽ nhận O2 từ khơng khí hít vào và thải CO2 ra ngồi theo đường thở ra. về mặt

thơng khí, khi phổi co lại sẽ tạo nên một áp lực âm so với áp lực khí quyển và khơng khí

sẽ đi vào qua đường dẫn khí (mồm, mũi- khí quản, phế quản-phổi). Đây là q trình hít

vào của con người. Khi phổi dãn ra, lượng khí trong phổi bị đẩy ra ngoài do áp lực phổi

cao hon áp lực khí quyển. Đây là q trình thở ra của con nguời. Hoạt động của hệ hô hấp



18/71



đuợc theo dõi qua các thơng số khí có trong khí thở của con nguời như C02, lượng 02 tiêu

thụ cũng như sự co bóp của phổi và số lần hít vào, thở ra (nhịp thở).

2.2.4.2. Sơ đồ khối đo tín hiệu thở

Các điện cực được đặt ở trước ngực bệnh nhân (tùy theo vị trí của điện cực). Để đo

tín hiệu thở, bộ tạo dao động sẽ tạo ra tín hiệu dòng điện xoay chiều có tần số từ 20KHz

đến 100KHz, cường độ từ 25pA đến 500pA tác động vào điện cực mục đích để thu được

giá trị điện áp để đưa vào bộ khuếch đại. Tín hiệu ra của bộ khuếch đại sẽ được lọc, xử lý

và tính tốn bởi bộ vi xử lý. Trên màn hình sẽ hiển thị dạng tín hiệu thở và nhịp thở/phút,

tất cả quá trình này đuợc thể hiện ở Hình 2.6.



Hình 2.6. Sơ đồ khối đo tín hiệu thở trong thiết bị theo dõi bệnh nhân

2.2.5. Đo nhiệt độ

2.2.5.1. Giới thiệu chung

Nhiệt độ (temperature) được đo tại một số vị trí khác nhau trên cơ thể để chẩn đoán

và theo dõi bệnh nhân. Ở người, nhiệt độ phần giữa cơ thể là ổn định nhờ chức năng điều

hòa nhiệt độ (thermoregulatory) sinh lý. Nhiệt độ của các mô nằm sâu trong phần giữa cơ

thể được gọi là nhiệt độ lõi hay nhiệt độ cơ thể sâu (deep body). Thuật ngữ “nhiệt độ cơ

thể” thường dùng cho nhiệt độ lõi mặc dù nhiệt độ của cơ thể là không đồng đều mà thay

đổi từ điểm này tới điểm khác. Nhiệt độ lõi luôn nằm trong khoảng 35 - 40°c. Hầu hết các

thay đổi nhiệt độ sinh lý hay bệnh lý đều nằm trong dải này, từ thấp nhất vào sáng sớm

hay trong thời tiết lạnh tới cao nhất do sốt hay do vận động mạnh.

2.2.5.2. Sơ đồ khối đo nhiệt độ

Sơ đồ khối mạch đo nhiệt độ được thể hiện trên Hình 2.7. Trong sơ đồ này, điện trở

nhiệt trong đầu đo nhiệt độ được kết nối với bộ so sánh. Bộ so sánh này sẽ liên tục so



19/71



sánh đầu vào với các điện trở chuẩn để liên tục hiệu chuẩn phép đo. Điện áp được tạo ra

sau đó sẽ được khuếch đại, lọc và được số hóa rồi đưa đến bộ vi xử lý. Việc hiệu chỉnh

liên tục, tuyến tính hóa, điều khiển, biến đổi sang nhiệt độ và hiển trên màn hình đều được

thực hiện bởi bộ vi xử lý.



Hình 2.7. Sơ đồ khối đo nhiệt độ

2.2.6. Đo và hiển thị nhịp tim

Nhịp tim (Heart Rate) được xác định là số lần tim đập trong một phút. Việc theo

dõi nhịp tim là để xác định xem là tim đập nhanh hay chậm. Nhịp tim được lấy từ q

trình thu nhận và xử lý tín hiệu điện tim ECG và đo bằng cách lấy trung bình hay khoảng

thòi gian tức thời giữa hai đỉnh R liền nhau. Nhịp tim có khoảng giá trị từ 0-250

nhịp/phút.

Do nhịp tim được lấy từ quá trình thu nhận và xử lý tín hiệu điện tim ECG nên sơ

đồ khối đo và hiển thị nhịp tim cũng là sơ đồ khối Hình 2.2. Bộ vi xử lý sẽ thực hiện việc

tính tốn và hiển thị giá trị nhịp tim khi tín hiệu điện tim đã được xử lý.



20/71



CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG THIẾT BỊ THEO DÕI BỆNH NHÂN ĐA

THÔNG SỐ PVM-2701 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NGHĨA LỘ - YÊN

BÁI



3.1. Thực trạng sử dụng thiết bị theo dõi bệnh nhân

Bệnh viện ĐKKV Nghĩa Lộ gồm có 23 khoa, phòng; trong đó có 6 phòng ban chức

năng, 17 khoa lâm sàng và cận lâm sàng;

Năm 2012 Bệnh viện được dự án KFW cấp cho đơn vị 82 hạng mục trang thiết bị , và

đơn vị tự mua bằng nguồn phát triển sự nghiệp của đơn vị. Bệnh viện hiện có tổng số 25

monitor theo dõi bệnh nhân đa thơng số, trong đó monitor theo dõi sản khoa có 4, còn lại

21 monitor theo dõi bệnh nhân tập trung tại các khoa Nội , Hồi sức cấp cứu, khoa nhi,

khoa gây mê phẫu thuật.. Moniter theo dõi bệnh nhân chủ yếu của hãng Nihonkonden,

B40I của Hàn Quốc... Đặc biệt monitor theo dõi bệnh nhân PVM - 2701 ( Hiện có 12 cái )

được sử dụng nhiều tại đơn vị, do tính ổn định cao, sử dụng bền bỉ, kết quả chính xác, dễ

sử dụng ...

3.2. Nhu cầu sử dụng máy theo dõi bệnh nhân

Bệnh viện ĐKKV Nghĩa Lộ là bệnh viện hạng II tuyến tỉnh đóng trên địa bàn thị xã

Nghĩa Lộ, đảm bảo cơng tác chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân 4 huyện thị phía tây của

tỉnh Yên Bái, ( Huyện Trạm Tấu, huyện Mù Cang Chải, huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa

Lộ). Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Sở Y tế , UBND tỉnh đã đầu tư

nâng cấp nhiều trang thiết bị, tuy nhiên do bệnh nhân đến viện ngày tăng, bệnh viện ln

trong tình trạng q tải, mơ hình bệnh tật đa dạng, người bệnh đến viện thường quá muộn,

bệnh đã nặng do đó nhu cầu về trang thiết bị là rất lớn, đặc biệt monitor theo dõi bệnh

nhân còn thiếu rất nhiều. Số lượng bệnh nhân được thể hiện qua các năm:

- Năm 2017 tổng số bệnh nhân đến khám và điêu trị là:

+ Khám bệnh : 128.121 lượt người,

+ Điều trị nội trú : 21.884 lượt người

- Năm 2018 tổng số bệnh nhân đến khám và điêu trị là:

+ Khám bệnh : 133.154 lượt người,



21/71



+ Điều trị nội trú : 23.345 lượt người

- 3 tháng đầu năm 2019:

+ Khám bệnh : 28.770 lượt người,

+ Điều trị nội trú : 5.159 lượt người

3.3. Thiết bị theo dõi bệnh nhân đa thông số PVM-2701

3.3.1 Giới thiệu về thiết bị

Thiết bị theo dõi bệnh nhân đa thông số PVM-2701 của hãng Nihon Kohden- Nhật,

được sản xuất từ năm 2015 [2]. Đây là một trong những dòng máy của hãng Nihon

Kohden tại thị trường Việt Nam. Model này có một số ưu điểm như gọn nhẹ, độ tin cậy

cao, có thể theo dõi được 5 thơng số sinh tồn trong cơ thể người; rất thích hợp trong việc

theo dõi bệnh tại các buồng cấp cứu và phòng bệnh. Các thơng số mà thiết bị này theo dõi

được là: Nhiệt độ, Độ bão hòa oxy trong máu (SPO2), nhịp tim (heart rate), dạng tín hiệu

điện tim (ECG), huyết áp khơng xâm lấn NIBP và nhịp thở RESP.

Hình ảnh tổng thể của thiết bị theo dõi bệnh nhân đa thơng số PVM-2701 được thể hiện

trong Hình 3.1.



Hình 3.1. Hình ảnh tổng thể của thiết bị theo dõi bệnh nhân đa thông số PVM-2701[2]

* Một số đặc điểm của thiết bị:



22/71



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA THIẾT BỊ THEO DÕI BỆNH NHÂN ĐA THÔNG SỐ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×