Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG 3III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

NNL Bắc Ninh đang đứng trước tình hình là thừa lao động, thiếu việc làm,

số lượng cung về lao động giản đơn rất lớn trong khi cầu về lao động lành nghề,

lao động có hàm lượng trí tuệ cao nhưng khả năng đáp ứng lại rất hạn chế do đó

mất cân đối giữa cung và cầu lao động trên thị trường. Theo số liệu đã trình bày

ở trên, dân số tự nhiên ở Bắc Ninh còn ở mức cao, lao động, việc làm còn khó

khăn, hằng năm có khoảng 1,3 vạn lao động được bổ sung và cần giải quyết việc

làm. Ước tính đến năm 20150 dân số Bắc Ninh có 1,050 triệu, lao động trong độ

tuổi có 553 nghìn người, đến năm 2020 dân số 1,146 triệu, lao động trong độ

tuổi có 593 nghìn người. Bên cạnh đó số lao động dư thừa, lao động chưa có việc

làm hằng năm gần 20%. Nguồn lao động lại tăng nhanh trong khi tốc độ phát

triển kinh tế ở Bắc Ninh còn chậm, chưa có khả năng mở rộng tái sản xuất để thu

hút lao động. Cơ cấu ngành nghề còn đang trong quá trình chuyển dịch và lại

diễn ra chậm chạp nên sự phát triển nghề về cơ bản đã giúp giải quyết việc làm

hàng năm, song vẫn thấp hơn so với yêu cầu phải giải quyết. Sự phát triển của

quan hệ cung-cầu về lao động dẫn đến sức ép về giải quyết việc làm ngày càng

cao.

Mặt khác, quá trình CNH, HĐH ở Bắc Ninh thời gian qua và sắp tới cho

thấy nhu cầu đòi hỏi về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhiều hơn lao

động giản đơn. Ví dụ nhu cầu của hai khu cơng nghiệp Tiên Sơn và Quế Võ và

các cụm công nghiệp của địa phương cần tới hàng nghìn lao động; số lao động

để thực hiện phát triển các làng nghề cũng đòi hỏi bổ sung hàng nghìn lao động

được đào tạo nghề.

Số lao động cần cho quá trình phát triển chủ yếu là lao động lành nghề, lao

động có chun mơn kỹ thuật cao, các nhà quản lý am hiểu cơ chế thị trường.

Yêu cầu này đặt trước nguồn cung cấp lao động chủ yếu là lao động phổ thơng

có tay nghề giản đơn, lao động nhàn dỗi trong nông nghiệp, bộ đội xuất ngũ (số

73



này chiếm gần 80% lực lượng lao động) cho thấy khả năng số người khơng có

việc làm sẽ tiếp tục tăng nếu cung đào tạo nhân lực chuyên môn không đáp ứng

kịp thời. Sự lệch pha này làm cho quan hệ cung cầu lao động vốn đã mất cân đối

lại càng mất cân đối hơn, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện CNH, HĐH.

Trong thực tiễn, quá trình CNH, HĐH việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ

thuật để thực hiện q trình chuyển lao động thủ cơng thành lao động kỹ thuật sử

dụng máy móc cơng nghệ, có chun mơn kỹ thuật tăng. Nhưng một điều đáng

lo ngại ở Bắc Ninh hiện nay là thời gian lao động chưa được sử dụng của lao

động nông nghiệp khá cao (gần 25%); trong số những người khơng có việc làm ở

nơng thơn thì đại bộ phận là khơng có nghề, khơng có vốn và chưa qua đào tạo;

số lượng bộ đội xuất ngũ hầu hết chưa qua đào tạo nghề, trình độ đào tạo nhân

lực lại bất hợp lý. Số lao động qua đào tạo mới đạt 18,8%.

Cùng với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước Bắc Ninh tiến hành

CNH, HĐH trong cơ cấu mở với xu hướng khu vực hố, tồn cầu hố ngày càng

tăng, để hồ nhập vào nền kinh tế khu vực đòi hỏi việc đào tạo nguồn nhân lực

phải đáp ứng được yêu cầu cao cả về số lượng và chất lượng. Nhờ đó có thể sản

xuất được các hàng hố có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường khu vực và quốc

tế, đồng thời tạo được sức cạnh tranh của lao động xuất khẩu Bắc Ninh trên thị

trường khu vực như: Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia; tiến tới tiếp cận các thị

trường cao cấp ở Châu âu, châu phi, đặc biệt là thị trường Anh, Nhật Bản. Chính

vì vậy, vấn đề đặt ra cho Bắc Ninh hiện nay là muốn đạt mục tiêu xuất khẩu lao

động để khai thác lợi thế của nguồn lực con người cần phải tăng cường đầu tư và

nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đạt ở trình độ chuẩn so với khu vực

và thế giới(kể cả lao động giúp việc gia đình và lao động chuyên môn kỹ thuật).

Đào tạo NNL ở Bắc Ninh cũng đang đứng trước yêu cầu chuyển dịch cơ

cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH, nhưng hiện nay cơ cấu

74



lao động theo ngành và cơ cấu lao động được đào tạo còn bất hợp lý. Q trình

chuyển dịch diễn ra chậm chạp, tỷ lệ lao động giữa các ngành nông nghiệp-công

nghiệp-dịch vụ là: 48,29 %, 29,12 %, 22,59%. Bắc Ninh mới có 32,9% trong

tổng số lao động được đào tạo nhưng chủ yếu mới đào tạo lao động ở trình độ

bán lành nghề chứ chưa qua phải đào tạo dài hạn trình độ cao để phục vụ cho

công nghệ cao. Thực tế cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế , cơ cấu lao động là

nội dung cơ bản của CNH, HĐH, chỉ khi nào phá vỡ được cấu trúc mới một cách

toàn diện cả về cơ cấu lao độngtheo trình độ, theo ngành, theo lĩnh vực kinh tế

và cơ cấu lao động được đào tạo mới được xem là hồn thành nhiệm vụ của

CNH, HĐH. Vì vậy để khắc phục tình trạng bất hợp lý về cơ cấu lao động đáp

ứng yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu lao động, Bắc Ninh cần phải thực hiện

một cuộc cách mạng trong đào tạo và sử dụng NNL.

Tiềm năng nhân lực còn bị lãng phí, sử dụng chưa hợp lý và hiệu quả chưa

cao .

Quá trình đổi mới ở Bắc Ninh trong thời gian qua nhìn chung đã có những

cố gắng trong việc khai thác, sử dụng lao động có hiệu quả hơn vào các mục tiêu

KT-XH của tỉnh. Nhưng xem xét một cách cụ thể và toàn diện trong thực tế việc

sử dụng NNL ở Bắc Ninh vẫn còn hạn chế. Bắc Ninh vẫn chưa khai thác hết tiềm

năng NNL của mình.

Đối với lao động được đào tạo, Bắc Ninh cũng chưa khai thác sử dụng

hiệu quả, điều này được thể hiện ở chỗ sử dụng nhân lực có trình độ chun

mơn khơng đúng với ngành nghề được đào tạo hoặc dưới khả năng được đào

tạo.

Các doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã

sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm những công việc của công nhân,

cách sử dụng này vừa không đạt hiệu quả cao lại gây lãng phí trong đào tạo

75



nguồn nhân lực. Như vậy, vấn đề đặt ra ở Bắc Ninh là làm thế nào để thu hút

được nhiều lao động và sử dụng lao động có hiệu quả cao, nhất là lao động

qua đào tạo trong thời gian tới.

3.1.2. Phát huy phát triểnhiệu quả nguồn nhân lực ĐẶt lại tên tiểu mục.

Nếu dùng từ « hiệu quả » thì cả phần chương 1, 2 cũng phải bàn đến vấn đề hiệu

quả.

- Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và của toàn xã hội về phát

triển nhân lực: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giáo dục, đào tạo và pháp luật

liên quan đến vấn đề phát triển nhân lực, trong đó làm tốt công tác tuyên truyền

hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, nhất là học sinh Trung học phổ thông.

Chú trọng tuyên truyền, thông báo, tập huấn kịp thời cho doanh nghiệp, người sử

dụng lao động về chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước liên quan đến lao

động, việc làm để họ có định hướng, kế hoạch thực hiện.

- Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực: Hoàn thiện bộ máy

quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao nănglực,

hiệu lực và hiệu quả hoạt động. Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp,

các ngành về phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh; tạo sự phối hợp nhịp

nhàng, đồng bộ, thống nhất tốt nhất cho sự phát triển nhân lực trên địa bàn.

- Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực: Nâng cao thể lực và tầm vóc của nhân

lực, chú ý làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao thể lực

tồn dân. Tích cực thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia.

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong hệ thống trường phổ thông, chú

trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực làm việc độc lập, sáng tạo, kỹ năng

thực hành, khả năng lập nghiệp. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Gắn

việc phát triển các trường cao đẳng, đại học, cơ sở đào tạo với phát triển nguồn

76



nhân lực phục vụ các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn. Chú trọng đào

tạo, nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng lao động. Hàng năm, đào tạo, bồi

dưỡng tại chỗ để theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ tiên tiến trong

sản xuất, đồng thời phù hợp với đường lối, chính sách, luật pháp về phát triển xã

hội và phát triển doanh nghiệp...

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơng cụ khuyến khích và

thúc đẩy phát triển nhân lực: Cụ thể hóa và thể chế hóa chính sách đầu tư khuyến

khích và thúc đẩy phát triển nhân lực. Thực hiện chế độ ưu đãi về sử dụng đất

đai, giảm tiền thuê đất; vay vốn ưu đãi để đầu tư xây dựng các cơ sở phát triển

nhân lực; cấp kinh phí mua sắm trang thiết bị giảng dạy; có chế độ ưu đãi với

giáo viên... Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong

xã hội để phát triển nhân lực; đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Có chính sách tạo

việc làm, hỗ trợ đối tượng nghèo khi tham gia các loại hình bảo hiểm. Thực hiện

chính sách nhà ở, chăm lo đời sống, vật chất tinh thần cho công nhân ở các khu

cơng nghiệp tập trung. Hồn thiện chính sách đãi ngộ về tiền lương, tiền thưởng

và các loại phụ cấp và chính sách thu hút nhân tài về tỉnh cơng tác.

- Nhanh chóng xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao

động và dịch vụ về đào tạo, tìm kiếm, giới thiệu việc làm.

3.2. Giải pháp phát triểên nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh

3.2.1. Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục, đào tạo

Thứ nhất xác định, để đổi mới giáo dục, trước hết phải đổi mới công tác

quản lý, đổi mới từ tư duy quản lý theo hướng hiện đại, thiết thực, hiệu quả. Cụ

thể là:

- Tham mưu xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do UBND,

HĐND tỉnh ban hành làm cơ sở triển khai thực hiện đổi mới căn bản và toàn

diện giáo dục.

77



- Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về công tác quản lý

giáo dục. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, công tác tổ chức để mỗi tổ

chức cơ sở đảng, chính quyền, đồn thể, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo

dục, gia đình, người học và người sử dụng lao động ở từng cơ sở giáo dục đều

xác định được mình là chủ thể của sự nghiệp phát triển giáo dục; trong đó Nhà

nước, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, gia đình và người học đóng vai trò chủ

đạo.

- Làm tốt công tác phân luồng học sinh sau THCS, THPT và liên thơng

giữa các chương trình giáo dục, cấp học và trình độ đào tạo; đa dạng hóa phương

thức học tập đáp ứng nhu cầu nhân lực, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi

người.

Chuyển một số trường THPT thành THPT kỹ thuật theo sự chỉ đạo của Bộ,

thực hiện phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS.

- Phân loại chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp theo

các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, các cơ sở chưa đạt chuẩn phải có lộ trình để

tiến tới đạt chuẩn; chú trọng xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến, trọng điểm,

chất lượng để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các

ngành kinh tế - xã hội.

- Thực hiện quản lý theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo

dục và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành, của tỉnh trong từng giai

đoạn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Đẩy

mạnh ứng dụng cơng nghệ thơng tin nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở

các cấp.

- Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu ra và các điều

kiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về khoa học

giáo dục, khoa học công nghệ và khoa học quản lý, từng bước vận dụng chuẩn

của các nước tiên tiến; công khai về chất lượng giáo dục, các điều kiện cơ sở vật

78



chất, nhân lực và tài chính cho các cơ sở giáo dục; thực hiện giám sát xã hội đối

với chất lượng và hiệu quả giáo dục; thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo

dục của các cấp học.

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả giáo dục pháp luật, đối xử bình đẳng với

loại hình cơ sở giáo dục là cơng lập và tư thục, xây dựng mạng lưới giáo dục

theo hướng phân tầng để thích ứng với đòi hỏi thực tiễn hiện nay của phát triển

kinh tế - xã hội.

Thứ hai, nhóm giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và

cán bộ quản lý

- Đổi mới căn bản chính sách đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ quản lý

giáo dục theo hướng coi trọng phẩm chất và năng lực hoạt động thực tiễn. Hoàn

thiện cơ chế quản lý theo hướng tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động

dạy học, nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục,

phân công, phân cấp hợp lý giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, UBND các

cấp về trách nhiệm, quyền hạn quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

- Xây dựng các tiêu chuẩn của người cán bộ quản lý (CBQL), rà soát,

đánh giá đúng năng lực của đội ngũ CBQL là cơ sở để tiến hành quy hoạch, đào

tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ.

- Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL cho từng giai đoạn cụ thể.

Trên cơ sở dự báo hướng phát triển của sự nghiệp GDĐT của tỉnh, căn cứ

vào nhu cầu về đội ngũ CBQL cùng với việc đánh giá phân loại CBQL hiện nay

để xây dựng quy hoạch tổng thể đội ngũ CBQL, đảm bảo tính cân đối, hợp lý

của đội ngũ, đáp ứng đủ số lượng CBQL cho từng giai đoạn, phù hợp với quy

mô trường lớp.

- Tuyển chọn, sử dụng hợp lý, phát huy được năng lực của CBQL



79



Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm CBQL phải gắn liền với quy hoạch để đảm

bảo tính định hướng và thử thách sự phấn đấu của người cán bộ. Bố trí, sử dụng

cán bộ phải phù hợp với năng lực, sở trường của từng người. Trong đó năng lực

quản lý là điều kiện không thể thiếu đối với mỗi CBQL.

- Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có trình

độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn, vững vàng về chính trị và chuyên môn. Tham

mưu với UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành chức năng tiếp tục thực hiện việc

tuyển dụng giáo viên mầm non theo Quyết định của UBND tỉnh.

Tiếp tục duy trì chính sách điều động, đảm bảo bố trí đồng bộ cân đối giáo

viên giữa các trường, tạo điều kiện để giáo viên yên tâm công tác, gắn bó với

trường lớp.

- Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo và

CBQL giáo dục. Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong và tư cách

của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học sinh, sinh viên.

Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020,

100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 85%

giáo viên mầm non, 100% giáo viên tiểu học, 95% giáo viên THCS và 30% giáo

viên THPT đạt trình độ trên chuẩn; 36% giáo viên TCCN, 75% giảng viên cao

đẳng, 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sĩ trở lên; 100% giảng viên đại

học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ.

- Tập trung đầu tư xây dựng trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh theo Đề

án đã được tỉnh phê duyệt. Có chính sách đặc thù của tỉnh để thu hút học sinh

giỏi thi vào các trường sư phạm và tuyển dụng sau khi các em tôt nghiệp về địa

phương cơng tác.



80



- Xây dựng và hồn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà

giáo, cán bộ quản lý giáo dục

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của trung ương và địa phương

về ưu đãi đối với nhà giáo, tạo động lực cho các nhà giáo và cán bộ quản lý.

Khen thưởng, động viên và tơn vinh kịp thời các nhà giáo có thành tích xuất sắc

trong học tập, cơng tác, nghiên cứu khoa học.

Tăng cường công tác dự báo, đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch đào

tạo, bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục. Có chính

sách điều tiết số lượng và cơ cấu đội ngũ cho phù hợp với yêu cầu phát triển giáo

dục.

3.2.2. Tăng cường xây dựng cơ chế tài chính giáo dục

- Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính giáo dục nhằm huy động, phân bổ và sử

dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục;

nâng cao tính tự chủ của các cơ sở giáo dục, đảm bảo tính minh bạch và trách

nhiệm đối với Nhà nước, người học và xã hội; đảm bảo nguồn lực tài chính cho

một số cơ sở giáo dục của tỉnh Bắc Ninh đủ sức hội nhập và cạnh tranh trong

nước và quốc tế.

Phân cấp trách nhiệm quản lý và huy động vốn:

+ Hoàn thành việc xây dựng chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất kỹ thuật cho

tất cả các loại hình trường nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cơ bản đáp

ứng việc đổi mới q trình dạy học. Trong đó, chú trọng đến chuẩn hóa phòng

học, phòng thí nghiệm, phòng học bộ mơn và trang thiết bị dạy học ở các cấp

học.



81



+ Với các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp tiểu học đặt ở các thơn, xóm và

các lớp mẫu giáo, lớp tiểu học, lớp THCS đặt tại trung tâm xã, phường do

UBND xã, phường chịu trách nhiệm toàn bộ về đầu tư xây dựng CSVC và

mua sắm trang thiết bị đồ dùng dạy học, ngân sách tỉnh hỗ trợ theo tỷ lệ quy

định.

+ Với các trường, lớp trực thuộc Phòng GDĐT (trường mầm non Liên cơ,

THCS, trường trọng điểm), UBND huyện, thị xã, thành phố, giao cho Phòng

GDĐT phối hợp với các phòng chức năng có liên quan của huyện, thị xã, thành

phố chịu trách nhiệm lập hồ sơ thủ tục xây dựng, mua sắm trình các cơ quan

chức năng có thẩm quyền phê duyệt và sau đó giao cho Phòng GDĐT triển khai

thực hiện. Ngân sách Nhà nước (tỉnh, huyện, thị xã, thành phố) đầu tư kinh phí.

+ Các trường THPT cơng lập, các Trung tâm GDTX, Trung tâm KTTHHN và trường Cao đẳng Sư phạm giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo trực tiếp

quản lý, Ban quản lý dự án xây dựng cơng trình giáo dục thực hiện phần xây

dựng, nguồn kinh phí thực hiện từ vốn xây dựng cơ bản tập trung của tỉnh và vốn

chương trình mục tiêu quốc gia. Các trường và các trung tâm thực hiện phần sửa

chữa, xây dựng nhỏ và mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, nguồn kinh phí

trong dự tốn ngân sách được giao cho đơn vị hàng năm và nguồn học phí, cùng

số tiền đóng góp tự nguyện của nhân dân và học sinh để thực hiện.

+ Tích cực tham mưu với các cấp uỷ Đảng, Chính quyền trong thực hiện

các nhiệm vụ giáo dục như: Xây dựng cơ sở vật chất trường THPT chuyên Bắc

Ninh và các trường THCS trọng điểm của các huyện, thị xã, thành phố, đồng thời

với việc tăng đầu tư kinh phí mua sắm trang thiết bị dạy - học theo hướng chuẩn

hoá, hiện đại hoá.

- Đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục trong tổng ngân sách nhà nước của tỉnh

từ 20% trở lên, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và quản lý sử dụng có hiệu

82



quả. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục được tập trung ưu tiên cho giáo

dục phổ cập; các đối tượng chính sách xã hội; giáo dục năng khiếu và tài năng;

đào tạo nhân lực chất lượng cao; đào tạo các ngành khoa học cơ bản, khoa học

xã hội nhân văn, khoa học mũi nhọn và những ngành mà tỉnh đang cần nhưng

khó thu hút người học.

- Đầu tư ngân sách nhà nước có trọng điểm, khơng bình qn dàn trải cho

các cơ sở giáo dục công lập, đầu tư đến đâu đạt chuẩn đến đó. Từng bước chuẩn

hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính và

phương tiện dạy học tối thiểu của tất cả các cơ sở giáo dục; ưu tiên đầu tư xây

dựng một trường đại học xuất sắc, chất lượng trình độ quốc tế.

- Tham mưu với tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm

của doanh nghiệp trong đầu tư phát triển đào tạo nhân lực, đặc biệt đào tạo nhân

lực chất lượng cao và nhân lực thuộc ngành nghề mũi nhọn.

- Công tác quản lý tài chính

Ban hành cơ chế thu tự nguyện đối với phụ huynh và học sinh để sửa chữa

xây dựng nhỏ trường, lớp học và mua sắm bổ sung trang thiết bị đồ dùng dạy

học theo chủ trương xã hội hóa và quy chế công khai dân chủ ở cơ sở.

Tổ chức thực hiện 3 công khai trong các cơ sở giáo dục để người học và

xã hội giám sát đánh giá: (1) công khai chất lượng đào tạo, (2) công khai các

điều kiện về CSVC, đội ngũ giáo viên, (3) công khai thu chi tài chính và 4 kiểm

tra: (1) kiểm tra việc phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục đào tạo, (2) kiểm tra

việc thực hiện thu và sử dụng học phí trong các nhà trường, (3) kiểm tra việc sử

dụng các khoản đóng góp tự nguyện của người dân và các tổ chức cho nhà

trường, (4) kiểm tra việc thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và

xây dựng nhà công vụ cho giáo viên, việc mua sắm, quản lý, sử dụng đồ dùng



83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×