Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
l Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ở Bắc Ninh thời kỳ 2005 - 2009,201212.

l Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ở Bắc Ninh thời kỳ 2005 - 2009,201212.

Tải bản đầy đủ - 0trang

1 Nông-lâm nghiệp



431.420 431.796 431.251 247.279



2 Thuỷ sản



170



240



451



4.983



3 Công nghiệp khai mỏ



305



315



317



1.159



4 Công nghiệp chế biến



31.392 30.861 42.197 106.670



5 Sản xuất phân phối điện, nước



331



506



6 Xây dựng



4.823



4.663



II Khu vực dịch vụ



33.092 35.660 37.040 118.020



1 Thương nghiệp



7.629



8.434



8.731 56.473



2 Khách sạn, nhà hàng



1.857



1.996



2.111



3 Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc



5.649



6.252



6.296 14.396



923



913



962



2.471



9



10



22



30



4 Tài chính, tín dụng

5 Hoạt động khoa học, cơng nghệ



487



5.060 42.645



6 Hoạt động liên quan kinh doanh tài sản

7



Quản lý nhà nước và an ninh, quốc

phòng



1.612



8.007



1.367

3.103



3.150



3.446



7.302



8 Giáo dục-Đào tạo



9.617 10.357 10.758 17.247



9 Y tế và hoạt động cứu trợ



3.150



3.294



3.379



3.746



10 Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao



199



212



214



566



11 Hoạt động Đảng, đoàn thể



872



963



1.008



2.436



12 Hoạt động khác



84



79



113



3.979



Nguồn: Cục thống kê tỉnh 2009 và Sở lao động

thương binh và xã hội báo cáo năm 2009, 1/7/2012.nào trang sở kế

hoạch đầu tư tên báo cao năm nào . Trích nguồn rõ ràng : Tài liệu nào, năm

nào, ai xuất bản.



58



Qua bảng trên ta thấy năm 2012, lao động làm việc trong khu vực sản xuất

chiếm 77%, trong khu vực dịch vụ chiếm 23 %. Trong đó cơ cấu lao động được sử

dụng trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 48,29%, trong công

nghiệp và xây dựng chiếm 29,12%, trong dịch vụ chiếm 22,59%.

- Sử dụng lao động trong ngành công nghiệp: số lao động trong ngành công

nghiệp tăng dần lên từ năm 2005 đến năm 20012. Từ 36.851 người đến 152.086

người. Trong tổng số lao động công nghiệp trên địa bàn số lao động thuộc khu vực

có vốn đầu tư nước ngồi chiếm phần lớn năm 2012 có: 33.954 người. Nếu xem xét

theo thành phần kinh tế, trong số lao động công nghiệp thuộc khu vực kinh tế trong

nước năm 2012 thì lao động thuộc kinh tế nhà nước là:9.503 người; tập thể:1.443

người; tư nhân: 21.666 người; cá thể: 115.691 người. Như vậy, lao động cơng

nghiệp ngồi nhà nước chiếm phần lớn.

- Sử dụng lao động trong ngành dịch vụ và tư thương: số lao động này

tăng dần qua các năm. Năm 2005: 33.092 người năm 2012:118.020 người.

- Sử dụng lao động trong ngành trong nông nghiệp và làng nghề: số lao

động này được thu hút vào 23 cụm công nghiệp và 62 làng nghề, trong năm

2012 đã giải quyết việc làm cho 17.322 người; trên địa bàn nơng thơn, ngồi số

lao động thu hút vào các làng nghề còn có 8.168 lao động được thu hút vào

1.503 trang trại. Từ kết quả điều tra lao động việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2012

(tính tới thời điểm 1/7/2012) của Sở Lao động-Thương binh và xã hội và Cục

Thống kê tỉnh thì số nhân khẩu toàn tỉnh từ 15 tuổi trở lên là 737.431 người,

chiếm 73,87 % dân số toàn tỉnh, trong đó:

+Số nhân khẩu trong độ tuổi lao động là 607.415 người, chiếm 60,84%

dân số toàn tỉnh.

59



+Số nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên ở vùng nông thôn là 636.506 người chiếm

73,47% dân số thường trú trong khu vực, trong đó số nhân khẩu trong độ tuổi lao

động là 525.062 người chiếm 60,61% dân số thường trú trong khu vực.

-Toàn tỉnh có 525.880 người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường

xuyên trong 12 tháng(số liệu điều tra lao động việc làm /7/2012), trong đó số

người trong độ tuổi lao động là 504.262 người, ở vùng nơng thơn có 440.668

người chiếm 84,36% tổng số lao động trong toàn tỉnh.

So với năm 2005, lực lượng lao động thường xuyên nói chung của tỉnh

tăng 20.835 người với tốc độ tăng là 2,6%.

-Tổng số nhân khẩu nông thôn là 866.320 người(số liệu của Cục thống kê

tỉnh, tính đến 31/12/2012), trong đó số người trong độ tuổi lao động là 525.062

người chiếm 60,61% tổng số nhân khẩu.

+Lao động trong nơng nghiệp có 252.262 người, phân bố ở các lĩnh vực

nông nghiệp, làng nghề (hầu hết ở trong nông nghiệp).

+Lao động trong các làng nghề có khoảng 200.000 người, phân bố ở các

lĩnh vực công nghiệp chế biến, xây dựng, thương mại, vận tải… trong đó phần

lớn trong ngành cơng nghiệp chế biến.

Lực lượng lao động trong nông nghiệp và làng nghề gồm những người có

khả năng lao động là chủ yếu, ngồi ra còn có những người chưa đến độ tuổi lao

động và ngoài độ tuổi lao động. Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông

thôn và làng nghề là: 77,37%.

Trong tổng số nhân lực tỉnh Bắc Ninh, phần lớn đang làm việc tại khu vực

ngồi Nhà nước, trong đó đa số xuất thân từ nông thôn, đã quen với lối sản xuất

nông nghiệp nên khi bước vào nền sản xuất cơng nghiệp, lao động chưa thể thích

nghi ngay với mơi trường làm việc mới. Do đó, trong giai đoạn đầu, việc chấp

60



hành ý thức tổ chức, kỷ luật, pháp luật lao động còn hạn chế, cần thời gian để

thích nghi. Lực lượng này chủ yếu làm việc theo sự phân cơng của cấp trên. Khi

có sự hướng dẫn thì họ ln có tinh thần hợp tác, phối hợp để hồn thành cơng

việc được giao (ví dụ: làm việc theo dây chuyền, theo nhóm, tổ…), đức tính của

người lao động là cần cù, chịu khó, thơng minh.

Trong những năm gần đây, công tác tuyên truyền, công tác quản lý được

tăng cường, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân nói chung và

người lao động nói riêng được nâng lên. Thói quen làm việc tuân thủ những quy

định, có kỷ luật đã có bước tiến bộ, đặc biệt trong các doanh nghiệp cơng nghiệp

chế biến có quy mơ lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi. Trong q trình

CNH-HĐH, các doanh nghiệp khơng ngừng mở rộng sản xuất, đầu tư máy móc,

trang thiết bị hiện đại, làm việc theo dây truyền, ca kíp,…cộng với cơng tác giáo

dục, áp dụng các quy trình quản lý chất lương, quản lý lao động khoa học, tiên

tiến được quan tâm, coi trọng, góp phần nâng cao tinh thần hợp tác, năng suất lao

động, chất lượng công việc, sản phẩm được nâng lên.

Có thể khái quát thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh như sau:

- Nguồn nhân lực khá dồi dào, có trình độ học vấn tương đối cao so với

trung bình của cả nước, người lao động chăm chỉ, cần cù, khéo léo, năng động

trong mơ hình sản xuất truyền thống, tuy nhiên chưa được sự quan tâm đúng

mức, chưa được quy hoạch, khai thác, nhiều người chưa được đào tạo.

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao do chưa được đào tạo theo yêu cầu

của sự phát triển công nghiệp, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất.

- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nơng dân, cơng

nhân, trí thức,…chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện

mục tiêu chung là xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh…

61



2.3.4. Duy trì, đãi ngộ đối với nguồn nhân lực [23 (sao cứ có các số ở đây

là gì ?)

phần này khơng có số liệu gì à ? Cần phải có con số cụ thể.]

- Tỉnh đã cócần có chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng và các loại

phụ cấp bằng tiền khác cho những chuyên gia, nhân tài về tỉnhh công tác, nghiên

cứu theo Quyết định 66/2008/QĐ-UBND ngày 14/5/200 thu hút8.

- Thu hút chuyên gia, kỹ thuật viên giỏi từ bên ngoài (kể cả Việt kiều và

người nước ngồi), đồng thời có chính sách riêng cho những đối tượng này cũng

có những.

- Có cơ chế, chính sách đãi ngộ khác như: bổ nhiệm vào vị trí phù hợp với

năng lực chun mơn; giao các nhiệm vụ quan trọng để họ phát huy khả năng

vốn có; cấp đất làm nhà ở, bố trí phương tiện đi lại…

- Ưu tiên tăng chi ngân sách đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đặc biệt chú ý

đến vấn đề đào tạo lại cho nhân lực đang làm việc.

- Nhà nước, tỉnh cần có chính sách hỗ trợ kịp thời cho đơn vị sử dụng

nhân lực. Tiếp tục thực hiện quyết định 57/2010/QĐ–UBND ngày 31/5/2010

của UBND tỉnhTỉnh Bắc Ninh việc/v hỗ trợ đào tạo nghề trong các doanh nghiệp

và xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Ninh với mức hỗ trợ từ 380.000đ/người/tháng –

1.000.000đ/người/tháng (tối thiểu 01 tháng, tối đa 05 tháng) và một số khoản chi

phí làm thủ tục cho lao động được xuất khẩu.

 Phần này phải viết thành cả đoạn liền mạch và không viết như là giải

pháp.

2.4. Đánh giá công tác phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh

2.4.1. Các thành tựu công tác phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh

- Nhờ có sự thay đổi nhận thức đối với NNL, sự quan tâm chỉ đạo sát sao

của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, trong thời gian qua sự nghiệp giáo

62



dục và đào tạo Bắc Ninh nói chung và đào tạo NNL nói riêng đã đạt được những

thành tích đáng kể.

- +Thứ nhất, hệ thống giáo dục phổ thông và đào tạo nghề ngày càng được

mở rộng, nhờ đó trình độ dân trí được nâng cao tạo nền tảng vững chắc cho sự

tiếp tục đào tạo nhân lực có trình độ chun mơn kỹ thuật, trình độ tay nghề.

Cơng tác giáo dục, đào tạo nhân lực được quan tâm tới tất cả kỹ năng, trình độ và

đạo đức cơng dân, đạo đức nghề nghiệp.

- +Thứ hai, về cơ bản Bắc Ninh đã đảm bảo được yêu cầu đào tạo nghề

ngắn hạn; các ngành nghề đào tạo đa dạng, phong phú, bước đầu phù hợp với

yêu cầu CNH, HĐH.

- +Thứ ba, cơng tác xã hội hố giáo dục đào tạo nghề đã được triển khai và

có hiệu quả. Việc khơi phục và phát triển các ngành nghề, làng nghề được nhiều

ngành, nhiều cấp quan tâm hơn trước. Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ngành,

địa phương và các tổ chức xã hội mở được nhiều lớp dạy nghề(hơn 500 lớp) và

khoảng 600 lớp khuyến công, khuyến nông chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cơng

nghiệp, do đó làm tăng số làng có nghề tiểu thủ cơng nghiệp hơn trước. Năm

2005 có 30 làng nghề, đến năm 2010 có 62 làng nghề, do vậy việc làm mới tạo ra

ngày càng nhiều, số lao động tham gia các hoạt động kinh tế ngày càng tăng, qui

mô sử dụng NNL càng mở rộng.

- +Thứ tư, Bắc Ninh đã có nhiều cố gắng để giải quyết vấn đề lao động và

việc làm. Trong thời gian qua, Bắc Ninh đã thu hút và tạo việc làm cho nhiều lao

động, tăng thêm thời gian lao động được sử dụng ở nơng thơn lên hơn 70% và

góp một phần rất quan trọng trong việc tăng tổng sản phẩm của tỉnh, giảm tỷ lệ

thất nghiệp và tình trạng nơng nhàn ở nông thôn.

- +Thứ năm, kết quả đào tạo đã góp phần quan trọng trong việc xuất khẩu

lao động. Theo số liệu của Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Bắc Ninh thì

63



từ năm 2005 đến năm 2010 xuất khẩu được 3.780 lao động. Đối với lao động sau

khi được đào tạo nghề đã có việc làm ổn định (khoảng 70% so với tổng số lao

động được đào tạo); còn khoảng 20% là việc làm chưa ổn định vì muốn tìm nơi

có thu nhập cao hơn hoặc đi xuất khẩu lao động.

Các lợi thế so sánh về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên là một trong những

thuận lợi để Bắc Ninh mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi và hợp tác với bên

ngoài(cả trong và ngoài nước), tạo ra nhiều cơ hội cho việc phát triển KT-XH và

phát huy có hiệu quả các tiềm năng đào tạo và sử dụng NNL của tỉnh.

Từ năm 2005 đến nay nền kinh tế của Bắc Ninh đã có nhiều chuyển biến

tích cực mang tính ổn định, vững chắc. Tốc độ GDP bình quân hằng năm giai

đoạn 2005-2010 đạt 14%, gấp gần 2 lần so với mức tăng chung của cả nước. Đi

đôi với tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch nhanh theo

hướng CNH(tỉ trọng ngành nông nghiệp trong GDP theo giá so sánh 1994, giảm

từ 44,7% năm 2005 xuống 25,7% năm 2010; tỉ trọng ngành công nghiệp và xây

dựng tăng từ 24,4% năm 2005 lên 47,1% năm 2010). Tỷ trọng GDP công

nghiệp-xây dựng ngày càng tăng nhanh, tạo thêm nhiều việc làm phi nông

nghiệp mới, việc làm ổn định và thu nhập cao, mở rộng quy mô đào tạo và sử

dụng NNL. Nguồn số liệu ???

Đời sống nhân dân tỉnh Bắc Ninh được cải thiện đáng kể. Năm 2010, GDP

đạt 14344,7 tỷ đồng(theo giá thực tế), bình quân đầu người 14,36 triệu đồng

(tương đương 718USD/ người, tăng 3,32 lần so với năm 2005, bình quân hàng

năm giai đoạn 2005-2010 tăng 14%. Đến năm 2010, Bắc Ninh khơng còn hộ đói,

số hộ nghèo chỉ còn 1,5%, góp phần nâng cao chất lượng NNL. [265]

Cơ sở hạ tầng cơ bản có liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của

người dân, chất lượng NNL trong tỉnh cũng được cải thiện.



64



Tư duy về kinh tế thị trường, về thị trường lao động từng bước được đổi

mới theo hướng phát triển kinh tế đa thành phần. Nhận thức của người dân đã có

sự thay đổi cơ bản, nhất là quan niệm mới về làm giàu, về việc làm, xoá bỏ bao

cấp . . ., năng động, sáng tạo, tự chủ hơn trong tạo việc làm, tìm việc làm, tham

gia tích cực vào thị trường lao động và các hoạt động đào tạo…

2.4.2. Các hạn chế và nguyên nhân công tác phát triển nguồn nhân lực

của tỉnh Bắc Ninh





Hạn chế công tác phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh



Nhận thức về việc làm, về nghề chưa có sự thay đổi trong nhân dân. Phần

đơng cho rằng phải có bằng Đại học mới có việc làm và có việc làm cho thu

nhập cao. Đối với những người khơng có khả năng vào được các trường cao

đẳng, đại học thì chỉ cần giải quyết lợi ích trước mắt là có việc làm ngay nên chỉ

học nghề ngắn hạn.

Trình độ cơ sở vật chất, qui mơ, số lượng trường và trình độ giáo viên

trong các trường dạy nghề không đồng đều, số giáo viên giỏi và có trình độ

cao còn ít. Hệ thống các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề tuy đã có

nhiều cố gắng nhưng hiệu quả chưa cao. Danh mục các ngành nghề đào tạo

chưa nhiều và còn lạc hậu.

Ngân sách của tỉnh còn eo hẹp và thu nhập của dân cư thấp nên nguồn tài

chính giành cho đào tạo nghề và nuôi dưỡng nhân tài chưa tương xứng. Việc

chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển ngành nghề còn chậm do đó số việc làm

tạo ra chưa nhiều. Bắc Ninh chưa có chính sách tuyển dụng hấp dẫn, cuốn hút

lao động nhất là lao động chất lượng cao và số sinh viên là con em của Bắc Ninh

sau khi tốt nghiệp các trường đại học về công tác tại tỉnh.



65



Bắc Ninh vẫn còn chậm trễ trong đổi mới cơ chế tuyển dụng NNL nên

khơng kích thích được việc đào tạo lại để có thể nâng cao tỷ lệ lao động qua đào

tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Sự bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo,

trình độ học vấn và nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất xã hội.

Trong thực tế điều này chỉ có thể giải quyết được thơng qua đào tạo lại, phổ cập

nghề cho người lao động bởi nhân lực được đào tạo ở Bắc Ninh chủ yếu là ngắn

hạn.

Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lớn chiếm tỷ trọng lớn 67,11%; chất

lượng lao động nói chung còn thấp; khả năng tiếp cận thị trường và cạnh tranh

của lao động còn yếu; cơ cấu ngành nghề đào tạo không hợp lý, thiếu lao động

lành nghề, thiếu các chuyên gia kỹ thuật và doanh nhân giỏi.

Đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được u cầu. Các

phòng học kiên cố, phương tiện thí nghiệm và thực hành cho các trường phổ

thơng còn thiếu. Các cơ sở đào tạo nghề mới đang từng bước đổi mới để nâng

cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Đa số lao động

được đào tạo tập trung vào các ngành nghề thủ công, dịch vụ lao động kỹ thuật

cho các ngành sản xuất công nghiệp mũi nhọn hầu như còn q ít. Nhìn chung,

hệ thống các trường đào tạo nghề của tỉnh, các trung tâm dạy nghề cấp huyện và

của các doanh nghiệp còn thiếu cả về số lượng và cơ sở vật chất cần thiết phục

vụ cho công tác đào tạo. Đội ngũ giáo viên trong các cơ sở dạy nghề thiếu về số

lượng và yếu về chất lượng chuyên môn . Nội dung, chương trình và phương

thức đào tạo chậm đổi mới; chưa tạo được sự liên thông và gắn kết cần thiết giữa

đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động trong và ngồi nước. Chưa có sự

phối hợp chặt chẽ giữa địa phương với các trường đào tạo công nhân kỹ thuật

của trung ương trên địa bàn tỉnh trong hoạt động đào tạo để đáp ứng nhu cầu về

lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề của tỉnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn

66



chưa quan tâm đầu tư để đào tạo lao động tại chỗ, mặc dù Uỷ ban nhân dân tỉnh

đã có chính sách hỗ trợ đào tạo theo mơ hình này.

Thể chế kinh tế thị trường đã hình thành nhưng còn hạn chế; cơ chế, chính

sách chưa hồn thiện,chưa tạo lập đồng bộ; chưa thực sự bình đẳng giữa các

thành phần kinh tế; hệ thống pháp luật lao động chưa hồn thiện, đặc biệt là chưa

có luật về dạy nghề, xuất khẩu lao động, Pháp lệnh đình công.



 Nguyên Nhân công tác phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh

Ngân sách của tỉnh còn eo hẹp và thu nhập của dân cư thấp nên nguồn tài

chính giành cho đào tạo nghề và nuôi dưỡng nhân tài chưa tương xứng. Việc

chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển ngành nghề còn chậm do đó số việc làm

tạo ra chưa nhiều. Bắc Ninh chưa có chính sách tuyển dụng hấp dẫn, cuốn hút

lao động nhất là lao động chất lượng cao và số sinh viên là con em của Bắc Ninh

sau khi tốt nghiệp các trường đại học về cơng tác tại tỉnh.

Bắc Ninh vẫn còn chậm trễ trong đổi mới cơ chế tuyển dụng NNL nên

không kích thích được việc đào tạo lại để có thể nâng cao tỷ lệ lao động qua đào

tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Sự bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo,

trình độ học vấn và nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất xã hội.

Trong thực tế điều này chỉ có thể giải quyết được thông qua đào tạo lại, phổ cập

nghề cho người lao động bởi nhân lực được đào tạo ở Bắc Ninh chủ yếu là ngắn

hạn.

Cung - cầu lao động mất cân đối(cung lớn hơn cầu; số doanh nghiệp trên

địa bàn còn ít chưa thu hút nhiều lao động vào việc làm.

Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lớn chiếm tỷ trọng lớn 67,11%; chất

lượng lao động nói chung còn thấp; khả năng tiếp cận thị trường và cạnh tranh



67



của lao động còn yếu; cơ cấu ngành nghề đào tạo không hợp lý, thiếu lao động

lành nghề, thiếu các chuyên gia kỹ thuật và doanh nhân giỏi.

Đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu. Các

phòng học kiên cố, phương tiện thí nghiệm và thực hành cho các trường phổ

thơng còn thiếu. Các cơ sở đào tạo nghề mới đang từng bước đổi mới để nâng

cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Đa số lao động

được đào tạo tập trung vào các ngành nghề thủ công, dịch vụ lao động kỹ thuật

cho các ngành sản xuất cơng nghiệp mũi nhọn hầu như còn q ít. Nhìn chung,

hệ thống các trường đào tạo nghề của tỉnh, các trung tâm dạy nghề cấp huyện và

của các doanh nghiệp còn thiếu cả về số lượng và cơ sở vật chất cần thiết phục

vụ cho công tác đào tạo. Đội ngũ giáo viên trong các cơ sở dạy nghề thiếu về số

lượng và yếu về chất lượng chuyên môn . Nội dung, chương trình và phương

thức đào tạo chậm đổi mới; chưa tạo được sự liên thông và gắn kết cần thiết giữa

đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động trong và ngồi nước. Chưa có sự

phối hợp chặt chẽ giữa địa phương với các trường đào tạo công nhân kỹ thuật

của trung ương trên địa bàn tỉnh trong hoạt động đào tạo để đáp ứng nhu cầu về

lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề của tỉnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn

chưa quan tâm đầu tư để đào tạo lao động tại chỗ, mặc dù Uỷ ban nhân dân tỉnh

đã có chính sách hỗ trợ đào tạo theo mơ hình này.

Quản lý nhà nước về y tế, giáo dục, đào tạo và thị trường lao động cũng

còn nhiều bất cập, cải cách hành chính hiệu quả thấp. Đội ngũ thầy thuốc còn

thiếu, khơng đồng đều, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành y tế còn nhiều hạn chế,

nên một số chương trình, các hoạt động về y tế chưa thể đáp ứng được mục tiêu

chăm sóc sức khoẻ, nâng cao tuổi thọ và phòng chống các bệnh xã hội khác.

Thể chế kinh tế thị trường đã hình thành nhưng còn hạn chế; cơ chế, chính

sách chưa hồn thiện,chưa tạo lập đồng bộ; chưa thực sự bình đẳng giữa các

68



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

l Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ở Bắc Ninh thời kỳ 2005 - 2009,201212.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×