Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG 1I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Còn một số quốc gia khác như ở Úc lại xem toàn bộ nguồn nhân lực là

những người bước vào tuổi lao động, có khả năng lao động. Trong quan niệm

này khơng có giới hạn về tuổi của nguồn nhân lực.

Ơ Việt Nam, theo cách xác định của Tổng cục thống kê, nguồn nhân lực

xã hội bao gồm người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có tính thêm

cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi.

Do quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nên việc xác định quy mô và

tốc độ tăng củaảu nguồn nhân lực ở các quốc gia khác nhau cũng có sự khác biệt.

Trong nguồn nhân lực của Pháp, theo Từ điển thuật ngữ (1977-1985) khơng tính

lao động trẻ em và lao động cao tuổi, còn theo quan niệm của một số quốc gia

khác như ở Úc thì nguồnng lao động khơng có giới hạn về tuổi… Tuy nhiên,

sự khác biệt đó khơng lớn, bởi lẽ, trong nguồn nhân lực xã hội thì những người

trong độ tuổi lao động và những người có khả năng lao động chiếm tỷ lệ đa số.

Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình

trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ

cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố theo

khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị - nơng thơn…Trong nguồn nhân lực, chất

lượng đóng vai trò quyết định, trong sự phát triển nhan và bền vững. Do vậy,

phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền

kinh tế phát triển. [17, tr13,14]

Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang được hiểu theo nhiều quan

điểm khác nhau.

* Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những

người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao

động.

13



* Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham

gia chương trình KX – 07 thì: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất

lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực,

phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện

có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…”[63, tr 323].

* Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người

là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài

chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao,

tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy

bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” [710, tr.11].

Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực

và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác

nhau về nguồn nhân lực; theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một

cách ngắn gọn là nguồn lực con người. Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm

nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây :

Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người – yếu tố

quyết định sự phát triển của xã hội; hai là, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và

chất lượng, trong đó mặt chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất

đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó; ba là, nghiên cứu về nguồn

nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn liền với thời gian và

khơng gian mà nó tồn tại.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phản ánh một cách tổng quát

khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện : trí lực, thể lực, nhân cách,

cùng với cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến

gắn liền nền khoa học hiện đại.

14



Từ sự phân tích trên theo tơi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu

đầy đủ như sau :

Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở

lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những

người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng

lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong

gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo

trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…).

Điều đó có nghĩa là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được nghiên

cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân bố theo

vùng, khu vực và lãnh thổ; trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình độ

chun mơn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực sáng tạo ra các

giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì thế nó đóng vai trò quyết

định trong sự phát triển nguồn nhân lực.

Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm khơng chỉ sức khỏe cơ bắp mà

còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và

ý trí, là khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì

và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động

thực tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có

thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển.

Ngồi ra, nói đến nguồn nhân lực cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm

mỹ, quan điểm sống. Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được

kết tinh từ một loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ

luật và tinh thần trách nhiệm trong cơng việc khả năng hợp tác, làm việc theo

nhóm, khả năng hội nhập với mơi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức

khác về giá trị của cuộc sống.

15



Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có đức mà khơng có tài, làm việc gì cũng

khó; nhưng có tài mà khơng có đức là người vơ dụng”; bởi vậy, sẽ khơng đầy đủ

khi nói đến nguồn nhân lực mà khơng đề cập đến sự phối hợp hài hòa giữa ba

yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ, vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh

trong mỗi con người, trong cộng đồng và cũng là để hướng cho người lao động

phát triển toàn diện.

Cả phần này em có chép ở đâu khơng ?

1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được xét từ đóng vai trò vơ cùng quan trọng trong qua

trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi

nền kinh tế thế giới đang có xu hướng chuyển từ nền kinh tế thị trường sang nền

kinh tế tri thức thì nguồn nhân lực con người trở thành động lực chủ yếu cho sự

phát triển.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, tại Đại hội lần thứ

VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực để đáp ứng u cầu sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơng

nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu hướng phát triển chung của nhiều nước trên thế

giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi tới mục tiêu ’’ Dân giàu

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Cơng nghiệp hóa hiện đại

hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và trở

thành động lực thực sự của sự phát triển. Phát triển nguồn nhân lực cả về số

lượng và chất nhiệm vụ tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.góc

độ đất nước là q trình tạo dựng lực lượng lao động, có kỹ năng và sử dụng

một cách hiệu quả. Xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực

16



hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu

nhập. Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức

diễn ra trong những khoảng thời gian xác định nhằm làm thay đổi hành vi nghề

nghiệp của người lao động. Như vậy trước hết phát triển nguồn nhân lực phải là

các hoạt động học tập do một đơn vị tổ chức và cung cấp cho người lao động.

Các hoạt động này có thể được cung cấp cho vài giờ vài ngày thậm chí vài năm

tùy thuộc vào mục tiêu học tập. Mục đích của hoạt động này nhằm cung cấp cho

ta một đội ngũ lao động có kỹ năng và trình độ lành nghề cao, từ đó làm thay đổi

hành vi của họ theo hướng đi lên. Người lao động sẽ có nhiều cơ hội hơn trong

việc lựa chọn việc làm của mình. Trong thực tế việc PT-NNL có thể được xem

xét trên 3 nội dung là giáo dục, đào tạo và phát triển

Giáo dục là quá trình học tập giúp cho con người bước vào một nghề

nghiệp hoặc chuyển sang một nghề khác thích hợp hơn trong tương lai. Hoạt

động này sẽ hướng vào từng cá nhân, thông qua công tác hướng nghiệp, mỗi cá

nhân sẽ lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp. Hoạt động giáo dục được

thực hiện dần dần nhằm trang bị cho mọi người lao động những kiến thức phổ

thông về một nghề nào đó. Giáo dục sẽ trang bị cho người lao động hành trang

nghề nghiệp cơ bản để hướng tới tương lai

Đào tạo là những hoạt động nhằm nâng cao trình độ học vấn, trình độ

chun mơn, trình độ lành nghề nhằm giúp người lao động thực hiện công việc

hiện tại của họ tốt hơn. Hoạt động đào tạo sẽ trang bị những kiến thức thông qua

đào tạo mới áp dụng đối với những người đã có nghề nhưng vì lý do nào đó nghề

của họ khơng phù hợp nữa và đào tạo nâng cao trình độ lành nghề. Trình độ lành

nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của sức lao động nó có liên

quan chặt chẽ với lao động phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết về

17



kỹ thuật hiểu biết và kỹ năng lao động, cho phép người lao động hoàn thành

được những công việc phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết về kỹ

thuật sản xuất và kỹ năng lao động, cho phép người lao động hoàn thành những

công việc phức tạp. Hoạt động đào tạo sẽ hướng vào cá nhân cụ thể và cần tiến

hành ngay để đáp ứng nhu cầu hiện tại, thực tế công việc đòi hỏi

Phát triển đó là những cơng việc học tập nhằm định hướng và chuẩn bị

cho người lao động tiếp cận với sự thay đổi của tổ chức và bắt kịp thời với nhịp

độ thay đổi đó khi tổ chức thay đổi và phát triển hoặc nhằm phát triển sâu hơn kỹ

năng làm việc của người lao động. Phát triển sẽ chuẩn bị cho người lao động

những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của tổ chức

trong tương lai.

Như vậy tất cả những điều kiện phát triển nguồn nhân lực đều nhằm mục

tiêu sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức

thơng qua việc giúp người lao động năm rõ hơn chuyên môn nghiệp vụ và nâng

cao trình độ tay nghề. Hoạt động phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng

đối với bất kỳ tổ chức nào cũng như với cá nhân người lao động do đó hoạt động

này cần phải được quan tâm đúng mức để đáp ứng nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực phục vụ cho việc phát triển CNH- HĐH cho đất nước. . [17, tr15,16]

Phát triển nguồn nhân lực xã hội là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn

thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh hợp lý về số lượng

nguồn nhân lực. Để có thể phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ vĩ mơ nền

kinh tế, phải có các cơ chế, chính sách tác động vào nguồn nhân lực. Như vậy có

thể hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực xã hội như sau : ’phát triển ngồn

nhân lực là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực xã hội( trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý – xã hội)



18



và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hởi

về nguồn nhân lực có sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát

triển ’. [17, tr15,16]

* Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu UNDP

“Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của năm yếu tố: giáo dục

và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng

con người. Trong q trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực,

những nhân tố này ln gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau; trong đó,

giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác.

Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con

người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển

bền vững nguồn nhân lực”. [416, tr 6-7]

* Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của ILP  ILP là cái

gì ? Viết rõ tên tiếng Việt rồi mới đến tên tiếng Anh và chữ viết tắt.

“Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ

lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu

sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa

mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. [16, tr 7-8]

* Theo GS – TSKH Nguyễn Minh Đường (2002)

“Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là sự gia tăng giá trị cho con

người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn…để

họ có thể tham gia vào lực lượng lao động làm giàu cho đất nước, góp phần

cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tơ

điểm thêm bức tranh muồn màu của nhân loại. Do vậy, phát triển nguồn

nhân lực phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát

19



triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn lực

phát triển” [12,tr 202].

Kế thừa và phát huy những quan điểm trên, theo tơi dưới góc độ

nghiên cứu tổng thể, phát triển nguồn nhân lực là phát triển nguồn lực con

người dưới dạng tiềm năng thành “vốn con người – vốn nhân lực”. Xét ở

góc độ cá nhân, đó là nâng cao tri thức, sức khỏe, kỹ năng thực hành để

tăng năng suất lao động dẫn đến tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc

sống. Xét ở góc độ xã hội, là q trình tạo dựng một lực lượng lao động cả

về số lượng, chất lượng và sử dụng có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ.

Cho nên, dù với khái niệm rộng hay hẹp thì giáo dục và đào tạo vẫn

được coi là biện pháp chủ yếu và quan trọng để phát triển nguồn nhân lực.

Trong quá trình phân tích và đánh giá Luận văn đã nêu rõ sự khác biệt giữa

phát triển nguồn nhân lực và phát triển con người.

Phát triển nguồn nhân lực nhìn nhận con người dưới góc độ là một

yếu tố của sản xuất, một nguồn lực của xã hội, mục đích là gia tăng sự đóng

góp có hiệu quả của nó cho quá trình tái sản xuất để phát triển kinh tế - xã

hội; còn phát triển con người được nhìn nhận dưới góc độ con người là một

chủ thể của tự nhiên và xã hội. Vì thế, phát triển con người là trung tâm của

sự phát triển, mục đích là hướng tới sự phát triển tồn diện con người. Đó

là, xác lập các quyền và tạo điều kiện thuận lợi để con người thực hiện các

quyền của mình. Có nghĩa là, phát triển con người khơng chỉ xem xét dưới

góc độ là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển xã hội, mà còn là sự thỏa

mãn các nhu cầu để con người sớm có điều kiện phát triển tồn diện. Đây

chính là cơ sở giúp chúng ta lý giải vì sao nhiều quốc gia có chỉ số phát triển



20



con người (HDI) tương đối cao (chẳng hạn như Việt Nam), nhưng lại được

xếp vào những nước đang phát triển hay chậm phát triển. [8, tr 202]

Chép ở đâu khơng ?

1.2. Vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

1.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực

Cả phần này mới chỉ nói đến vai trò của nguồn nhân lực chứ chưa làm rõ

vai trò của phát triển nguồn nhân lực.

Nguồn nhân lực giữ vai trò vơ cùng quan trọng trong các hoạt động của tổ

chức. Việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo nhân viên phải dựa vào các tiêu chuẩn

nhất định nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chứac doanh nghiệp đề ra. Quản lý

nguồn nhân lực xác định rõ vai trò của từng cá nhân, từng thành viên trong tổ

chức, lên kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với quy mô của tổ

chức. Nguồn nhân lực là nguồn tài sản – tài sản nhân lực; do vậy, phát triển

nguồn nhân lực sẽ khơng được coi là tồn diện nếu khơng quan tâm đến vai trò

của nguồn tài sản này.

Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, được đánh giá bằng mức độ toàn dụng

nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng và thời gian được sử dụng; việc

nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đồng nhất với n:

Nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực n;

Nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực, hay giá trị tăng thêm được tạo ra từ

việc sử dụng nhân lực và;Và nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động.

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là một quá trình chịu ảnh

hưởng trực tiếp từ tình hình cung cầu trên thị trường lao động, chất lượng nguồn

nhân lực, chính sách lao động, việc làm và tiền lương của Nhà nước đối với

21



nguồn lao động; theo đó, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực sẽ đồng biến với tốc

độ giải quyết việc làm, nghịch biến với tỷ lệ thất nghiệp và phụ thuộc vào chính

sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi ngộ. Nếu những chính sách này hợp lý

sẽ kích thích được tinh thần làm việc, phát huy được khả năng sáng tạo của

người lao động, là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả và chất lượng công

việc, sẽ thu hút được nhân tài cho tổ chức mình.

Như chúng ta đã biết, xét đến cùng yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định

sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất. Lực lượng sản

xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố

quan trọng hàng đầu. Ph. Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản

xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào

khác cũng không đủ mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng

những tư liệu đó. Như vậy vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan

trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát

triển của kinh tế xã hội.

Do vậy, nguồn nhân lực có một vai trò hết sức quan trọng đến sự thành

công hay thất bại của mỗi một doanh nghiệp, mỗi địa phương và mỗi một quốc

gia, nếu tạo điều kiện cho nguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò tiên phong của

mình thì hiệu quả kinh tế - xã hội sẽ không ngừng được nâng lên cả về chất và

lượng, còn nếu một nguồn nhân lực kém chất lượng thì sẽ làm cho nền kinh tế

phát triển chậm hoặc thậm chí kém phát triển và tụt hậu.

Được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt

động nào trong phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực ln đóng vai trò cực

kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia. [17, tr.16,17].

1.2.2. Vai trò phát triển nguồn nhân lực

Vai trò phát triển nguồn nhân lực

22



Trong thời đại phát triển khoa học kỹ thật như vũ bão, cuộc cạnh tranh

giữa các nước và các doanh nghiệpcông ty ngày càng khốc liệt, cuộc cạnh tranh

đó thể hiện trên các mặt : Cơng nghệ, quản lý, tài chính, chất lượng, giá cả…

nhưng trước tất cả cáchết yếu tố đứng đằng sau đó là yếu tố con người,. Thực tế

đã chỉ ra rằng đối thủ cạnh tranh có thể copy mọi bí quyết của cơng ty về tài sản

cơng nghệ…Chỉ có thể đầu từ vào tài sản là con người thì có thể ngăn chặn đối

thủ cạnh tranh sao chép bí quyết của mình. nguồn lao động với phát triển kinh tế

thì nguồn lao động ln ln đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh

tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế.

Nguồn nhân lực là mục tiêu tác động chính của sự phát triển, nói đến vai

trò của nguồn nhân lực là nói đến con người trong sự phát triển kinh tế. Con

người là trung tâm của sự phát triển kinh tế, mọi sự phát triển đều hướng vào

mục tiêu duy nhất là phục vụ con người.

Vai trò của nguồn nhân lực được thể hiện trên hai mặt. Trước hết con

người là người tiêu dùng đồng thời con người cũng là chủ thể sản xuất của sản

phẩm.

Sự tiêu dùng của con người là nguồn gốc của sự phát triển, với nhu cầu

càng ngày càng phát triển và đòi hỏi đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng

nâng cao, sản xuất là phục vụ tiêu dùng và tiêu dùng phục vụ sản xuất. Con

người thơng qua q trình sản xuất đã ngày càng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của

mình, thơng qua các hoạt động lao động sản xuất con người phát triển và hồn

thiện hơn, chỉ có thơng qua q trình hoạt động sản xuất con người mới tạo ra

giá trị vật chất và tinh thần, lao động của con người đóng vai trò quyết định.

Ở Việt Nam, nghị quyết của Đảng đã chỉ ra rằng Việt Nam chỉ có

thể đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới bằng cách đầu tư vào con người.

Điều này cũng thể hiện rất rõ trong luật giáo dục ở nước ta. Nhà nước đã chú

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×