Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

VÀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong

nền kinh tế thị trường và quy định hiện hành của pháp luật lao động.



1.1.1.2. Bản chất của tiền lương

Thứ nhất là tiền lương chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung

cầu lao động và thường xuyên biến động xoay quanh giá trị sức lao động.

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương (tiền công) là khoản tiền được trả

theo giá trị sức lao động, nên nó khơng chỉ bị chi phối bởi quy luật giá trị mà còn bị

chi phối bởi quy luật cung cầu lao động. Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động,

số lượng lao động có thể lựa chọn nhiều hơn, người lao động buộc phải làm việc với

mức lương thấp, làm cho tiền lương giảm xuống. Ngược lại, nếu cung lao động nhỏ

hơn cầu lao động, người sử dụng lao động sẽ trả mức lương cao hơn để thu hút lao

động về làm việc cho mình, làm cho tiền lương tăng lên.

Thứ hai là tiền lương vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội:

Về mặt kinh tế, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động (mua sức

lao động) trả cho lao động (bán sức lao động) trong một khoảng thời gian nào đó.

Nó được xác định trên cơ sở tính tốn mức độ phức tạp của cơng việc và tiêu hao

lao động trong các điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề và tính đủ

các nhu cầu về sinh học, xã hội học. Mặt khác, tiền lương còn là số tiền đảm bảo

cho người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản

xuất sức lao động của bản thân và giành một phần để nuôi dưỡng các thành viên

trong gia đình cũng như mua bảo hiểm cho bản thân khi hết tuổi lao động, điều

này góp phần khơng nhỏ vào sự ổn định đời sống và trật tự xã hội. Đó là quan hệ

xã hội của tiền lương.

Thứ ba: tiền lương là chí phí của người sử dụng lao động là yếu tố cấu

thành chi phí sản xuất: Trong hạch toán kinh tế tại các doanh nghiệp, cơ quan, tiền

lương là một bộ phận chi phí cầu thành chi phí sản xuất. Vì vậy tiền lương được

tính tốn và quản lý chặt chẽ. Đối với người lao động, tiền lương là bộ phận thu

nhập từ quá trình lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Phấn đấu

nâng cao tiền lương trên cơ sở nâng cao năng suất lao động là mục đích của doanh

4



nghiệp và người lao động. Mục đích này tạo động lực để phát triển doanh nghiệp và

nâng cao trình độ chun mơn, kĩ thuật và khả năng lao động của người lao động.

Đứng trên phạm vi toàn xã hội, tiền lương được xem xét và đặt trong quan hệ

về phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, quan hệ về trao đổi…do vậy

các chính sách về tiền lương ln là các chính sách trọng tâm của mọi quốc gia nói

chung và của các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động nói riêng.



1.1.2. Chức năng của tiền lương

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương có các chức năng cơ bản sau:

Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Tiền lương là giá cả của sức lao

động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, nên phản ánh được giá trị

sức lao động. Từ đó, tiền lương được dùng làm căn cứ để xác định mức tiền trả

công cho từng loại lao động khác nhau, với giá trị sức lao động hao phí khác nhau;

xác định đơn giá trả lương; đồng thời khi giá trị sức lao động thay đổi do giá cả tư

liệu sinh hoạt biến động thì tiền lương cũng phải thay đổi theo, để phản ánh đúng

giá trị sức lao động. Tức là, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền

lương, tiền cơng. Nếu việc làm có giá trị càng cao (thể hiện ở mức cầu về việc làm

đó trên thị trường lao động, đặc điểm của việc làm đó về kỹ thuật và cơng nghệ, về

vị trí của nó trong hệ thống quan hệ lao động, các yêu cầu của việc làm đó về năng

lực và phẩm chất của người lao động) thì mức tiền lương, tiền cơng càng lớn.

Chức năng tái sản xuất sức lao động: Sức lao động không phải là thứ tồn

tại mãi mãi. Trong q trình lao động, nó sẽ bị hao mòn dần cùng với q trình tạo

ra sản phẩm. Do đó, con người cần phải bù đắp lại sức lao động đã hao phí. Hơn

nữa, để duy trì và phát triển sức lao động, người lao động còn cần phải học tập,

tích lũy, rèn luyện kỹ năng làm việc, phải lập gia đình rồi sinh con (sức lao động

dự trữ), phải ni dưỡng chúng. Do đó, tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất

sức lao động phải gồm không chỉ những tư liệu sinh hoạt cho họ mà còn phải gồm

cả những tư liệu sinh hoạt cho con cái họ. Như vậy, mức tiền lương phải đủ lớn,

đảm bảo được yêu cầu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động và

gia đình họ.

5



Chức năng kích thích: Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao

động nhằm thoả mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần. Do vậy, tiền

lương có thể được sử dụng như một cơng cụ kích thích, định hướng động cơ, mục

tiêu của người lao động hướng theo mục tiêu của tổ chức. Đối với người lao động

mức tiền lương nhận được thoả đáng phù hợp với lượng lao động mà họ đã hao phí

sẽ tạo động lực kích thích năng lực sáng tạo làm tăng năng suất lao động. Khi năng

suất lao động tăng thì lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên, nó là cơ sở để tăng tiền

lương và các lợi ích khác cho người lao động. Khi lợi ích của người lao động được

đảm bảo nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa những người lao động với mục tiêu

và lợi ích của doanh nghiệp, giảm bớt sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động và

người cung ứng sức lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác

hơn với các hoạt động của doanh nghiệp…Điều này góp phần không nhỏ thúc đẩy

doanh nghiệp ngày một phát triển nhanh và bền vững.

Chức năng bảo hiểm, tích lũy: Chức năng này được thể hiện ở chỗ, với mức

tiền lương nhận được người lao động khơng những duy trì được cuộc sống hàng

ngày của bản thân và gia đình trong thời gian làm việc mà còn có khả năng dành lại

một phần tích luỹ dự phòng thơng qua mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các

dịch vụ bảo hiểm hữu ích khác hoặc chi trả các khoản chi phí cho các hoạt động đào

tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chun mơn kĩ thuật của bản thân, đầu tư vào hoạt

động sản xuất kinh doanh tạo việc làm…Với chức năng này của tiền lương nó góp

phần khơng nhỏ vào việc duy trì sự ổn định và trật tự an toàn chung của xã hội.

Chức năng xã hội: Tiền lương là yếu tố kích thích việc hồn thiện các mối

quan hệ lao động. Thực tế cho thấy việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng

khơng ngừng được thực hiện trên cơ sở đảm bảo hài hoà các mối quan hệ lao động

trong doanh nghiệp. Việc gắn tiền lương với hiệu quả sản xuất kinh doanh của

người lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn

nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó tạo tiền đề cho

sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân

chủ và văn minh.

6



Chức năng xã hội của tiền lương còn được thể hiện ở góc độ điều phối thu

nhập trong nền kinh tế quốc dân tạo nên sự công bằng xã hội trong việc trả lương

cho người lao động trong cùng một ngành nghề, một khu vực và giữa các ngành

nghề, khu vực khác nhau.

1.2. Các yếu tố cấu thành hệ thống lương và đãi ngộ

MƠI TRƯỜNG BÊN NGỒI

MƠI TRƯỜNG BÊN TRONG

LƯƠNG VÀ ĐÃI NGỘ

TÀI CHÍNH



PHI TÀI CHÍNH



Trực tiếp



Gián tiếp



Bản thân CV



+ Lương công

nhật

+Lương tháng

+ Hoa hồng

+ Tiền thưởng



+ Bảo hiểm

+ Trợ cấp XH

+ Phúc lợi

Về hưu

An sinh XH

Đền bù

Trợ cấp GD

Dịch vụ

+ Vắng mặt

được trả lương

Nghỉ hè

Nghỉ lễ



+ Cơ hội thăng

tiến, được cấp

trên nhận biết.

+ Làm giàu

công việc

+…



Môi trường

làm việc

+ Chính sách

hợp lý

+ Điều kiện

làm việc thuận

lợi.

+ Thời gian

làm việc linh

hoạt, uyển

chuyển.

+ Chia sẻ công

việc

+ …..



Ốm đau..



Các yếu tố của một chương trình lương và đãi ngộ tồn diện

Tiền lương được xem là một trong những động lực kích thích con người làm

việc hăng hái, nhưng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ,

bất mãn, hoặc từ bỏ Công ty mà ra đi. Điều đó cho thấy việc xây dựng và quản lý hệ

thống lương và chế độ đãi ngộ là một yêu cầu vô cùng quan trọng đối với mọi tổ

chức, doanh nghiệp.

7



Lương và đãi ngộ được định nghĩa là mọi loại phần thưởng mà một cá nhân

(người làm thuê, người lao động) nhận được để đổi lấy sức lao động của mình.

Phần tiền lương được xem là khoản lợi ích tài chính mà người làm thuê nhận được

từ doanh nghiệp, còn phần đãi ngộ được xem là những lợi ích phi tài chính nhận

được từ doanh nghiệp. Hiện nay, hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp đều đang cố

gắng đãi ngộ ngày càng đầy đủ hơn, đa dạng hơn cho người lao động.

Đãi ngộ nhân sự là quá trình bù đắp lao động về vật chất lẫn tinh thần, thông

qua các công cụ đòn bẩy nhằm duy trì và phát triền nguồn nhân lực. Đãi ngộ nhân

sự trong doanh nghiệp thể hiện ở hai hình thức cơ bản là đãi ngộ tài chính và đãi

ngộ phi tài chính.

1.2.1. Đãi ngộ tài chính

1.2.1.1. Tài chính trực tiếp

Đãi ngộ tài chính trực tiếp bao gồm các khoản tiền lương, lương công nhật,

lương tháng, các chế độ trả cơng khuyến khích (trả cơng theo sản phẩm trực tiếp cá

nhân, trả công theo sản phẩm gián tiếp trả cơng theo sản phẩm có thưởng, trả cơng

theo giờ tiêu chuẩn, v.v..), tiền hoa hồng, tiền thưởng, cổ phần. Trong đó:

Lương cơng nhật: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao

động theo số lượng và chất lượng công việc mà người lao động thực hiện trong

ngày.

Lương tháng: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động

theo số lượng và chất lượng công việc mà người lao động thực hiện trong tháng.

Lương tháng thường được nói đến trong các hợp đồng thời vụ.

Trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: “ỏp dụng đối với những công nhân

sản xuất chính mà cơng việc của họ mang tính chất độc lập tương đối, có thể định

mức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt”.

Trả công theo sản phẩm gián tiếp: áp dụng cho những cơng nhân phụ mà

cơng việc của họ có ảnh hưởng nhiều đến kết quả lao động.

Tiền hoa hồng: là một dạng trả công theo sản phẩm và thường được sử dụng

với các nhân viên bán hàng. Các nhân viên bán hàng được trích một khoản tiền theo

tỷ lệ hoa hồng cố định, tức là tiền hoa hồng của họ được tính bằng tỷ lệ % cố định

trên giá bán của sản phẩm mà họ bán được.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×