Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mức độ an thần của nhóm H có xu hướng cao hơn nhóm D nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0.05)

Mức độ an thần của nhóm H có xu hướng cao hơn nhóm D nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0.05)

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của hai nhóm nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm chung về bệnh nhân

4.1.1.1. Tuổi

Trong nghiên cứu này chúng tơi lựa chọn bệnh nhân có độ tuổi từ 18-65.

Bệnh nhân ở hai nhóm chủ yếu ở độ tuổi trung niên. Tuổi trung bình của

nhóm H là 49.8  8.8 tuổi, nhỏ nhất 26 tuổi, lớn nhất 64 tuổi. Tuổi trung bình

ở nhóm D là 50.0  8.1 tuổi, nhỏ nhất 30 tuổi, lớn nhất 65 tuổi. Không có sự

khác biệt về độ tuổi giữa hai nhóm nghiên cứu. Kết quả của chúng tôi tương

tự các tác giả khác về phẫu thuật cột sống: Võ Văn Thanh tuổi trung bình là

49,5 11.4 tuổi [35], Nguyễn Ngọc Thạch tuổi trung bình 48.3 15 tuổi [38]

Một số tác giả trên thế giới nghiên cứu về dự phòng nơn của haloperidol

trên bệnh nhân phẫu thuật phụ khoa [3] cũng có độ tuổi tương tự 44.8 7.6

tuổi. Kết quả của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Feng PH [18] nghiên

cứu dự phòng nơn bằng haloperidol trên bệnh nhân phẫu thuật túi mật nội soi

tuổi trung bình là 44 8 tuổi.

4.1.1.2. Chiều cao, cân nặng

Cân nặng trung bình của nhóm H là 56.8 8.0 tuổi, cân nặng thấp nhất là

40 kg, cao nhất là 68 kg. Cân nặng trung bình của nhóm D là 56.4 7.2 tuổi,

thấp nhất là 42 kg, cao nhất là 70 kg.

Chiều cao trung bình của nhóm H là 160.8 7.1 cm, thấp nhất là 149

cm, cao nhất là 176 cm. Chiều cao trung bình của nhóm D là 159.5 7.5.cm,

thấp nhất là 150 cm, cao nhất là 175 cm.

Cân nặng và chiều cao trung bình của hai nhóm khác nhau khơng có ý

nghĩa thống kê (p> 0.05). Cân nặng và chiều cao đều phù hợp với người Việt

Nam, kết quả tương tự với nghiên cứu trước về PTCS như nghiên cứu của Võ

Văn Thanh [35], Nguyễn Ngọc Thạch [38]



51



4.1.2. Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp

Chúng tơi quan tâm đến nghề nghiệp của bệnh nhân vì nghề nghiệp có

thể ảnh hưởng đến nguyên nhân dẫn đến bệnh lý cột sống cũng như nhận thức

trong việc đi khám chữa bệnh từ đó ảnh hưởng đến tình trạng nặng nhẹ của

bệnh, Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân chủ yếu là những người có

nghề nghiệp lao động chân tay như công nhân, nông dân chiếm 48,6%. Công

chức, nhân viên văn phòng, sinh viên chiếm 40%. Chỉ 11,4% bệnh nhân thuộc

nhóm nghề nghiệp ít tác động đến cột sống (nội trợ, hưu trí). Khơng có sự

khác biệt về sự phân bố nghề nghiệp giữa hai nhóm nghiên cứu (p>0.05)

Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả nghiên cứu trên

bệnh nhân phẫu thuật cột sống [35], [38]

4.1.3. Phân bố bệnh nhân theo ASA

Chúng tôi đánh giá chung bệnh nhân trước mổ dựa vào phân loại của hội

gây mê hồi sức Hoa Kỳ (ASA), trong đó ASA I là BN có tình trạng sức khỏe

tốt, ASA II: BN có một bệnh nhưng khơng ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh

hoạt hằng ngày của bệnh nhân, ASA III: BN có một bệnh có ảnh hưởng đến

sức khỏe và sinh hoạt, ASA IV: BN có bệnh nặng đe dọa đến tính mạng ASA

V: tình trạng bệnh nhân q nặng, hấp hối khơng có khả năng sống được 24

giờ dù có mổ hay khơng mổ. Trong nghiên cứu, chúng tơi lựa chọn bệnh nhân

có tình trạng sức khỏe ASA I, ASAII. Với độ phân loại bệnh tật trung bình

của hai nhóm trong nghiên cứu, thì tình trạng sức khỏe của bệnh nhân của

chúng tôi tương tự các tác giả khác. Phân loại tình trạng sức khỏe ASA của

bệnh nhân ở hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).

4.1.4. Đặc điểm về huyết động, hô hấp trước mổ

Bệnh nhân ở hai nhóm có chỉ số về huyết động và hô hấp khá tương

đồng nhau. Tần số tim trung bình của nhóm H là 79.03 6.47 chu kỳ/phút, của

nhóm D là 79.14 7.02 chu kỳ/phút, thấp nhất là 60 chu kỳ/phút, cao nhất là



52



92 chu kỳ/phút. HATB của nhóm H là 86.4 5.69 mmHg, của nhóm D là

85.59 5.09 mmHg. Tần số thở của hai nhóm đều trong giới hạn bình thường,

thấp nhất là 17 lần/phút, cao nhất là 20 lần/phút.

Các chỉ số về nhịp tim, huyết áp trung bình và tần số thở trước mổ của

hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05)

4.1.5. Đặc điểm về phẫu thuật

4.1.5.1. Nguyên nhân và vị trí phẫu thuật

Nguyên nhân phẫu thuật thể hiện ở bảng 3.3

Bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu bị bệnh lý như hẹp ống sống, u

trong ống sống, trượt cột sống, thoát vị cột sống là những bệnh lý bẩm sinh

hay mắc phải mà bệnh nhân có thể phát hiện trước đó một thời gian, có sự

chuẩn bị và chủ động thời gian đến bệnh viện để khám, phát hiện bệnh rồi

phẫu thuật. Bệnh nhân có nguyên nhân chấn thương như vỡ cột sống chiếm tỷ

lệ thấp hơn.

Vị trí bệnh lý thường gặp là ở cột sống thắt lưng từ L1 - L5, S1 (92.9%),

còn lại là bệnh lý ở cột sống ngực D10, D11, D12 (7.1%).

Nguyên nhân và vị trí phẫu thuật của hai nhóm khác nhau khơng có ý

nghĩa thống kê (p>0.05). Đặc điểm này cũng phù hợp với các tác giả khác về

phẫu thuật cột sống [35], [38]

4.1.5.2. Phương pháp vô cảm và thuốc dùng trong gây mê

Do phẫu thuật cột sống nằm sấp, thời gian mổ có thể kéo dài > 2 giờ,

trong mổ có thể mất máu nhiều nên tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu của

chúng tơi đều được gây mê nội khí quản với cùng một phác đồ. Với việc sử

dụng phương pháp gây mê NKQ thuận lợi cho phẫu thuật do đảm bảo hô hấp,

giãn cơ đầy đủ cũng như đáp ứng được thời gian mổ kéo dài. Tuy nhiên các

nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phương pháp gây mê NKQ cũng làm tăng tỷ lệ

NBNSM so với các phương pháp gây tê vùng [15][19][39].



53



Liều lượng các thuốc mê và giảm đau được trình bày ở bảng 3.5. Chúng

tôi thấy việc sử dụng thuốc gây mê ở 2 nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa

thống kê (p>0.05). Trong nhiều tài liệu nghiên cứu, các tác giả đều chứng

minh rằng việc sử dụng opioid và các dẫn xuất của nó có ảnh hưởng đến tỷ lệ

NBNSM [10][40][41]. Trong nghiên cứu này chúng tơi có kiểm soát chặt chẽ

việc sử dụng fentanyl trong mổ của bệnh nhân. Lượng thuốc giảm đau

fentanyl của nhóm H là (0,31 0,06) mg và nhóm D là (0,32 0,06) mg khác

nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Lượng thuốc ngủ và giãn cơ của

hai nhóm nghiên cứu cũng khơng có sự khác biệt (p>0.05). Cả hai nhóm đều

được duy trì mê trong mổ bằng thuốc mê bốc hơi sevofluran 2%, do vậy

lượng thuốc mê sử dụng trong mổ giữa hai nhóm là tương tự nhau. Kết quả

chúng tơi cũng tương tự nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thạch [38] về phẫu

thuật cột sống.

4.1.5.3.Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật được thể hiện ở bảng 3.6

Thời gian phẫu thuật trung bình là 114  43 phút, phẫu thuật ngắn nhất

trong 55 phút và dài nhất trong 210 phút. Thời gian phẫu thuật trung bình của

hai nhóm nghiên cứu khơng có sự khác biệt (p>0.05)

Theo hội gây mê hồi sức thế giới [13][21], thời gian phẫu thuật kéo dài

sẽ làm tăng nguy cơ NBNSM, theo đó thời gian phẫu thuật cứ kéo dài thêm 30

phút thì tỷ lệ NBNSM tăng thêm 60% nghĩa là tăng tỷ lệ NBNSM cơ bản từ 10%

lên 16%. Thời gian phãu thuật của chúng tôi tương tự thời gian phẫu thuật của

Nguyễn Ngọc Thạch về phẫu thuật cột sống 130 phút [38] nhưng dài hơn nghiên

cứu của Feng PH [18] trên bệnh nhân phẫu thuật túi mật nội soi là 80 25 phút

4.1.5.4. Lượng dịch và máu truyền trong mổ

Dịch truyền trong mổ trung bình của nhóm H là 1371 451 ml, của

nhóm D là 1234 335 ml. thấp nhất là 600ml, cao nhất là 2100ml. Số lượng

dịch truyền trung bình giữa hai nhóm nghiên cứu khơng có sự khác biệt

(p>0.05)



54



Theo một số nghiên cứu thì truyền nhiều dịch trong mổ sẽ làm giảm nguy

cơ buồn nôn, nôn ở giai đoạn 24 giờ đầu sau mổ [31]. Tuy nhiên truyền nhiều

dịch trong mổ lại gây ra những hệ lụy khác ảnh hưởng đến bệnh nhân, do đó tùy

từng bệnh nhân, bệnh lý cụ thể mà chúng ta truyền dịch cho phù hợp.

Máu: Theo nhiều nghiên cứu thì mất máu tùy mức độ sẽ có những ảnh

hưởng khác nhau trên bệnh nhân. Mất máu mức độ 1 (dưới15%) thể tích máu

thì cơ thể sẽ có những bù trừ và chưa cần phải truyền máu. Tuy nhiên nếu

bệnh nhân mất máu mức độ cao hơn - mức độ 2 (mất 15-30%) thì cân nhắc

việc truyền máu. Cơ thể sẽ có những biến đổi về huyết động như nhịp tim

nhanh, hạ huyết áp thì cần bù dịch tinh thể, dịch keo và xét truyền máu cho

bệnh nhân nếu dự doán khả năng tiếp tục mất máu. Khi mất máu trên 30% thể

tích máu cơ thể thì bắt buộc phải truyền máu cho bệnh nhân. Số lượng máu

mất căn cứ dựa vào số lượng máu được hút ra ở bình hút và thấm gạc. Nếu

chưa chắc chắn thì được làm xét nghiệm khí máu để định nhanh lượng huyết

sắc tố, hematocrit của bệnh nhân để có chỉ định truyền máu hợp lý. Truyền

máu với tỷ lệ 1 đơn vị hồng cầu khối đi kèm 1 đơn vị huyết tương tươi để

phòng tránh rối loạn đơng máu có thể gặp.

Trong nghiên cứu này tỷ lệ bệnh nhân phải truyền máu ở nhóm H là

28.5%, nhóm D là 22.8%. Sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu là khơng có

ý nghĩa thống kê (p>0.05). Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với những

nghiên cứu khác về phẫu thuật cột sống [35] [38]

4.1.6. Về lượng morphin sử dụng:

Lượng morphin cần sử dụng của hai nhóm sau mổ được thể hiện ở bảng

3.8, trong đó lượng morphin được chuẩn độ của nhóm H là 3.07  0.34 mg,

của nhóm D là 2.93  0.37mg. Sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu khơng

có ý nghĩa thống kê (p>0.05)



55



Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân được chuẩn độ morphin khi

đã thở tốt, mức độ an thần S 1, VAS ≥4. Mục tiêu đưa VAS về dưới 4.Chuẩn

độ: ban đầu tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân 2mg morphin, nếu VAS ≥ 4 tiếp

tục tiêm tĩnh mạch 1mg morphin và đánh giá lại bệnh nhân sau mỗi 5 phút

đến khi đạt được mục tiêu. Kết quả không có bệnh nhân nào cần chuẩn độ đến

10 mg morphin nên khơng có bệnh nhân nào bị loại khỏi nghiên cứu sau giai

đoạn chuẩn độ.

Lượng morphin sử dụng của bệnh nhân ngày thứ nhất của nhóm H là

28.5 12.6 mg, nhóm D là 26.2 10.6 mg. Tương tự, lượng morphin sử dụng

ngày thứ hai cuả nhóm H là 20.6 12.1 mg, của nhóm D là 18.3 12.4 mg .

lượng morphin sử dụng ngày thứ 3 của nhóm H là 14.6 14.3 mg, của nhóm

D là 15.5 12.5 mg. Khơng có sự khác biệt về lượng morphin sử dụng trong

từng ngày của hai nhóm nghiên cứu (p>0.05).Tổng lượng morphin sử dụng

trong 72 giờ của nhóm H là 63.7 21.3 mg cũng tương tự nhóm D là 60.8 

22.5 mg (p>0.05)

Như vậy, tổng lượng morphin dùng ở ngày đầu tiên sau mổ là cao nhất,

giảm dần ở ngày thứ 2 và thứ 3. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu

trước về giảm đau PCA do mức độ đau sau mổ giảm dần theo thời gian [36].

Theo một số nghiên cứu thì việc sử dụng dexamethasone trước mổ có thể làm

giảm mức tiêu thụ morphin sau mổ ở phẫu thuật cột sống như nghiên cứu của

Nielsen RV năm 2015 [42], việc sử dụng haloperidol phòng nơn khơng làm

giảm tiêu thụ morphin sau mổ như nghiên cứu của Neshahidi A [43] năm

2013. Kết quả nghiên cứu lượng morphin tiêu thụ sau mổ của hai nhóm khác

nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).

Việc sử dụng giảm đau PCA morphin sau mổ mang lại lợi ích giảm đau

tốt cho bệnh nhân. Trong nghiên cứu của chúng tơi, bệnh nhân ở cả hai nhóm

đều không phải cài đặt lại máy PCA do đau hoặc phải truyền thêm

paracetamol để giải cứu đau.



56



4.2. Hiệu quả dự phòng nơn và buồn nơn sau mổ của haloperidol so với

dexamethasone

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng haloperidol 1.5 mg tiêm bắp trước

khởi mê để dự phòng nơn và buồn nôn sau mổ cho bệnh nhân. Sở dĩ chúng tôi

chọn con số 1.5 mg haloperidol vì trên thế giới đã có những nghiên cứu về dự

phòng nơn cuả haloperidol ở những liều khác nhau. Cụ thể: có những nghiên

cứu sử dụng haloperidol liều 5mg, 2mg, 1 mg, 0.5 mg trong đó liều dưới 0.5

mg tỏ ra hiệu quả khơng cao hơn so với nhóm khơng được dự phòng [3],[44]

[45]. Nghiên cứu sử dụng liều 5 mg có hiệu quả dự phòng nơn và buồn nơn

sau mổ nhưng bệnh nhân sau mổ lại có mức an thần cao dù nghiên cứu đó

khơng sử dụng morphin sau mổ.

Nghiên cứu của Parlow JL sử dụng haloperidol đơn độc liều 1mg và 2

mg cho kết quả khả quan, khơng có sự khác biệt về hiệu quả dự phòng

NBNSM cũng như mức an thần giữa hai nhóm (p>0.05) [16] do đó chúng tơi

lựa chọn con số 1.5 mg là mức trung bình để đưa vào nghiên cứu.

Một thực tế khác nữa là haloperidol được sử dụng rất rộng rãi ở bệnh

nhân có triệu chứng kích động tâm thần ở dạng viên nén được sản xuất với

hàm lượng 1.5 mg. Nghiên cứu đa phân tích trên 400 bệnh nhân sử dụng liều

haloperidol 3 mg cho kết quả khơng có bệnh nhân nào mắc tác dụng phụ

ngoại tháp – một tác dụng phụ người ta lo ngại nhất khi sử dụng haloperidol

liều cao và kéo dài [28]. Như vậy việc sử dụng haloperidol liều 1.5 mg liều

duy nhất khi khởi mê được cho là an toàn cho bệnh nhân trong nghiên cứu.

Chúng tôi không sử dụng phương pháp nghiên cứu có đối chứng vì bệnh

nhân sử dụng PCA morphin là một trong những yếu tố nguy cơ cao làm tăng tỷ

lệ nôn và buồn nôn sau mổ. Nếu sử dụng một nhóm chứng khơng được dự

phòng sẽ vi phạm về y đức trong nghiên cứu. Do vậy chúng tôi sử dụng phương

pháp nghiên cứu tiến cứu lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh. Nhóm so sánh được



57



chọn là nhóm được dự phòng bằng dexamethasone – một thuốc kinh điển

thường được dùng trong dự phòng nơn đã dược chứng minh là có hiệu quả trong

dự phòng NBNSM trong nhiều nghiên cứu [15][41][46]. Dexamethasone chúng

tôi sử dụng liều 8 mg và được tiêm tĩnh mạch lúc khởi mê.

Theo nghiên cứu của Vũ Ngọc Hưng thì sử dụng dexamethasone tại thời

điểm trước gây mê tốt hơn thời điểm trước khi kết thúc phẫu thuật [15]. Theo

nghiên cứu của Yao L.Yang, việc sử dụng haloperidol trước gây mê so với khi

kết thúc phẫu thuật cho hiệu quả dự phòng nơn như nhau, nhưng tác dụng phụ về

an thần của nhóm sử dụng trước gây mê thấp hơn nhóm sử dụng trước khi kết

thúc phẫu thuật [17], do vậy chúng tôi chọn thời điểm dùng thuốc dự phòng của

cả hai nhóm là ngay trước khởi mê.

4.2.1. Tỷ lệ nôn và buồn nôn sau mổ

Phẫu thuật cột són là một trong những phẫu thuật có tỷ lệ NBNSM

chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ này có thể lên đến 50% trên bệnh nhân chỉ dùng thuốc

giảm đau thông thường nếu không được thuốc dự phòng nơn trước [48].

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy tổng tỷ lệ NBNSM nói chung

của hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê với p>0.05 (nhóm H là

34.3%, nhóm D là 31.4%). Tuy nhiên, tỷ lệ BN chỉ buồn nơn ở nhóm H là

14.2% cao hơn nhóm D là 2.8% có ý nghĩa thống kê (p<0.05 nhưng tỷ lệ BN

chỉ bị nơn ở nhóm H là 2.9% thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm D là 14.3%

(p<0.05).

Như vậy việc sử dụng haloperidol bệnh nhân có tỷ lệ bệnh nhân nơn sau

mổ thấp hơn nhưng tỷ lệ bệnh nhân buồn nôn sau mổ lại cao hơn nhóm sử

dụng dexamethasone. Kết quả của chúng tơi cũng phù hợp với các nghiên cứu

trước khi các tác giả đều cho rằng haloperidol là một thuốc chống nôn mạnh hơn là

chống buồn nôn như nghiên cứu củaYao L.Yang [17], còn dexamethasone lại có tác

dụng chống buồn nơn tốt hơn là chống nơn như nghiên cứu của Nguyễn Đình Long

[41], Trần Thị Ánh Hiền [46]



58



Các nghiên cứu về tác dụng dự phòng NBNSM cho thấy tác dụng chống

nơn và buồn nôn sau phẫu thuật là tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu

và tùy thuộc vào số lượng bệnh nhân nghiên cứu.

4.2.2. Tỷ lệ NBNSM theo một số YTNC

Trong nghiên cứu của chúng tơi tất cả bệnh nhân đều có từ 1YTNC trở

lên do tất cả bệnh nhân đều sử dụng morphin PCA sau mổ để giảm đau.

Khơng có bệnh nhân nữ nào hút thuốc lá do vậy nam giới sẽ có thang điểm 1

hoặc 2, nữ giới sẽ có thang điểm 3 hoặc 4 về số YTNC nôn, buồn nôn sau mổ

theo Apfel.

Theo Apfel [23], yếu tố nguy cơ càng cao thì tỷ lệ bệnh nhân NBNSM

càng lớn. Các yếu tố nguy cơ là: nữ giới, tiền sử say tàu xe hoặc tiền sử buồn

nôn, nôn sau phẫu thuật, không hút thuốc lá và dùng opioid sau phẫu thuật

[23],[24].

4.2.2.1. Tỷ lệ NBNSM theo giới tính

Tỷ lệ NBNSM theo giới tính thể hiện ở bảng 3.10.

Nữ giới là một trong những YTNC được xác định là làm gây tăng tỷ lệ

NBNSM so với nam giới [22][23][24]. Kết quả nghiên cứu nhóm sử dụng

haloperidol có tỷ lệ NBNSM của nữ là 52.6%; của nam là 12.5% . Nhóm sử

dụng dexamethasone có tỷ lệ NBNSM của nữ là 47.6%, của nam là 7.1%. Tỷ

lệ NBNSM của bệnh nhân nữ cao hơn của bệnh nhân nam ở cả hai nhóm có ý

nghĩa thống kê (p <0.05).

Ngun nhân nữ giới có nguy cơ nơn, buồn nơn sau mổ cao hơn nam

giới vẫn chưa còn được biết rõ nhưng có thể được giải thích là do ảnh hưởng

của hormon sinh dục nữ mà nhất là estrogen [10]. Tuy nhiên, tỷ lệ NBNSM

của từng giới ở hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).



59



4.2.2.2. Tỷ lệ NBNSM theo tiền sử say tàu xe/NBNSM của hai nhóm

Chứng say tàu xe thường xảy ra ở những người có cơ quan tiền đình q

mẫn cảm, kém thích ứng với sự thay đổi vị trí của cơ thể. Chính sự mẫn cảm,

kém thích ứng này là giả thuyết được chấp nhận nhất để giải thích về mối

quan hệ giữa tiền sử say tàu xe với triệu chứng nôn, buồn nôn sau mổ. Tỷ lệ

NBNSM theo tiền sử say tàu xe/NBNSM thể hiện ở bảng 3.11

Kết quả tỷ lệ NBNSM ở bệnh nhân có tiền sử say tàu xe hoặc NBNSM

ở nhóm H là 45% tương tự nhóm D là 35% (p>0.05). Tỷ lệ NBNSM ở bệnh

nhân không có tiền sử này ở nhóm H là 20%, ở nhóm D là 26.7% khác nhau

khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).

Ở từng nhóm nghiên cứu, bệnh nhân có tiền sử say tàu xe/NBNSM đều

có tỷ lệ NBNSM cao hơn ở bệnh nhân khơng có tiền sử này có ý nghĩa thống

kê với p<0.05. Theo Barbara J, Pleuvry [10], những bệnh nhân có tiền sử say

tàu xe hay lo lắng quá mức thì lượng serotonin, đặc biệt 5-HT 3 sẽ tăng lên và

dẫn truyền cảm giác nôn về trung ương, từ đó sẽ có phản hồi lại từ trung tâm

và có thể xảy ra hiện tượng nơn do trung tâm nơn điều hành. Điều này cho

thấy những bệnh nhân có tiền sử say tàu xe hoặc nôn, buồn nôn ở lần mổ

trước thì có thể cung phản xạ nơn của họ đã hình thành sẵn do vậy họ rất mẫn

cảm với những kích thích gây buồn nơn và nơn.

4.2.2.3. Tỷ lệ NBNSM theo yếu tố hút thuốc lá của hai nhóm

Hút thuốc lá, thuốc lào có hại cho sức khỏe con người, có thể gây nên

bệnh lý tim mạch, hơ hấp do thuốc lá có nhiều chất độc hại. Tuy nhiên khi

khảo sát mối tương quan giữa hút thuốc lá với tình trạng nơn, buồn nơn sau

phẫu thuật nhiều tác giả đã kết luận hút thuốc lá làm giảm nguy cơ nôn và

buồn nôn [22], [23].

Kết quả của chúng tôi trong số 11 bệnh nhân hút thuốc lá của hai nhóm

khơng có bệnh nhân nào NBNSM, trong khi tỷ lệ NBNSM ở những bệnh

nhân khơng hút thuốc lá của nhóm sử dụng haloperidol là 41.4%%, ở nhóm



60



sử dụng dexamethasone là 36.7%. Tỷ lệ NBNSM của bệnh nhân có hoặc

khơng có YTNC hút thuốc lá giữa hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa

thống kê (p>0.05).

Theo Apfel C. C. và cộng sự [23], thực hiện trên 520 bệnh nhân tại trung

tâm Olulu và 2202 bệnh nhân tại trung tâm Wuerzburg đã rút ra kết luận

những bệnh nhân không hút thuốc lá có nguy cơ cao gấp trên 2 lần so với

những bệnh nhân khơng hút thuốc lá có ý nghĩa thống kê với p< 0.001. Theo

Marsha MC và cộng sự [1], thì trong khói thuốc lá có chứa nicotin được xem

là thành phần chính có tác dụng chống nơn do chất này ức chế các thụ thể

serotonin 5-HT3, histamin H1, và cholinergic…của trung tâm nhận cảm hóa

học, do đó làm ức chế trung tâm nơn. Bên cạnh đó phải kể đến các thành phần

khác trong khói thuốc lá như khí carbon monoxide, antabine, anabosine và

polycyclic cũng là những chất có thể tham gia vào cơ chế chống nôn. Tuy

nhiên trong nghiên cứu này tồn bộ nữ giới khơng hút thuốc lá, chỉ có một

phần nam giới có hút thuốc lá nên tỷ lệ NBNSM ở những bệnh nhân không

hút thuốc lá chiếm cao hơn nhiều so với nhóm có hút thuốc lá (p<0.05)

4.2.3. Thời điểm trung bình xuất hiện NBNSM

Thời điểm trung bình xuất hiện NBNSM được thể hiện ở bảng 3.13,

trong đó thời gian trung bình xuất hiện NBNSM ở những bệnh nhân có nơn,

buồn nơn ở nhóm H là 5.8 7.1 giờ, nhóm D là 2.3 8.2 giờ. Như vậy, thời

điểm xuất hiện NBNSM của nhóm sử dụng haloperidol muộn hơn nhóm sử

dụng dexamethasone có ý nghĩa thống kê (p< 0.05). Thời gian bệnh nhân xuất

hiện NBNSM sớm nhất ở nhóm sử dụng halopeidol là 2.1 giờ, muộn nhất là

36.2 giờ sau mổ (ngày thứ 2 sau mổ). Ở nhóm sử dụng dexamethasone, thời

điểm bệnh nhân xuất hiện NBNSM sớm nhất là 0.5 giờ (30 phút sau mổ),

muộn nhất là 13.4 giờ sau mổ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mức độ an thần của nhóm H có xu hướng cao hơn nhóm D nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0.05)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×