Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+ Đau vùng xoa bóp

+ Đau vùng xoa bóp

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Chương 4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là

56,2 ± 9,87 tuổi, của nhóm chứng là 51,87 ± 15,18 tuổi, của cả hai nhóm là

54,03 ± 12,88 tuổi. Trong nghiên cứu có rất ít bệnh nhân trên 70 tuổi. Trong đó,

nhóm nghiên cứu có 02 bệnh nhân, nhóm chứng có 03 bệnh nhân, tổng là 05

bệnh nhân, chiếm 8,33% của cả hai nhóm.

Trong 60 bệnh nhân nghiên cứu, nhóm tuổi từ < 50 tuổi chiếm tỉ lệ cao

nhất, chiếm 36,67%. Tiếp theo là nhóm tuổi bệnh nhân từ 60 - 69 tuổi, chiếm

30% tổng số bệnh nhân.

Kết quả về tỷ lệ nhóm tuổi này phù hợp với kết quả nghiên

cứu của tác giả Đặng Trúc Quỳnh (2015) về tác dụng của bài

thuốc Cát căn thang trên bệnh nhân đau vai gáy do thoái hóa

cột sống cổ và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoài Linh (2016)

về tác dụng điều trị của bài thuốc Quyên tý thang kết hợp liệu

pháp cân kinh trên bệnh nhân đau vai gáy do thối hóa cột

sống cổ: tuổi từ 50 đến 60 chiếm 40% ở nhóm chứng và 56,67%

ở nhóm nghiên cứu, 48,7% ở cả hai nhóm. Tỷ lệ bệnh nhân từ

60 – 69 tuổi, chiếm 43,3% nhóm nghiên cứu và 46,67% ở nhóm

chứng, 44,98% của cả hai nhóm. Bệnh nhân từ 60 - 69 tuổi

chiếm tỉ lệ cao nhất [29].

Kết quả này có tỷ lệ bệnh nhân nhóm tuổi từ 60 – 69 tuổi cao hơn nghiên

cứu của Trương Văn Lợi (tỷ lệ bệnh nhân từ 60 - 69 tuổi chiếm 22,2%) [23], của

Phương Việt Nga (10,7%) [25], của Nguyễn Thị Phương Lan (10%) [20].

Kết quả này có tỉ lệ bệnh nhân dưới 50 tuổi cao hơn so với các nghiên cứu

trên.



54



Đau vùng cổ gáy là bệnh lý rất hay gặp trên lâm sàng và tăng dần theo tuổi

[2], [19]. Nội kinh nói rằng: “Con gái 7 tuổi Thận khí thịnh, răng thay, tóc dài;

tuổi mười bốn (nhị thất – 2 x 7) thì Thiên quý đến, Nhậm mạch thơng, Xung

mạch thịnh, Nguyệt sự theo đúng thì chảy xuống, cho nên có thể sinh con; tuổi

hai mươi mốt (tam thất – 3 x 7) Thận khí sung mãn, cho nên răng thực mọc lên

và dài hẳn; tuổi hai mươi tám (tứ thất – 4 x 7) thì gân và xương cứng chắc, tóc

dài nhất, thân thể thịnh tráng; tuổi ba mươi lăm (ngũ thất – 5 x 7) mạch Dương

minh bị suy, mặt bắt đầu nhăn, tóc bắt đầu rụng; tuổi bốn mươi hai (lục thất – 6

x 7) mạch Tam dương bị suy ở trên, mặt bắt đầu nhăn, tóc bắt đầu trắng; tuổi

bốn mươi chín (thất thất – 7 x 7) Nhâm mạch bị hư, mạch Thái xung suy thiếu,

Thiên quý kiệt, mạch đạo ở hạ bộ khơng còn thơng, cho nên hình thể bị hoại và

khơng còn sinh con nữa. Trượng phu (con trai) 8 tuổi thì Thận khí thực, tóc dài,

răng thay; tuổi mười sáu (nhị bát – 2 x 8) Thận khí thịnh, Thiên q đến, tinh

khí (có thể) chảy tràn ra, Âm Dương được hòa, cho nên có thể có con; tuổi hai

mươi bốn (tam bát – 3 x 8) Thận khí được sung mãn, gân xương thẳng cứng, cho

nên răng thực mọc lên và dài hẳn; tuổi ba mươi hai (tứ bát – 4 x 8) gân xương đã

to và thịnh, cơ nhục được đầy đủ và khỏe mạnh; tuổi bốn mươi (ngũ bát – 5 x 8)

Thận khí suy, tóc rụng, răng bị khơ; tuổi lục bát Dương khí suy kiệt ở trên, mặt

nhăn, tóc bạc hoa râm; tuổi năm mươi sáu (thất bát) Can khí suy, cân khơng còn

có thể động; tuổi sáu mươi tư (bát bát – 8 x 8) thiên quý kiệt, tinh khí ít đi, Thận

tạng bị suy, hình thể đều bị suy cực, do đó mà tóc và răng bị rụng. Thận chủ

thủy, nhận tinh khí của ngũ tạng lục phủ để tạng chứa, cho nên nếu ngũ tạng

thịnh thì có thể cho chảy ra; nay nếu ngũ tạng đều suy, cân cốt bị yếu, khơng còn

sức, Thiên q tận, do đó tóc và tóc mai bị trắng, thân thể nặng nề, bước đi

khơng vững, và sẽ khơng có con” [33]. Như vậy tuổi thất thất ở nữ và bát bát ở

nam, Thận khí suy, cốt tủy bị yếu dẫn tới hay đau mỏi. Một số nghiên cứu cho

thấy tỉ lệ bệnh nhân đau vùng cổ gáy xuất hiện nhiều từ 50 tuổi trở lên, do độ

tuổi này các cấu trúc đã bắt đầu lão hóa mà vẫn trong độ tuổi lao động chưa



55



được nghỉ ngơi hoặc do cỡ mẫu nhỏ, chưa đủ phản ánh đúng tỉ lệ bệnh trong

quần thể.

4.1.2. Giới

Nghiên cứu của chúng tơi có 13,33% bệnh nhân là nam giới, 86,67% bệnh

nhân là nữ giới, khác biệt về giới có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Kết quả này ta thấy tỉ lệ nữ giới bị đau vùng cổ gáy chiếm đa số, lớn hơn so

với nghiên cứu về đau vai gáy do thối hóa cột sống cổ của Đặng Trúc Quỳnh

(nam 33,3%, nữ 66,7%) [29], nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoài Linh (2016)

về tác dụng điều trị của bài thuốc Quyên tý thang kết hợp liệu pháp cân kinh trên

bệnh nhân đau vai gáy do thối hóa cột sống cổ (nam 26,7%, nữ 73,3%) [21],

hội chứng co cứng cơ vùng cổ gáy của Trương Văn Lợi (nữ 72,2%, nam 27,8%)

[23].

Theo YHCT, nữ ứng với số 7, 7x7 bằng 49, người nam ứng với số 8, 8x8

bằng 64. Đến 49 tuổi ở nữ và 64 tuổi ở nam, thiên quý kiệt. Thận hư không

dưỡng được cốt tủy gây đau mỏi xương khớp, can huyết hư không dưỡng được

cân gây co cứng cơ, chính khí suy giảm, tà khí xâm phạm gây chứng tý. Tuổi

thiên quý kiệt ở phụ nữ sớm hơn, phần nào giải thích cho tỉ lệ bệnh nhân nữ mắc

lạc chẩm thống cao hơn so với nam giới.

Trong YHHĐ sau 50 tuổi, phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh, các hormon

sinh dục nữ giảm sút gây tăng nguy cơ mắc bệnh cơ xương khớp. Vì vậy, nữ giới

mắc thối hóa cột sống cổ nói chung và đau vùng cổ gáy nói riêng nhiều hơn và

sớm hơn so với nam giới.

4.1.3. Nghề nghiệp

Trong nghiên cứu, bệnh nhân thuộc nhóm lao động trí óc như kế tốn, cơng

nghệ thơng tin, nhân viên văn phòng… chiếm 38,33;%; số bệnh nhân làm các

công việc lao động chân tay như nông dân, công nhân… chiếm 3,33% ; bệnh

nhân làm công việc khác chiếm 58,33 số bệnh nhân hai nhóm. Sự khác biệt này

phù hợp với nghiên cứu của Hồ Đăng Khoa (55%) [15].



56



Đau vùng cổ gáy là bệnh lý rất hay gặp trên lâm sàng và có thể gặp ở mọi

đối tượng nghề nghiệp. Trong đó nhóm nghề nghiệp hành chính văn phòng chủ

yếu làm việc trong một tư thế gò bó, ít vận động nên một số nhóm cơ phải làm

việc quá sức, cơ có thể bị co cứng gây đau mỏi, hạn chế động tác mà cơ đó chi

phối. Bên cạnh đó, đầu và cổ thương xuyên ở trạnh thái không sinh lý kéo dài

nên làm tăng nguy cơ bị thối hóa cột sống cổ ở nhóm lao động này. Hồ Hữu

Lương [24] cho rằng tư thế lao động với động tác đơn điệu lặp đi lặp lại của đầu

là một trong những nguyên nhân gây tăng tỷ lệ thối hóa cột sống cổ. Tuy nhiên,

nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại thành phố, cỡ mẫu nhỏ, có thể ảnh

hưởng tới yếu tố nghề nghiệp của bệnh nhân trong nghiên cứu.

4.1.4. Đặc điểm hình ảnh tổn thương trên phim X - quang

Trong nghiên cứu, tỉ lệ bệnh nhân có hình ảnh gai xương đốt sống chiếm

45%, hẹp khe khớp chiếm 26,67% bệnh nhân cả nhóm chứng và nhóm nghiên

cứu. Tỷ lệ này phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân là đau vùng cổ gáy

giai đoạn cấp.

41,67% bệnh nhân trong nghiên cứu có hình ảnh hẹp lỗ tiếp hợp trên phim

X– quang. Theo Đặng Trúc Quỳnh thì tỉ lệ này là 50% [29].

Hình ảnh mất đường cong sinh lý trên phim X – quang chiếm 21,67%. Tỉ lệ

này phù hợp kết quả nghiên cứu của Đặng Trúc Quỳnh (36,7%) và Nguyễn Hoài

Linh (33%) [21], [29].

Đau vùng cổ gáy phụ thuộc vào yếu tố cơ học và tâm lý. Tổn thương trên

phim X – quang thường không tương xứng với mức độ đau trên lâm sàng. Theo

Trần Ngọc Ân [1], những dấu hiệu X quang khơng có ý nghĩa về mặt bệnh học

vì phần lớn khơng có biểu hiện lâm sàng hoặc rất lâu mới xuất hiện triệu chứng

lấm sàng. Do không thể chỉ dựa đơn thuần vào dấu hiệu X quang đơn thuần để

chẩn đoán đau vùng cổ gáy.

4.2. Kết quả điều trị

4.2.1. Kết quả giảm đau sau điều trị



57



Bảng 3.2 cho thấy tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, điểm đau VAS trung

bình nhóm nghiên cứu là 5,37 ± 0,96; nhóm chứng là 5,33 ± 0,99, cả hai nhóm

là 5,35 ± 0,97. Bệnh nhân đau rất nặng (6 < VAS ≤ 8 điểm) chiếm 11,67%, bệnh

nhân đau nặng chiếm 68,3%, bệnh nhân đau vừa chiếm 18,3%. Khơng có sự

khác biệt về mức độ đau giữa hai nhóm tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu (p >

0,05)

Mức độ đau của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi tương đương

kết quả của Nguyễn Hồi Linh là 5,35 ± 1,13 [21]; nhẹ hơn so với kết quả

nghiên cứu của Đặng Trúc Quỳnh là 5,93 ± 1,41 [29], Trương Văn Lợi là 6,81 ±

1,21 [23], Nguyễn Tuyết Trang là 6,06 ± 1,24 điểm [34]. Sự khác biệt này có lẽ

do khác biệt về thời gian, địa điểm lấy bệnh nhân; cỡ mẫu của các nghiên cứu

đều nhỏ nên không thể hiện hết mức độ bệnh trong cộng đồng.

Bảng 3.9 sau 03 ngày điều trị, mức độ đau của nhóm nghiên cứu giảm

nhanh hơn nhóm chứng. Cụ thể, trung bình điểm VAS của nhóm nghiên cứu là

3,63 ± 0,72 điểm VAS giảm 32,4%, nhóm chứng là 4,53 ± 1,07 điểm VAS giảm

15% so với thời điểm trước điều trị (D 0). Khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <

0,05. Theo biểu đồ 3.3 điểm VAS sau 03 ngày điều trị của nhóm nghiên cứu

giảm sâu hơn nhóm chứng, cụ thể là thấp hơn 19,87%. Vì vị thuốc trong bài

thuốc Vai gáy HV có tác dụng là tán hàn, trừ thấp nên yếu tố gây bệnh hàn, thấp

bị loại bỏ. Từ đó tác dụng giảm đau nhanh hơn nhóm đối chứng khơng dùng

thuốc.

Bảng 3.10 sau 07 ngày điều trị, trung bình điểm VAS của nhóm nghiên cứu

là 2,87 ± 0,86 điểm VAS giảm 46,5%, nhóm chứng là 3,8 ± 0,76 điểm VAS giảm

28,7% so với thời điểm trước điều trị (D0). Khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <

0,05.

Bảng 3.11 sau 15 ngày điều trị, trung bình điểm VAS của nhóm nghiên cứu

là 1,73 ± 1,23 điểm VAS giảm 67,78%, nhóm chứng là 2,37 ± 0,89 điểm VAS



58



giảm 55,5% so với thời điểm trước điều trị (D 0). Khác biệt có ý nghĩa thống kê

với p < 0,05.

Bảng 3.12 cho thấy số vị trí đau của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đều

có xu hướng giảm tại thời điểm D3. Cụ thể, tại nhóm nghiên cứu số bệnh nhân

đau vùng chẩm giảm 30%, số bệnh nhân đau vùng vai giảm 33,34%, số bệnh

nhân đau cổ gáy giảm 40% so với thời điểm D 0. Nhóm chứng số bệnh nhân đau

vùng chẩm giảm 20%, số bệnh nhân đau vùng vai giảm 20%, số bệnh nhân đau

cổ gáy giảm 23,34% so với thời điểm D0. Tuy nhiên, sự khác biệt về số điểm đau

của hai nhóm chưa có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.13 sau 07 ngày điều trị số vị trí đau của hai nhóm đều giảm và có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p < 0,05). Cụ thể, nhóm nghiên

cứu số bệnh nhân đau vùng chẩm giảm 63,33%, bệnh nhân đau vai giảm 70%,

bệnh nhân đau cổ gáy giảm 76,67% so với thời điểm D 0. Nhóm chứng số bệnh

nhân đau vùng chẩm giảm 43,34%, bệnh nhân đau vai giảm 53,33%, bệnh nhân

đau cổ gáy giảm 56,67% so với thời điểm D0. Và số vị trí đau trung bình của

nhóm nghiên cứu (0,83 ± 0,79) thấp hơn 49,3% số vị trí đau trung bình của

nhóm chứng.

Bảng 3.14 cho thấy sau 15 ngày điều trị số vị trí đau của hai nhóm đều

giảm và có sự khác biệt rõ rệt hai nhóm (p < 0,05). Nhóm nghiên cứu số bệnh

nhân đau vùng chẩm giảm 70%, bệnh nhân đau vai giảm 86,67%, bệnh nhân đau

cổ gáy giảm 86,67% so với thời điểm D 0. Nhóm chứng số bệnh nhân đau vùng

chẩm giảm 64,34%, bệnh nhân đau vai giảm 80%, bệnh nhân đau cổ gáy giảm

76,67% so với thời điểm D0. Và số vị trí đau trung bình của nhóm nghiên cứu

(0,33 ± 0,79) thấp hơn 58,75% số vị trí đau trung bình của nhóm chứng.

Theo y học cổ truyền, cuốn Nội kinh có viết: “Thơng tắc bất thống, thống

tắc bất thơng. Khí huyết vận hành bình thường trong kinh lạc thì khơng đau. Khí

huyết tắc nghẽn, ứ trệ thì gây đau”. Bệnh Lạc chẩm thống (cảnh chùy thống) thể

phong hàn thấp do tác nhân phong tà, hàn tà, thấp tà cùng xâm nhập mà gây nên.



59



Phong tà hay chạy, hay biến đổi nên đau nhức chạy chỗ này qua chỗ khác. Hàn

tà gây khí huyết ngưng trệ, mạch khơng thơng khiến đau dữ dội. Thấp tà ứ đọng

khiến thân thể nặng nề, tê dại. Nên để điều trị Lạc chẩm thống thể phong hàn

thấp cần phải dùng pháp khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc, chỉ

thống. Và bài thuốc Vai gáy HV phù hợp với pháp điều trị trên do có các vị

thuốc như: Khương hoạt (Rhizoma et Radix Notopterygii) có tính vị tân, khổ,

ơn, quy kinh Bàng quang, Can, Thận. Công năng chủ trị: Tán phong hàn, trừ

phong thấp, chỉ thống. Chủ trị: phong chạy khắp người, mình chân tay các khớp

nặng nề, thiên về đau nửa trên; Độc hoạt (Radix Angelicae pubescentis) có tính

vị tân, khổ, vi, ôn quy kinh Thận, Can, Bàng quang. Công năng: Khu phong, trừ

thấp, thông tý, chỉ thống. Chủ trị: Phong hàn thấp tý, đầu thống. Phòng phong

(Radix Saposhnikoviae divaricatae) có tính vị tân, cam, ơn, quy kinh Can, Phế,

Vị, Bàng quang. Công năng chủ trị: giải biểu, trừ phong hàn, trừ phong thấp, trừ

co thắt. Chủ trị đau đầu do hàn, mày đay, phong thấp tê đau. Uy linh tiên (Radix

et rhizome Clematidis) có tính vị tân, hàm, ơn, quy kinh Bàng quang. Công năng

chủ trị: Khu phong, trừ thấp thông lạc, chỉ thống. Chủ trị phong tê thấp các khớp

chi, gân mạch co rút khó cử động. Xuyên khung (Rhizoma Ligustici wallichii)

có tính vị tân, ơn, quy kinh Can, Đởm, Tâm bào. Cơng năng chủ trị: Hành khí,

hoạt huyết, trừ phong, chỉ thống. Chủ trị: phong thấp nhức mỏi, đầu đau, điều

kinh, cảm mạo phong hàn.

Vì vậy, bệnh nhân sử dụng bài thuốc Vai gáy HV sẽ cải thiện nhanh chóng

triệu chứng đau do phong hàn thấp gây ra, giúp đạt hiệu quả tốt hơn nhóm

chứng khơng sử dụng bài thuốc. Và kết quả này đã được thể hiện rất rõ ở các

bảng phân tích trên.

4.2.2. Hiệu quả giảm hội chứng rễ

Bảng 3.5 cho thấy thời điểm trước điều trị 30% bệnh nhân nhóm nghiên

cứu và 33,33% bệnh nhân nhóm chứng có triệu chứng của hội chứng rễ. Sau

điều trị 15 ngày, theo Bảng 3.17 tỉ lệ bệnh nhân có hội chứng rễ ở nhóm chứng



60



và nhóm nghiên cứu lần lượt là 10% và 20%. Khơng có sự khác biệt về tỉ lệ

bệnh nhân có hội chứng rễ trước và sau điều trị giữa hai nhóm.

Kết quả này phù hợp với tiến triển tự nhiên của hội chứng rễ trên bệnh

nhân đau vùng cổ gáy. Thành phần bài thuốc Vai gáy HV có vị thuốc Uy linh

tiên và Phòng phong có tác dụng thơng kinh lạc chỉ thống mạnh. Vị thuốc Uy

linh tiên (Radix et rhizome Clematidis) theo Bản thảo cương mục nói có tác

dụng thơng kinh lạc chỉ tý thống mãnh liệt (Uy) như thuốc thần tiên với tính vị

tân, hàm, ơn, quy kinh Bàng quang. Cơng năng chủ trị: Khu phong, trừ thấp

thông lạc, chỉ thống, chân tay tê bại. Vị thuốc Phòng phong (Radix

Saposhnikoviae divaricatae) có tính vị tân, cam, ơn, quy kinh Can, Phế, Vị,

Bàng quang. Công năng chủ trị: giải biểu, trừ phong toàn thân, trừ phong thấp,

trừ co thắt [12].

4.2.3. Hiệu quả cải thiện tầm vận động cột sống cổ

Bảng 3.4 cho thấy trước điều trị tầm vận động cột sống cổ của hai nhóm là

tương đương nhau với p > 0,05.

Bảng 3.20 sau 15 ngày điều trị tầm vận động cúi, ngửa, nghiêng, xoay của

nhóm chứng và nhóm nghiên cứu đều cải thiện hơn so với trước điều trị (p <

0,05). Sự khác biệt tầm vận động khớp của hai nhóm sau 15 ngày điều trị có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05), cụ thể tầm vận động của nhóm nghiên cứu lần lượt là

cúi 42,83 ± 4,51 tăng 31,5%, ngửa 58,06 ± 4,7 tăng 22,4%, nghiêng trái 38,16 ±

4,81 tăng 33,1%, nghiêng phải 40,83 ± 5,49 tăng 47,2%, quay trái 59,96 ± 5,26

tăng 29,2%, quay phải 58,33 ± 4,99 tăng 22,7% tốt hơn nhóm chứng lần lượt là

cúi 40,03 ± 3,09 tăng 21,4%, ngửa 55,7 ± 3,38 tăng 16,9%, nghiêng trái 35,23 ±

2,45 tăng 22,2%, nghiêng phải 37,5 ± 4,49 tăng 34,8%, quay trái 57,43 ± 3,4

tăng 22,2%, quay phải 55,8 ± 3,79 tăng 16,8% với p < 0,05. Kết quả này phù

hợp với nghiên cứu của Nguyễn Hoài Linh và Đặng Trúc Quỳnh [21], [29].

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn

đoán là Lạc chẩm thống (cảnh chùy thống) thể phong hàn thấp. Với tác nhân gây



61



bệnh là phong, hàn, thấp đặc biệt là hàn tà xâm nhập da thịt gân xương gây

ngưng kết, vận động động khó khăn. Bài thuốc Vai gáy HV với các vị thuốc

Khương hoạt, Phòng phong, Uy linh tiên vị cay tính ấm có tác dụng tán hàn, thư

cân, giải cơ, thơng lạc từ đó cải thiện tầm vận động cột sống cổ tốt hơn nhóm

chứng.

4.2.4. Tác dụng giảm hạn chế sinh hoạt hàng ngày

Bảng 3.6 cho thấy trước điều trị, điểm NDI trung bình của nhóm nghiên

cứu là 20,23 ± 7,19 điểm, của nhóm chứng 19,5 ± 7,2 điểm, khơng có sự khác

biệt giữa hai nhóm p > 0,05.

Bảng 3.21 sau 03 ngày điều trị, mức độ hạn chế sinh hoạt của nhóm nghiên

cứu và nhóm chứng đều giảm. Cụ thể, nhóm nghiên cứu điểm NDI (14,43 ±

4,65) giảm 28,67%, nhóm chứng điểm NDI (14,2 ± 5,19) giảm 27,1% so với

thời điểm trước điều trị (D0). Tuy vậy, sự khác biệt mức độ giảm hạn chế sinh

hoạt sau 03 ngày điều trị của hai nhóm khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.22 sau 07 ngày điều trị, nhóm nghiên cứu điểm NDI (7,1 ± 1,77)

giảm 64,9%, nhóm chứng điểm NDI (10,53 ± 2,57) giảm 46% so với thời điểm

trước điều trị (D0). Sự khác biệt mức độ giảm hạn chế sinh hoạt sau 07 ngày điều

trị của hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.24 sau 15 ngày điều trị, nhóm nghiên cứu điểm NDI (5,53 ± 1,31)

giảm 72,66%, nhóm chứng điểm NDI (7,57 ± 2,06) giảm 61,17% so với thời

điểm trước điều trị (D0). Sự khác biệt mức độ giảm hạn chế sinh hoạt sau 15

ngày điều trị của hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bài thuốc Vai gáy HV với 07 vị thuốc YHCT điều trị tận gốc nguyên nhân

gây ra bệnh là phong tà, hàn tà, thấp tà. Trong đó, Khương hoạt, Độc hoạt khu

phong thấp, lợi quan tiết. Phòng phong khu phong, giải biểu, trừ thấp. Uy linh

tiên hành khí, trừ phong, thông lạc, chỉ thống. Xuyên khung, Mạn kinh tử khu

phong để thanh lợi đầu mắt. Cam thảo hòa trung. Sau 07 ngày điều trị bài thuốc



62



đã cho thấy hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng cuốc sống của người bệnh

thông qua thang điểm NDI.

4.3. Tác dụng không mong muốn

4.3.1. Trên lâm sàng

Các tác dụng không mong muốn của bài thuốc Vai gáy HV và thủ thuật xoa

bóp bấm huyệt vùng cổ gáy khơng xuất hiện trong q trình nghiên cứu. Điều

này phù hợp với y văn ghi nhận và kết quả sử dụng bài thuốc Vai gáy HV cho

bệnh nhân đau vùng cổ gáy ở khoa Cơ xương khớp – Bệnh viện Tuệ Tĩnh nhiều

năm nay.

4.3.2. Tác dụng khơng mong muốn trên cận lâm sàng

Nhóm nghiên cứu theo dõi các chỉ số ure, creatinin, AST, ALT để đánh giá

sự thay đổi chức năng gan thận. Sau điều trị, các chỉ số trên đều trong giới hạn

bình thường. Chúng tôi không phát hiện trường hợp bệnh nhân thay đổi chức

năng gan hoặc suy thận trong thời gian điều trị (p > 0,05).

Bài thuốc Vai gáy HV có nguồn gốc từ bài thuốc cổ phương gia giảm được

ghi trong “Nội ngoại thương biện hoặc luận” – Trương Trọng Cảnh. Bài thuốc

được sử dụng qua nhiều năm tại khoa Cơ xương khớp – Bệnh viên Tuệ Tĩnh,

đến nay chưa ghi nhận được tác dụng phụ.



63



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 60 bệnh nhân đau vùng cổ gáy điều trị nền bằng xoa bóp

bấm huyệt vùng cổ gáy, 30 bệnh nhân nhóm nghiên cứu kết hợp thêm uống

thuốc Vai gáy HV, chúng tôi đưa ra các kết luận sau:

1. Bài thuốc Vai gáy HV có tác dụng thúc đẩy nhanh hơn q trình cải thiện

triệu chứng của bệnh nhân đau vùng cổ gáy.

- Tác dụng giảm đau: giảm 27% điểm VAS so với nhóm chứng. Sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 tại thời điểm D3 và kéo dài tới thời điểm

D15.

- Tác dụng cải thiện tầm vận động cột sống cổ: cải thiện 8,88% tầm vận

động cột sống cổ so với nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <

0,05 tại thời điểm D3 và kéo dài tới thời điểm D15.

- Tác dụng tăng khả năng sinh hoạt hàng ngày: giảm 32,57% điểm NDI so

với nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 tại thời điểm D7

và kéo dài tới thời điểm D15.

2. Không ghi nhận bất kỳ tác dụng không mong muốn nào khi sử dụng kết

hợp uống thuốc Vai gáy HV và xoa bóp bấm huyệt trong 15 ngày điều trị.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+ Đau vùng xoa bóp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×